Các nhân tố tác động đến quyết định lựa chọn của người học với chương trình cử nhân du học tại chỗ ngành kinh tế và quản trị kinh doanh ở việt nam

Tài liệu nghiên cứu Các nhân tố tác động đến quyết định lựa chọn của người học với chương trình cử nhân du học tại chỗ, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên

Chuyên ngành

Kinh Tế Quốc Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2023

186
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM KẾT

1. CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Tính cấp thiết của đề tài

1.2. Mục tiêu và nội dung nghiên cứu

1.2.1. Mục tiêu nghiên cứu

1.2.2. Nội dung nghiên cứu

1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.4. Đóng góp mới và ý nghĩa của luận án

1.5. Kết cấu của luận án

1.6. TÓM TẮT CHƯƠNG 1

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ QUÁ TRÌNH LỰA CHỌN CHƯƠNG TRÌNH ĐẠI HỌC

2.1. Các khái niệm cơ bản về giáo dục và giáo dục đại học

2.2. Giáo dục đại học

2.3. Đặc điểm của dịch vụ giáo dục đại học

2.4. Du học và du học tại chỗ

2.5. Các lý thuyết liên quan đến quyết định lựa chọn chương trình đào tạo

2.5.1. Các lý thuyết về nhận thức

2.6. Các nhân tố ảnh hưởng tới quyết định lựa chọn chương trình đào tạo

2.6.1. Thông tin chương trình học

2.6.2. Ảnh hưởng nhận thức

2.6.3. Ảnh hưởng bởi kỳ vọng lợi ích từ chương trình học

2.6.4. Các đặc trưng cá nhân và gia đình

2.7. Tổng quan nghiên cứu

2.8. Mô hình nghiên cứu đề xuất và các giả thuyết nghiên cứu

2.9. TÓM TẮT CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3: BỐI CẢNH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Bối cảnh về các chương trình du học tại chỗ tại Việt Nam

3.2. Các chương trình liên kết đào tạo

3.3. Các chương trình 100% nước ngoài tại Việt Nam

3.4. Quy trình nghiên cứu

3.4.1. Thiết kế nghiên cứu

3.4.2. Phát triển thang đo nghiên cứu

3.4.3. Phương pháp thu thập dữ liệu

3.4.4. Đánh giá thiên lệch phương pháp thông thường (common method bias) và không phản hồi (non –response bias)

3.5. Phương pháp phân tích dữ liệu

3.5.1. Đối với các dữ liệu thứ cấp

3.5.2. Các phương pháp phân tích dữ liệu sơ cấp

3.6. TÓM TẮT CHƯƠNG 3

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1. Kết quả đánh giá thang đo

4.1.1. Kết quả đánh giá thang đo đơn hướng

4.1.2. Đánh giá các thang đo đơn hướng

4.1.3. Mô hình tới hạn

4.2. Phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính và kiểm định các giả thuyết nghiên cứu

4.3. Đánh giá của người học với từng nhân tố

4.3.1. Đánh giá về quyết định lựa chọn chương trình đào tạo

4.3.2. Đánh giá về ý định của học sinh theo đuổi chương trình

4.3.3. Đánh giá về chất lượng tín hiệu của chương trình

4.3.4. Đánh giá về chất lượng cảm nhận với chương trình trước khi theo học

4.3.5. Đánh giá về thái độ với chương trình

4.3.6. Đánh giá về khía cạnh của ảnh hưởng bên ngoài

4.3.7. Đánh giá về nhận thức bản thân với chương trình

4.3.8. Đánh giá về triển vọng nghề nghiệp khi theo học chương trình

4.3.9. Đánh giá về chất lượng nguồn lực giảng dạy và học tập

4.4. TÓM TẮT CHƯƠNG 4

5. CHƯƠNG 5: THẢO LUẬN VÀ CÁC HÀM Ý CHÍNH SÁCH

5.1. Thảo luận kết quả nghiên cứu

5.2. Hàm ý chính sách

5.2.1. Cải thiện chất lượng tín hiệu về chương trình đào tạo đối với học sinh và phụ huynh

5.2.2. Tạo dựng thái độ tích cực của sinh viên với du học tại chỗ qua cải thiện chất lượng cảm nhận

5.2.3. Tổ chức công tác định hướng nghề nghiệp sớm cho học sinh

5.2.4. Đầu tư xây dựng và phát triển chương trình đào tạo có chất lượng cao

5.2.5. Xây dựng danh tiếng và thương hiệu nhà trường

5.3. Hạn chế của nghiên cứu và hướng nghiên cứu trong tương lai

5.4. TÓM TẮT CHƯƠNG 5

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng Quan Quyết Định Chọn Chương Trình Cử Nhân Du Học

