CHƯƠNG 1 Nội dung chương này tập trung vào giới thiệu những lý do cần thiết cần thực hiện nghiên cứu này, mục đích nghiên cứu và đối tượng, phạm vi của nghiên cứu. Chương này cũng cung cấp những đánh giá tổng quan về các nghiên cứu cùng chủ đề trên thế giới và tại Việt Nam, chỉ ra những khoảng trống nghiên cứu. Ngoài ra, khái quát về phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa của nghiên cứu, đóng góp mới và kết cấu chung của luận án cũng được giới thiệu trong chương này. 8 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ QUÁ TRÌNH LỰA CHỌN CHƯƠNG TRÌNH ĐẠI HỌC 2.
Các khái niệm cơ bản về giáo dục và giáo dục đại học 2.1 Định nghĩa về giáo dục Theo Từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê (2021), giáo dục có nghĩa là “Hoạt động nhằm tác động một cách có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của một đối tượng nào đó, làm cho đối tượng ấy dần dần có những phẩm chất và năng lực như yêu cầu đề ra”, còn nếu là một danh từ, giáo dục còn được hiểu là “Hệ thống các biện pháp và cơ quan giảng dạy - giáo dục của một nước”. Từ điển tiếng Việt của Nguyễn Lân (2006), giáo dục là “Quá trình hoạt động có ý thức, có mục đích, có kế hoạch nhằm bồi dưỡng cho người ta những phẩm chất đạo đức, những tri thức cần thiết về tự nhiên và xã hội, cũng như những kĩ năng, kĩ xảo cần thiết trong đời sống”. Bên cạnh đó, Đại Từ điển Tiếng Việt của Nguyễn Như Ý cũng chỉ ra “Giáo dục là quá trình tác động có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của con người, để họ dần dần có được những phẩm chất và năng lực như yêu cầu đề ra”. Bùi Hiền (2002), từ điển Giáo dục học, “Giáo dục là hoạt động hướng tới con người thông qua một hệ thống các biện pháp tác động nhằm truyền thụ bằng tri thức và khái niệm, rèn luyện kỹ năng và lối sống bồi dưỡng tư tưởng và đạo đức cần thiết cho đối tượng giúp hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất, nhân cách phù hợp với mục đích, mục tiêu chuẩn bị cho đối tượng tham gia hoạt động sản xuất và đời sống xã hội”.
Luật Giáo dục Việt Nam năm 2019 và các năm trước đó không định nghĩa giáo dục là gì nhưng có quy định về mục tiêu của giáo dục: “Mục tiêu giáo dục nhằm phát triển toàn diện con người Việt Nam có đạo đức, tri thức, văn hóa, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp; có phẩm chất, năng lực và ý thức công dân; có lòng yêu nước, tinh thần dân tộc, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; phát huy tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và hội nhập quốc tế”. Ngoài ra, một số định nghĩa liên quan như: “Giáo dục chính quy là giáo dục theo khóa học trong cơ sở giáo dục để thực hiện một chương trình giáo dục nhất định, được thiết lập theo mục tiêu của các cấp học, trình độ đào tạo và được cấp văn bằng của hệ thống giáo 9 dục quốc dân”; “Giáo dục thường xuyên là giáo dục để thực hiện một chương trình giáo dục nhất định, được tổ chức linh hoạt về hình thức thực hiện chương trình, thời gian, phương pháp, địa điểm, đáp ứng nhu cầu học tập suốt đời của người học”; và “Giáo dục bắt buộc là giáo dục mà mọi công dân trong độ tuổi quy định bắt buộc phải học tập để đạt được trình độ học vấn tối thiểu theo quy định của pháp luật và được Nhà nước bảo đảm điều kiện để thực hiện”. Một số nghiên cứu khác cũng đưa ra khái niệm về giáo dục, như Vũ Văn Hùng, Trần Việt Thảo và cộng sự (2020) giải thích “giáo dục là một hoạt động của xã hội loài người và nó mang tính tất yếu, bởi thông qua hoạt động này loài người mới có thể tiếp tục tồn tại, cải hóa thế giới và phát triển, hoàn thiện mình trong đời sống xã hội”. Hay Phạm Viết Vượng (1996) cho rằng “giáo dục là quá trình tổ chức cuộc sống hoạt động và giao lưu cho đối tượng giáo dục, nhằm giúp họ nhận thức đúng tạo lập tình cảm và thái độ đúng, phù hợp với chuẩn mực xã hội”.
