Nâng cao sự thỏa mãn công việc của nhân viên tại Viettel chi nhánh TP Hồ Chí Minh

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu kinh doanh giải pháp nâng cao sự thỏa mãn công việc của nhân viên tại công ty viễn thông viettel, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện

Chuyên ngành

Quản trị kinh doanh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận thạc sĩ

2012

76
5
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu về sự thỏa mãn công việc

Sự thỏa mãn công việc của nhân viên là một yếu tố quan trọng trong quản lý nhân sự, đặc biệt trong ngành viễn thông như Viettel. Sự thỏa mãn công việc không chỉ ảnh hưởng đến hiệu suất làm việc mà còn quyết định đến mức độ gắn bó và động lực của nhân viên. Theo nghiên cứu, các yếu tố như mối quan hệ với cấp trên và đồng nghiệp, điều kiện làm việc, và phúc lợi có vai trò lớn trong việc hình thành sự thỏa mãn công việc. Một trong những lý do chính dẫn đến sự không hài lòng là sự thiếu hụt trong các chế độ đãi ngộ và môi trường làm việc không thuận lợi. Như Elickson & Logsdon (2002) đã chỉ ra, sự thỏa mãn công việc là mức độ yêu thích công việc của nhân viên, phản ánh thái độ tích cực hay tiêu cực của họ đối với công việc và môi trường làm việc.

II. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự thỏa mãn công việc

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng có bốn yếu tố chính ảnh hưởng đến sự thỏa mãn công việc của nhân viên tại Viettel HCM: quan hệ với cấp trên, quan hệ với đồng nghiệp, điều kiện làm việc, và phúc lợi. Đặc biệt, mối quan hệ với cấp trên được xem là yếu tố then chốt, vì nó không chỉ ảnh hưởng đến tâm lý làm việc mà còn quyết định đến khả năng phát triển nghề nghiệp của nhân viên. Theo Herzberg, các nhân tố động viên như sự công nhận, trách nhiệm công việc và thăng tiến có thể tạo ra sự thỏa mãn, trong khi các nhân tố duy trì như lương bổng và điều kiện làm việc có thể ngăn ngừa sự bất mãn. Do đó, việc cải thiện các yếu tố này là cần thiết để nâng cao sự thỏa mãn công việc.

III. Đề xuất giải pháp nâng cao sự thỏa mãn công việc

Để nâng cao sự thỏa mãn công việc cho nhân viên, Viettel HCM cần thực hiện một số giải pháp như cải thiện mối quan hệ giữa nhân viên và cấp trên thông qua các buổi giao lưu, đào tạo kỹ năng giao tiếp cho lãnh đạo. Ngoài ra, việc cải thiện điều kiện làm việc và tăng cường phúc lợi cũng là những yếu tố quan trọng. Việc áp dụng các chiến lược như xây dựng văn hóa doanh nghiệp tích cực, khuyến khích sự sáng tạo và phát triển cá nhân cũng sẽ góp phần vào việc tăng cường sự hài lòng của nhân viên. Theo TS. Phạm Ngọc Thúy, việc đầu tư vào phát triển nguồn nhân lực là một chiến lược dài hạn cần thiết cho sự phát triển bền vững của công ty.

IV. Đánh giá tính khả thi của các giải pháp

Các giải pháp đề xuất nhằm nâng cao sự thỏa mãn công việc cần được đánh giá tính khả thi dựa trên tình hình thực tế của công ty. Việc cải thiện mối quan hệ giữa nhân viên và cấp trên có thể thực hiện qua các chương trình đào tạo và phát triển kỹ năng lãnh đạo. Đối với điều kiện làm việc, công ty có thể đầu tư vào cơ sở vật chất và trang thiết bị làm việc hiện đại hơn. Phúc lợi cũng cần được xem xét để đảm bảo rằng nhân viên cảm thấy được trân trọng và có động lực làm việc. Các giải pháp này không chỉ mang lại lợi ích cho nhân viên mà còn giúp công ty nâng cao hiệu quả làm việc và giữ chân nhân tài.

07/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Tổng quan Chương này trình bày lý do hình thành đề tài, mục tiêu và ý nghĩa của đề tài, phạm vi thực hiện và phương pháp thực hiện. Chương 2: Cơ sở lý thuyết Chương 2 trình bày các khái niệm và cơ sở lý thuyết về sự thỏa mãn của nhân viên, các nghiên cứu trước đây và lựa chọn mô hình cho đề tài. Chương 3: Phân tích vấn đề Chương 3 giới thiệu và phân tích thực trạng công ty viễn thông Viettel, sau đó phân tích định lượng và xác định nguyên nhân. Chương 4: Đề xuất giải pháp Chương 4 đề xuất các giải pháp nâng cao sự thỏa mãn của nhân viên và tính khả thi của các giải pháp.