Giáo dục đại học đóng vai trò then chốt đối với sự phát triển của cá nhân và xã hội. Nó không chỉ trang bị kiến thức chuyên môn, kỹ năng làm việc mà còn rèn luyện tư duy phản biện. Thị trường lao động ngày càng đòi hỏi cao về trình độ, đặc biệt là bậc đại học, thúc đẩy sự mở rộng quy mô đào tạo và hình thành thị trường đào tạo đại học. Quá trình thị trường hóa giáo dục đại học đang diễn ra mạnh mẽ, kéo theo đó là sự hợp tác quốc tế trong đào tạo. Du học, cả tại nước ngoài và tại chỗ, trở thành xu hướng được nhiều người quan tâm. Hình thức du học tại chỗ, thông qua các chương trình liên kết hoặc trường đại học quốc tế tại Việt Nam, ngày càng thu hút sinh viên nhờ chi phí hợp lý và bằng cấp được công nhận toàn cầu. Theo Đoàn Hiếu, du học tại chỗ giúp sinh viên am hiểu hơn về thị trường lao động địa phương thông qua các tương tác xã hội. Việt Nam hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế quốc tế, tạo điều kiện cho các chương trình du học tại chỗ phát triển, đồng thời đặt ra những thách thức về chất lượng và sự cạnh tranh.

1.1. Tầm Quan Trọng của Giáo Dục Đại Học Hiện Nay

Giáo dục đại học được xem là một chỉ dấu cho năng lực chuyên môn, kỹ năng công việc và tư duy phản biện, mang lại những cơ hội phát triển cá nhân. Nhiều ngành nghề đòi hỏi bằng cấp nhất định. Giáo dục đại học truyền thống có ba chức năng chính: giảng dạy, nghiên cứu khoa học và phụng sự xã hội. Giáo dục là yếu tố quan trọng của vốn con người, thúc đẩy năng suất lao động và tạo ra mức sống cao hơn. Theo thống kê tại Mỹ, sinh viên tốt nghiệp đại học có việc làm trả thuế nhiều hơn 91% so với người tốt nghiệp trung học. Do đó, giáo dục đại học giúp tạo ra tầng lớp lao động có năng suất cao, xã hội năng động và phát triển. Vì vậy, giáo dục đại học đóng vai trò vô cùng quan trọng trong sự phát triển của xã hội.

1.2. Xu Hướng Du Học Tại Chỗ và Lợi Ích Vượt Trội

Xu hướng du học tại chỗ thông qua chương trình liên kết hoặc trường đại học quốc tế tại Việt Nam ngày càng phổ biến. Hình thức này khắc phục những hạn chế của du học nước ngoài và chương trình truyền thống trong nước. Du học tại chỗ giúp người học tiếp cận dịch vụ giáo dục quốc tế với chi phí thấp hơn nhiều so với du học nước ngoài, đồng thời bằng cấp vẫn được công nhận toàn cầu, tăng khả năng cạnh tranh. Chương trình du học tại chỗ có ưu điểm trong việc phát triển tiếng Anh và áp dụng tiêu chuẩn quốc tế. Hơn nữa, sinh viên am hiểu hơn về thị trường lao động địa phương thông qua tương tác xã hội. Bởi vậy, du học tại chỗ ngành kinh tế và quản trị kinh doanh ngày càng thu hút đông đảo sinh viên.

II. Vấn Đề Thách Thức Tuyển Sinh Của Chương Trình Du Học

Mặc dù các chương trình du học tại chỗ phát triển mạnh mẽ, nhiều chương trình vẫn gặp khó khăn trong việc tuyển sinh hoặc tuyển sinh không ổn định, dẫn đến đóng cửa. Sự hợp tác thành công phụ thuộc vào nhiều yếu tố: trường đại học sở tại, trường liên kết, sự phù hợp của chương trình và mức độ sẵn sàng đầu tư cho giáo dục. Để phát triển bền vững, chương trình cần thu hút người học, gia tăng mức độ sẵn sàng tham gia của học sinh tiềm năng. Quan điểm thị trường hóa giáo dục đại học coi người học là khách hàng, trường đại học là nhà cung cấp dịch vụ. Các trường cần có chính sách phù hợp để thu hút người học lựa chọn dịch vụ của mình, đặc biệt là dựa trên các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định của người học. Do đó, việc nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn chương trình du học là vô cùng quan trọng để xây dựng chính sách phù hợp.

