Chương 1, tác giả đã trình bày các nội dụng bao gồm: lý do của việc lựa chọn đề tài nghiên cứu, cũng như mục tiêu mà nghiên cứu này sẽ hướng đến, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu mà tác giả sẽ sử dụng. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu này cũng đã được trình bày. Bố cục của bài nghiên cứu được thiết kế năm chương của một nghiên cứu định tính kết hợp định lượng. 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Khái quát về sự hài lòng về công việc của người lao động 2.1 Khái niệm về người lao động 2.1 Khái niệm người lao động Theo Bộ luật Lao động 2019 có hiệu lực từ ngày 01/01/2021, quy định về người lao động như sau: “Người lao động là người làm việc cho người sử dụng lao động theo thỏa thuận, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành, giám sát của người sử dụng lao động”.
Độ tuổi lao động tối thiểu của người lao động là đủ 15 tuổi, trừ trường hợp quy định tại Mục 1 Chương XI của Bộ luật này. Theo quy định mới này thì yếu tố “hợp đồng lao động” không còn trong định nghĩa người lao động nữa. Như vậy, chỉ cần một người có 03 yếu tố sau đây sẽ được bảo đảm các quyền và lợi ích của mình theo các quy định của Bộ luật lao động 2019 mà không phụ thuộc vào tên gọi của loại hợp đồng được ký kết: + Thuộc độ tuổi lao động quy định là 15 tuổi trở lên. + Làm việc cho người sử dụng lao động theo thỏa thuận.
+ Được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành, giám sát của người sử dụng lao động.2 Khái niệm về việc làm Xét về mặt xã hội, mọi người có sức lao động đều có quyền có việc làm. Đó là một trong những quyền cơ bản nhất của con người đã được khẳng định trong hiến pháp của nước CHXHCN Việt Nam. Ngày nay trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần thì quan niệm về việc làm có sự thay đổi về căn bản. Theo tổ chức lao động quốc tế (ILO) đưa ra khái niệm việc làm: Việc làm là những hoạt động lao động được trả công bằng tiền hoặc hiện vật.
Còn theo điều 33 của Bộ luật lao động Việt Nam: Khái niệm việc làm là những hoạt động có ích không bị pháp luật ngăn cấm và đem lại thu nhập cho người lao động. Việc làm là nhu cầu, quyền lợi nhưng đồng thời cũng là nghĩa vụ và trách nhiệm đối với mọi người. Theo đại hội Đảng lần thứ VII: “Mọi việc mang lại thu nhập cho người lao động có ích cho xã hội đều được tôn trọng”. Theo khái niệm này việc làm được thể hiện dưới các dạng sau: 7 + Làm những công việc mà người lao động khi thực hiện nhận được tiền lương, tiền công bằng tiền mặt hoặc bằng hiện vật cho công việc đó.
+ Làm những công việc khi người lao động thực hiện thu lợi nhuận cho bản thân (người lao động có quyền sử dụng quản lý hoặc sở hữu tư liệu sản xuất và sức lao động cho bản thân để sản xuất sản phẩm). + Làm những công việc cho hộ gia đình nhưng không được trả thù lao dưới hình thức tiền công, tiền lương cho công việc đó (do chủ gia đình làm chủ sản xuất).2 Hài lòng về công việc Có rất nhiều nghiên cứu đo lường về sự hài lòng và các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của người lao động đối với công việc mà họ đang làm việc. Sự hài lòng này được định nghĩa và đo lường theo hai khía cạnh: Hài lòng chung đối với công việc và hài lòng theo các yếu tố thành phần của công việc.1 Hài lòng chung về công việc Xuất phát từ các góc nhìn khác nhau, các học giả đưa ra các khái niệm không giống nhau về sự hài lòng của người lao động. Theo Kusku (2003), bản chất của sự hài lòng phản ánh nhu cầu và mong muốn cá nhân được đáp ứng và mức độ cảm nhận của các người lao động về công việc của họ.
Định nghĩa này xuất phát từ thuyết nhu cầu của Maslow (1943), cho rằng người lao động hài lòng khi đáp ứng các nhu cầu từ thấp đến cao. Theo nghiên cứu củaWright và Kim (2004) cho rằng, sự hài của người lao động là sự phù hợp giữa những gì người lao động mong muốn từ công việc và những gì họ cảm nhận được từ công việc. Một số nhà nghiên cứu khác cho rằng, sự hài lòng là trạng thái cảm xúc tích cực của người lao động đối với công việc thể hiện qua hành vi, niềm tin của họ (Weiss et al. Theo Smith và cộng sự (1969), sự hài lòng là trạng thái tình cảm của người lao động đối với các khía cạnh công việc khác nhau.
Theo đó, mức độ hài lòng với các khía cạnh công việc (bao gồm: công việc, cơ hội thăng tiến, lãnh đạo, đồng nghiệp, tiền lương/ thu nhập) ảnh hưởng đến thái độ và nhận thức của người lao động. Locke (1976) định nghĩa rằng sự hài lòng của người lao động là trạng thái cảm xúc tích cực từ sự đánh giá công việc hoặc trải nghiệm công việc của người lao động. Rice và cộng sự (1989) cho rằng sự hài lòng có được từ một quá trình so sánh 8 tâm lý liên quan đến việc đánh giá bản thân công việc hiện tại với các tiêu chuẩn kỳ vọng có sẵn. Tương tự, Levy-Garboua và Montmarquette (2004) cho rằng sự hài lòng của người lao động là trạng thái tâm lý thể hiện sự yêu thích công việc hiện tại khi so sánh với các cơ hội bên ngoài với những điều kiện về thông tin sẵn có nhất định.