Chương 5: Kết luận và kiến nghị 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Các khái niệm về sự thỏa mãn công việc Hiện nay có khá nhiều khái niệm về sự thỏa mãn công việc. Elickson & Logsdon (2002) cho rằng sự thỏa mãn công việc là mức độ người nhân viên yêu thích công việc của họ, đó là thái độ dựa trên nhận thức của người nhân viên (tích cực và tiêu cực) về công việc và môi trường làm việc của họ. Theo Quinn & Staines (1979), thỏa mãn công việc là phản ứng tích cực đối với công việc. Luddy (2005) cho rằng sự thỏa mãn công việc là phản ứng về mặt tình cảm và cảm xúc đối với các khía cạnh khác nhau của công việc.

Luddy nhấn mạnh các nguyên nhân của sự thỏa mãn công việc bao gồm: vị trí công việc, sự giám sát của cấp trên, mối quan hệ với đồng nghiệp, nội dung công việc, sự đãi ngộ và các phần thưởng gồm: thăng tiến, điều kiện vật chất của môi trường làm việc, cơ cấu của tổ chức. Theo Kreitner & Kinicki (2007), sự thỏa mãn công việc chủ yếu phản ánh mức độ một cá nhân yêu thích công việc của mình, đó chính là tình cảm hay cảm xúc của người nhân viên đó đối với công việc.2 Các lý thuyết về sự thỏa mãn của nhân viên 2.1 Thuyết nhu cầu cấp bậc của Maslow Theo nhà tâm lý học người Hoa Kỳ - Abraham Maslow, con người có những cấp độ khác nhau về nhu cầu. Các nhu cầu từ thấp đến cao là : nhu cầu sinh lý, nhu cầu àn toàn, nhu cầu xã hội, nhu cầu tôn trọng, nhu cầu tự khẳng định mình. Khi những nhu cầu ở cấp độ thấp được thỏa mãn, một nhu cầu ở cấp độ cao hơn sẽ trở thành tác lực thúc đẩy.

Sau khi một nhu cầu được đáp ứng, một nhu cầu khác sẽ xuất hiện. Kết quả là con người luôn luôn có những nhu cầu chưa được đáp ứng và những nhu cầu này thúc đẩy con người thực hiện những công việc nào đó để thỏa mãn chúng.2 Thuyết ERG của Alderfer Clayton Alderfer giáo sư đại hoc Yale đã tiến hành sắp xếp lại nghiên cứu của Maslow và đưa ra kết luận của mình. Ông cho rằng: hành động của cong người bắt nguồn từ nhu cầu, cũng giống như các nhà nghiên cứu khác, song ông cho rằng con 7 người cùng một lúc theo đuổi việc thỏa mãn ba nhu cầu cơ bản: nhu cầu tồn tại, nhu cầu quan hệ và nhu cầu phát triển.  Nhu cầu tồn tại: Ước muốn khỏe mạnh về thể xác và tinh thần, được đáp ứng đầy đủ các nhu cầu căn bản để sinh tồn như các nhu cầu sinh lý, ăn, mặc, ở, đi lại, học hành.

và nhu cầu an toàn.  Nhu cầu quan hệ: Ước muốn thỏa mãn trong quan hệ với mọi người. Mỗi người đều có những ham muốn thiết lập và duy trì các mối quan hệ cá nhân khác nhau. Ước tính một người thường bỏ ra khoảng phân nửa quỹ thời gian để giao tiếp với các quan hệ mà họ hướng tới.

 Nhu cầu phát triển: Ước muốn tăng trưởng và phát triển cá nhân trong cả cuộc sống và công việc. Các công việc, chuyên môn và cao hơn nữa là sự nghiệp riêng sẽ đảm bảo đáp ứng đáng kể sự thoả mãn của nhu cầu phát triển. Thuyết ERG cho rằng: tại cùng một thời điểm có thể có nhiều nhu cầu ảnh hưởng đến sự động viên. Khi một nhu cầu cao hơn không thể được thỏa mãn thì một nhu cầu ở bậc thấp hơn sẵn sàng để phục hồi.