2.1. Nguyên Nhân Gây Khó Khăn Cho Tuyển Sinh Du Học Tại Chỗ

Thực tế cho thấy nhiều chương trình du học tại chỗ không tuyển sinh được hoặc tuyển sinh không ổn định dẫn đến đóng cửa sau một thời gian thành lập (Báo người lao động, 2021). Điều này đặt ra các câu hỏi về khả năng tồn tại và phát triển của các chương trình liên kết quốc tế nói chung và các chương trình du học tại chỗ các ngành kinh tế và quản trị kinh doanh nói riêng. Các nghiên cứu chỉ ra rằng sự hợp tác thành công cho các chương trình đào tạo liên kết quốc tế phụ thuộc vào nhiều khía cạnh từ trường đại học sở tại, trường đại học liên kết, sự phù hợp của chương trình và mức độ sẵn sàng của học sinh, phụ huynh đầu tư cho giáo dục (Baliyan, 2016). Vì vậy, việc tìm hiểu và giải quyết các vấn đề liên quan đến tuyển sinh du học là vô cùng quan trọng.

2.2. Tầm Quan Trọng Của Nghiên Cứu Quyết Định Lựa Chọn

Có quá nhiều sự lựa chọn từ các phương thức học tập khác nhau ảnh hưởng đến người học, các trường phải có những chính sách phù hợp để thu hút người học lựa chọn dịch vụ mình cung cấp. Các chính sách đó đặc biệt phụ thuộc vào những nhân tố ảnh hưởng tới quyết định của người học khi lựa chọn trường đại học phù hợp. Việc nghiêm cứu, xem xét những khía cạnh ảnh hưởng tới quá trình ra quyết lựa chọn trường hay quá trình tạo ra nguồn khách hàng tiềm năng ổn định là rất cần thiết với các chương trình đào tạo. Điều này giúp các trường xây dựng được các chính sách thu hút học sinh hiệu quả.

III. Cách Tiếp Cận Mô Hình Lý Thuyết Về Quyết Định Lựa Chọn

Nghiên cứu trên thế giới thường sử dụng mô hình hành vi có kế hoạch để giải thích cơ chế ra quyết định lựa chọn. Tuy nhiên, ít nghiên cứu kết hợp lý thuyết tín hiệu để dự đoán quyết định lựa chọn của học sinh. Luận án này tập trung phát triển khung phân tích dựa trên tích hợp lý thuyết hành vi có kế hoạch và lý thuyết tín hiệu trong kinh tế học thông tin để dự đoán quyết định lựa chọn chương trình đào tạo liên kết của học sinh Việt Nam. Nghiên cứu sẽ xem xét các nhân tố thuộc về tín hiệu, nhận thức và kỳ vọng lợi ích ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn chương trình du học tại chỗ ngành kinh tế và quản trị kinh doanh ở Việt Nam. Mục tiêu là xây dựng một khung phân tích đánh giá quyết định lựa chọn chương trình du học một cách toàn diện.

3.1. Ứng Dụng Lý Thuyết Hành Vi Có Kế Hoạch và Tín Hiệu

Luận án này tập trung phát triển một khung phân tích dựa trên tích hợp lý thuyết hành vi có kế hoạch và lý thuyết tín hiệu trong kinh tế học thông tin cho việc dự đoán quyết định lựa chọn chương trình đào tạo liên kết của học sinh Việt Nam. Các nghiên cứu chỉ ra rằng sự hợp tác thành công cho các chương trình đào tạo liên kết quốc tế phụ thuộc vào nhiều khía cạnh từ trường đại học sở tại, trường đại học liên kết, sự phù hợp của chương trình và mức độ sẵn sàng của học sinh, phụ huynh đầu tư cho giáo dục (Baliyan, 2016). Nghiên cứu này xem xét các yếu tố quan trọng để dự đoán hành vi lựa chọn của học sinh.

3.2. Khung Phân Tích Đa Chiều Tín Hiệu Nhận Thức và Kỳ Vọng

Luận án sẽ tập trung vào phát triển một khung phân tích dựa trên tích hợp lý thuyết hành vi có kế hoạch và lý thuyết tín hiệu trong kinh tế học thông tin cho việc dự đoán quyết định lựa chọn chương trình đào tạo liên kết của học sinh Việt Nam. Mục tiêu là xây dựng một khung phân tích đánh giá ảnh hưởng của cả các nhân tố thuộc về tín hiệu, nhận thứckỳ vọng lợi ích đến quá trình ra quyết định lựa chọn chương trình du học tại chỗ của người học các ngành Kinh tế và Quản trị Kinh doanh tại Việt Nam.