Trong luận án này, giáo dục được hiểu đơn giản là quá trình tương tác để truyền thụ các kiến thức, tri thức cho người học (tiếp nhận) thông qua quá trình giảng dạy hoặc đào tạo. Phân loại giáo dục Phân loại giáo dục có nhiều tiêu chí khác nhau như quyền sở hữu, ngành nghề hay theo các cấp học khác nhau. Chẳng hạn, phân loại theo quyền sở hữu cơ sở giáo dục có thể chia làm hai nhom (1) giáo dục công lập và (2) giáo dục tư thục. Trong phạm vi của luận án này xem xét người học là sinh viên là một dạng phân loại theo cấp học.
Do đó, luận án cũng cấp cách phân loại theo cấp học theo quy định tại Việt Nam và phân loại theo thông lệ quốc tế. Phân loại giáo dục theo thông lệ quốc tế ISCED-2011 là một hệ thống phân loại giáo dục quốc tế được Liên Hợp Quốc xây dựng với mục đích cung cấp một nền tảng chung để thu thập, xử lý và phân tích dữ liệu giáo dục từ các quốc gia trên thế giới. Hệ thống này được áp dụng cho tất cả các cấp độ giáo dục, từ giáo dục mầm non đến giáo dục đại học và giáo dục nghiên cứu. Theo ISCED-2011, giáo dục được phân loại thành 9 cấp độ khác nhau dựa trên mục đích, nội dung và mức độ khó khăn của chương trình đào tạo.
Các cấp độ này bao gồm: Cấp độ 0: Giáo dục mầm non (từ 0 đến 3-4 tuổi) Cấp độ 1: Giáo dục tiền tiểu học (từ 4 đến 6 tuổi) Cấp độ 2: Giáo dục tiểu học (từ 6 đến 11-12 tuổi) 10 Cấp độ 3: Giáo dục trung học cơ sở (từ 11-12 đến 14-15 tuổi)Cấp độ 4: Giáo dục trung học phổ thông (từ 14-15 đến 18 tuổi) Cấp độ 5: Giáo dục nghề nghiệp hoặc giáo dục chuyên nghiệp cơ sở (từ 15-16 đến 18-19 tuổi) Cấp độ 6: Giáo dục cấp đại học hoặc giáo dục nghiên cứu (từ 18-19 đến 22-23 tuổi)Cấp độ 7: Giáo dục sau đại học hoặc giáo dục nghiên cứu cao cấp (từ 23 tuổi trở lên)Cấp độ 8: Giáo dục bổ sung và đào tạo liên tục (không giới hạn độ tuổi) Phân cấp giáo dục tại Việt Nam Phân cấp giáo dục Việt Nam theo quyết định số 1981/QĐ-TTg năm 2016 khá tương đồng với phân cấp ISCED-2011. Theo đó phân cấp hệ thống giáo dục tại Việt Nam có 8 cấp từ giáo dục mầm non đến đào tạo tiến sĩ. Cụ thể theo quy định tại khoản 2, Điều 1 của Quyết định 1981/QĐ-Ttg năm 2016 quy định: Các cấp học và trình độ đào tạo của hệ thống giáo dục quốc dân bao gồm: a) Giáo dục mầm non gồm giáo dục nhà trẻ và giáo dục mẫu giáo; b) Giáo dục phổ thông gồm giáo dục tiểu học, giáo dục trung học cơ sở và giáodục trung học phổ thông; c) Giáo dục nghề nghiệp đào tạo các trình độ sơ cấp, trung cấp và cao đẳng; d) Giáo dục đại học đào tạo các trình độ đại học, thạc sĩ và tiến sĩ. Trong đó, chương trình đào tạo trình độ đại học tiếp nhận người đã tốt nghiệp trung học phổ thông; người đã tốt nghiệp trình độ trung cấp và đã học và thi đạt yêu cầu đủ khối lượng kiến thức văn hóa trung học phổ thông theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo; người đã tốt nghiệp trình độ cao đẳng.