Thuyết thành tựu của McClelland Lý thuyết của McClelland tập trung vào ba loại nhu cầu của con người: nhu cầu về thành tựu, nhu cầu về quyền lực và nhu cầu về liên minh. Chúng được định nghĩa như sau (Robbins, 2002):  Nhu cầu về thành tựu là sự cố gắng để xuất sắc, để đạt được thành tựu đối với bộ chuẩn mực nào đó, nổ lực để thành công.  Nhu cầu về quyền lực là nhu cầu khiến người khác cư xử theo cách họ mong muốn.  Nhu cầu về liên minh là mong muốn có được các mối quan hệ thân thiện và gần gũi với người khác.

Nhu cầu thành tựu của McClelland được thể hiện trong nghiên cứu này dưới dạng đặc điểm công việc. Công việc cần được thiết kế sao cho nhân viên đạt được “thành tựu” họ mong muốn. Còn nhu cầu liên minh được thể hiện ở mối quan hệ với cấp 8 trên và đồng nghiệp. Cuối cùng, nhu cầu quyền lực được thể hiện ở cơ hội được thăng tiến.

Thuyết hai nhân tố của Herzberg Thuyết này chia các nhân tố làm hai loại: các nhân tố động viên và các nhân tố duy trì. - Các nhân tố động viên gồm thành tựu, sự công nhận của người khác, bản chất công việc, trách nhiệm công việc, sự thăng tiến và sự tiến bộ, và triển vọng của sự phát triển. Nếu nhân viên được đáp ứng sẽ mang lại sự thỏa mãn trong công việc cho họ, ngược lại nhân viên sẽ không có sự thỏa mãn. - Các nhân tố duy trì gồm chính sách công ty, sự giám sát của cấp trên, lương bổng, mối quan hệ với cấp trên và đồng nghiệp, điều kiện làm việc, đời sống cá nhân,vị trí công việc và sự đảm bảo của công việc.

Nếu được đáp ứng sẽ không có sự bất mãn trong công việc ngược lại sẽ dẫn đến sự bất mãn. Như vậy, Herzberg đã tách biệt tương đối hai nhóm nhân tố này và cho rằng chỉ có những nhân tố động viên mới có thể mang lại sự thỏa mãn cho nhân viên và nếu không làm tốt các nhân tố duy trì sẽ dẫn đến sự bất mãn của nhân viên. Nhiều nghiên cứu đã đưa ra kết quả không ủng hộ sự phân chia hai nhóm nhân tố như trên của Herberg cũng như bác bỏ việc cho rằng các nhân tố duy trì không mang lại sự thỏa mãn trong công việc (Kreitner & Kinicki, 2007). Thực tế cho thấy rằng các nhân tố thuộc hai nhóm trên đều có ảnh hưởng ít nhiều đến sự thỏa mãn trong việc.

Tuy nhiên, thông qua lý thuyết của Hezberg ta cũng có thể thấy được tầm quan trọng của nhân tố động viên trong việc mang lại sự thỏa mãn trong công việc cũng như tác động của các nhân tố duy trì trong việc dẫn đến sự bất mãn của nhân viên. Thuyết công bằng của Adam J. Stacey Adams cho rằng nhân viên có xu hướng đánh giá sự công bằng bằng cách so sánh công sức họ bỏ ra so với những thứ họ nhận được cũng như so sánh tỷ lệ đó của họ với tỷ lệ đó của những đồng nghiệp trong công ty. Nếu kết quả của sự so sánh đó là sự ngang bằng nhau tức công bằng thì họ sẽ tiếp tục duy trì nỗ lực và 9 hiệu suất làm việc của mình.

Nếu thù lao nhận được vượt quá mong đợi của họ, họ sẽ có xu hướng gia tăng công sức của họ trong công việc, ngược lại nếu thù lao họ nhận được thấp hơn so với đóng góp của họ, họ sẽ có xu hướng giảm bớt nỗ lực hoặc tìm các giải pháp khác như vắng mặt trong giờ làm việc hoặc thôi việc (Pattanayak, 2005). Lý thuyết này cũng có thể được xem xét ở góc độ đề tài của khóa luận này. Một nhân viên không thể có được sự thỏa mãn nếu họ nhận ra rằng mình bị đối xử không bằng từ vấn đề lương bổng, cơ hội đào tạo thăng tiến đến sự hỗ trợ từ cấp trên. Thuyết kỳ vọng của Vroom Vroom cho rằng hành vi và động cơ làm việc của con người không nhất thiết được quyết định bởi hiện thực mà nó được quyết định bởi nhận thức của con người về những kỳ vọng của họ trong tương lai.