Theo Spector (1997) sự hài lòng công việc đơn giản là việc người ta cảm thấy thích công việc của họ và các khía cạnh công việc của họ như thế nào. Vì nó là sự đánh giá chung nên nó là một biến về thái độ. Theo Ellickson và Logsdon (2001) thì cho rằng sự hài lòng công việc được định nghĩa chung là mức độ người người lao động yêu thích công việc của họ, đó là thái độ dựa trên sự nhận thức của người người lao động (tích cực hay tiêu cực) về công việc hoặc môi trường làm việc của họ. Nói đơn giản hơn, môi trường làm việc càng đáp ứng được các nhu cầu, giá trị và tính cách của người lao động thì độ hài lòng công việc càng cao.
Theo Kreitner và Kinicki (2007), sự hài lòng công việc chủ yếu phản ánh mức độ một cá nhân yêu thích công việc của mình. Đó chính là tình cảm hay cảm xúc của người người lao động đó đối với công việc của mình. Theo Vroom (1964) sự hài lòng về công việc là trạng thái mà người lao động có định hướng hiệu quả rõ ràng đối với công việc trong tổ chức. Nói cách khác, sự hài lòng của người lao động là sự thể hiện ý kiến của họ về cảm xúc nói chung và các hình thức suy nghĩ cá nhân về công việc và nơi làm việc của họ.
Hay sự hài lòng trong công việc là một trạng thái cảm xúc tích cực ảnh hưởng bởi kinh nghiệm và kết quả làm việc của người lao động. Kết quả là, sự hài lòng của người lao động là các mức độ mà theo đó các nhu cầu của người lao động đó được thỏa mãn trong công việc. Sự hài lòng dù có nhiều khái niệm khác nhau nhưng khái niệm về sự hài lòng trong công việc luôn gắn liền với những yếu tố như: Tình cảm, cảm giác về tâm lý sau khi nhu cầu của người lao động được thỏa mãn, thái độ đối với nhà quản lý; mong đợi của người lao động về khả năng quản lý từ phía Ban lãnh đạo; kết quả thực hiện và các giá trị do đơn vị mang lại. Nhìn từ tổng thể các khái niệm trên, chúng ta có thể nhận thấy khái niệm sự hài lòng trong công việc là của người lao 9 động thỏa mãn với công việc của mình phát huy tối đa năng lực của mình đối với tổ chức, song song đó là sự thể hiện về mặt cảm xúc và thái độ của người lao động về các khía cạnh khác nhau trong công việc.
Môi trường làm việc đáp ứng được nhu cầu, giá trị và tính cách của của người lao động thì sự hài lòng trong công việc càng cao, song song đó sự hài lòng trong công việc giúp các nhà quản trị có cách nhìn khái quát hơn về sự hài lòng của toàn thể người lao động đối với tổ chức của mình. Định nghĩa sự hài lòng trong công việc là một khái niệm rất rộng, bởi nhìn ở nhiều góc độ khác nhau sẽ có nhiều định nghĩa khác nhau. Do vậy, việc đánh giá có hài lòng hay không hài lòng, tiêu cực hay tích cực của một người còn phụ thuộc vào cách nhìn nhận và đánh giá của bản thân người lao động. Điều này có nghĩa là việc đánh giá sự hài lòng hay không hài lòng đối với công việc của người lao động là một sự tổng hợp phức tạp của nhiều yếu tố công việc riêng biệt.
Tuy nhiên, trong số các khái niệm trên, nghiên cứu sự hài lòng đối với từng khía cạnh công việc sẽ giúp cho nhà quản trị biết rõ hơn về những điểm mạnh, điểm yếu trong việc điều hành tổ chức và hoạt động nào được người lao động đánh giá cao nhất hoặc kém nhất.2 Hài lòng với các thành phần của công việc Theo Smith, Kendall và Hulin (1969), sự hài lòng với từng khía cạnh trong công việc là thái độ ảnh hưởng và ghi nhận của người lao động về các khía cạnh khác nhau trong công việc bao gồm: bản chất công việc, cơ hội đào tạo và thăng tiến, lãnh đạo, đồng nghiệp, tiền lương. Staples và Higgins (1998) cho rằng sự hài lòng trong công việc được cảm nhận thông qua phạm vi công việc và tất cả những biểu hiện tích cực của họ với môi trường làm việc. Trong khi đó, theo Schemerhon (1993) (được trích dẫn bởi Luddy, 2005) khái niệm sự hài lòng trong công việc như là sự phản ứng về mặt tình cảm hay cảm xúc của người lao động đối với các khía cạnh khác nhau trong công việc. Đồng thời, Spector (1997) cho rằng sự hài lòng trong công việc là việc người người lao động thấy thích công việc và các khía cạnh khác nhau trong công việc của họ, xem sự hài lòng trong công việc như một biến hành vi.
Sự hài lòng trong công việc cũng được xem như việc hài lòng với các khía cạnh chung của công việc.