Chương trình đào tạo đại học có thời gian tương đương 3 đến 5 năm học tập trung đối với người tốt nghiệp trung học phổ thông hoặc người đã tốt nghiệp trình độ trung cấp và đã học và thi đạt yêu cầu đủ khối lượng kiến thức văn hóa trung học phổ thông theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Người tốt nghiệp trình độ đại học có thể học tiếp lên thạc sĩ theo hướng chuyên môn phù hợp hoặc được nhận vào học các hướng chuyên môn khác nếu đáp ứng được điều kiện của chương trình đào tạo. Người tốt nghiệp trình độ đại học có kết quả học tập xuất sắc có thể được xét tuyển thẳng vào chương trình đào tạo trình độ tiến sĩ đúng hướng chuyên môn ở trình độ đại học. Giáo dục đại học 2.
Khái niệm giáo dục đại học Như đã thảo luận ở trên, trong phân cấp giáo dục thì giáo dục đại học là một cấp học quan trọng trong hệ thống giáo dục của tất cả các quốc gia hiện đại. Theo các quy định hiện hành của Luật giáo dục Đại học tại Việt Nam quy định giáo dục đại học như sau: Luật Giáo dục có nêu: Điều 38: “Các trình độ đào tạo giáo dục đại học: Giáo dục đại học đào tạo trình độ đại học, trình độ thạc sĩ, trình độ tiến sĩ”. Điều 39: “Mục tiêu của giáo dục đại học: 1. Đào tạo nhân lực trình độ cao, nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài; nghiên cứu khoa học và công nghệ tạo ra tri thức, sản phẩm mới, phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế - x ã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, hội nhập quốc tế.
Đào tạo người học phát triển toàn diện về đức, trí, thể, mỹ; có tri thức, kỹ năng, trách nhiệm nghề nghiệp; có khả năng nắm bắt tiến bộ khoa học và công nghệ tương xứng với trình độ đào tạo, khả năng tự học, sáng tạo, thích nghi với môi trường làm việc; có tinh thần lập nghiệp, có ý thức phục vụ Nhân dân”. Điều 4 Luật Giáo dục Đại học đề cập “Cơ sở giáo dục đại học là cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân, thực hiện chức năng đào tạo các trình độ của giáo dục đại học, hoạt động khoa học và công nghệ, phục vụ cộng đồng” hay “Đại học là cơ sở giáo dục đại học đào tạo, nghiên cứu nhiều lĩnh vực, được cơ cấu tổ chức theo quy định của Luật này; các đơn vị cấu thành đại học cùng thống nhất thực hiện mục tiêu, sứ mạng, nhiệm vụ chung” chứ chưa hề có nhắc đến định nghĩa giáo dục đại học. Nhiều nhà nghiên cứu cũng đã nêu các khái niệm về giáo dục đại học: Nguyễn Bá Cần (2009) cho rằng “Giáo dục đại học là bậc sau cùng trong hệ thống giáo dục và đào tạo của mỗi nước; đào tạo đội ngũ lao động lành nghề, bao gồm các nhà khoa học, các chuyên gia, kỹ sư và những cán bộ chuyên môn kỹ thuật ở các trình độ khác nhau.