Khác với Maslow và Herzberg, Vroom không tập trung vào nhu cầu của con người mà tập trung vào kết quả. Lý thuyết này xoay quanh ba khái niệm cơ bản (Kreitner & Kinicki, 2007) hay ba mối quan hệ (Robbins, 2002 ): - Kỳ vọng: là niềm tin rằng nỗ lực sẽ dẫn đến kết quả tốt. Khái niệm này được thể hiện thông qua mối quan hệ giữa nỗ lực và kết quả. - Tính chất công cụ: là niềm tin rằng kết quả tốt sẽ dẫn đến phần thưởng xứng đáng.

Khái niệm này được thể hiện qua mối quan hệ giữa kết quả và phần thưởng. - Hóa trị: là mức độ quan trọng của phần thưởng đối với người thực hiện công việc. Khái niệm này được thể hiện thông qua mối quan hệ giữa phần thưởng và mục tiêu cá nhân. Vroom cho rằng người nhân viên chỉ được động viên khi nhận thức của họ về cả ba khái niệm hay ba mối quan hệ trên là tích cực.

Nói các khác là khi họ tin rằng nỗ lực của họ sẽ cho ra kết quả tốt hơn, kết quả đó sẽ dẫn đến phần thưởng xứng đáng và phần thưởng đó có ý nghĩa và phù hợp với mục tiêu cá nhân. Vì lý thuyết này được dựa trên sự nhận thức của người lao động nên có thể xảy ra trường hợp là cùng làm ở một công ty và cùng một vị trí như nhau nhưng một người có động lực 10 làm việc còn người kia thì không do nhận thức của họ về các khái niệm trên là khác nhau.3 Các nghiên cứu trước đây về đo lường mức độ thỏa mãn công việc Chỉ số mô tả công việc JDI của Smith & ctg (1969), bảng kháo sát sự thỏa mãn công việc (Job Satisfaction Survey – JSS) của Spector (1997) và bảng câu hỏi thỏa mãn Minnesota (Minnesota Satisfacticn Questionnaire - MSQ) của Weiss & ctg (1967) là 3 công cụ đặc trưng trong đo lường sự thỏa mãn công việc, trong đó JDI và MSQ là 2 công cụ được sử dụng rộng rãi (Green, 2000). Theo Smith & ctg (1969), mức độ thỏa mãn công việc của một người được đo lường thông qua các nhân tố: tiền lương, cơ hội đào tạo – thăng tiến, quan hệ với đồng nghiệp, quan hệ với cấp trên và đặc điểm công việc.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nâng cao sự thỏa mãn công việc của nhân viên tại Viettel chi nhánh TP Hồ Chí Minh" của tác giả Vũ Hùng Cường, dưới sự hướng dẫn của TS. Phạm Ngọc Thúy, trình bày các giải pháp nhằm cải thiện sự hài lòng trong công việc của nhân viên tại một trong những công ty viễn thông lớn nhất Việt Nam. Nghiên cứu này không chỉ chỉ ra tầm quan trọng của việc nâng cao sự thỏa mãn công việc mà còn cung cấp những biện pháp cụ thể để đạt được điều này, từ đó giúp tăng cường hiệu suất làm việc và giảm tỷ lệ nghỉ việc của nhân viên. Độc giả sẽ nhận được cái nhìn sâu sắc về cách quản lý nhân sự hiệu quả trong ngành viễn thông, cùng với những lợi ích mà sự thỏa mãn công việc mang lại cho cả nhân viên và tổ chức.

Nếu bạn quan tâm đến các giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ và quản lý nhân sự, bạn có thể tham khảo thêm bài viết Giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ tại nhà hàng Yoshino thuộc khách sạn Lotte Legend Saigon, nơi phân tích các phương pháp cải thiện dịch vụ trong ngành khách sạn. Bài viết Luận văn về quy trình đón tiếp và phục vụ khách tại bộ phận lễ tân khách sạn Continental cũng cung cấp cái nhìn về quy trình phục vụ khách hàng, một yếu tố quan trọng trong việc nâng cao sự hài lòng của nhân viên. Cuối cùng, bài viết Luận Văn Thạc Sĩ Về Tạo Động Lực Cho Người Lao Động Tại Ngân Hàng TMCP Sài Gòn Công Thương sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về cách tạo động lực cho nhân viên, một yếu tố then chốt trong việc nâng cao sự thỏa mãn công việc. Những liên kết này sẽ mở rộng kiến thức của bạn về quản lý nhân sự và dịch vụ khách hàng trong các lĩnh vực khác nhau.