IV. Phân Tích Các Nhân Tố Tác Động Quyết Định Du Học Tại Chỗ

Luận án tập trung vào xác định các nhân tố chính thuộc về tín hiệu, nhận thức và kỳ vọng lợi ích ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn chương trình du học khối ngành kinh tế và quản trị kinh doanh tại Việt Nam. Các nhân tố này bao gồm: chất lượng tín hiệu của chương trình, chất lượng cảm nhận trước khi theo học, thái độ với chương trình, ảnh hưởng từ bên ngoài, nhận thức bản thân, triển vọng nghề nghiệp và chất lượng nguồn lực giảng dạy và học tập. Nghiên cứu sẽ lượng hóa và xếp loại ảnh hưởng của các nhóm nhân tố khác nhau đến quá trình ra quyết định lựa chọn chương trình du học tại chỗ ngành kinh tế.

4.1. Nhóm Nhân Tố Về Tín Hiệu và Chất Lượng Cảm Nhận

Luận án tập trung vào xác định các nhân tố chính thuộc về tín hiệu, nhận thức và kỳ vọng lợi ích của người học ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn chương trình du học khối ngành Kinh tế và Quản trị kinh doanh tại Việt Nam. Các yếu tố như tín hiệu của chương trình đào tạo, chất lượng cảm nhận trước khi theo học sẽ được xem xét và đánh giá tác động.

4.2. Ảnh Hưởng Từ Bên Ngoài Nhận Thức Bản Thân và Triển Vọng

Nghiên cứu cũng sẽ tập trung vào đánh giá các yếu tố khác như ảnh hưởng từ bên ngoài (gia đình, bạn bè), nhận thức bản thân về khả năng học tập, triển vọng nghề nghiệp sau khi tốt nghiệp và chất lượng nguồn lực giảng dạy và học tập. Tất cả những yếu tố này sẽ được phân tích và đánh giá để xác định mức độ ảnh hưởng của chúng đến quyết định lựa chọn chương trình du học tại chỗ.

V. Ứng Dụng Hàm Ý Chính Sách Phát Triển Chương Trình Du Học

Luận án đề xuất những gợi ý, khuyến nghị đối với các trường đại học và cơ quan quản lý nhà nước nhằm thúc đẩy phát triển bền vững các chương trình du học tại chỗ ngành kinh tế và quản trị kinh doanh có hiệu quả. Các khuyến nghị tập trung vào cải thiện chất lượng tín hiệu về chương trình đào tạo, tạo dựng thái độ tích cực của sinh viên, tổ chức công tác định hướng nghề nghiệp sớm, đầu tư xây dựng và phát triển chương trình đào tạo chất lượng cao, xây dựng danh tiếng và thương hiệu nhà trường. Mục tiêu là nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của các chương trình du học tại chỗ tại Việt Nam.

5.1. Cải Thiện Chất Lượng Tín Hiệu và Định Hướng Nghề Nghiệp

Luận án sẽ đề xuất những gợi ý và khuyến nghị đối với các trường đại học và cơ quan quản lý nhà nước nhằm thúc đẩy phát triển bền vững các chương trình du học tại chỗ ngành Kinh tế và Quản trị Kinh doanh có hiệu quả. Đặc biệt, cần tập trung vào việc cải thiện chất lượng tín hiệu về chương trình đào tạo đối với học sinh và phụ huynh và tổ chức công tác định hướng nghề nghiệp sớm cho học sinh.

5.2. Xây Dựng Thương Hiệu và Nâng Cao Chất Lượng Đào Tạo

Nghiên cứu cũng sẽ nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đầu tư xây dựng và phát triển chương trình đào tạo có chất lượng cao và xây dựng danh tiếng và thương hiệu nhà trường. Việc tạo dựng thái độ tích cực của sinh viên với du học tại chỗ qua cải thiện chất lượng cảm nhận cũng là một yếu tố quan trọng cần được quan tâm.

VI. Kết Luận Tương Lai Nghiên Cứu Quyết Định Du Học

Nghiên cứu này đóng góp vào việc hiểu rõ hơn về các yếu tố tác động đến quyết định lựa chọn chương trình cử nhân du học tại chỗ ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cung cấp thông tin hữu ích cho các trường đại học, cơ quan quản lý giáo dục và phụ huynh học sinh trong việc định hướng và phát triển các chương trình du học. Tuy nhiên, nghiên cứu vẫn còn một số hạn chế và cần được tiếp tục mở rộng trong tương lai, ví dụ như nghiên cứu sâu hơn về ảnh hưởng của văn hóamạng xã hội đến quyết định lựa chọn của sinh viên. Đồng thời, cần có những nghiên cứu so sánh giữa các ngành học khác nhau để có cái nhìn toàn diện hơn về thị trường du học tại chỗ.

6.1. Giá Trị Thực Tiễn và Đóng Góp Của Nghiên Cứu

Nghiên cứu này đóng góp vào việc hiểu rõ hơn về các yếu tố tác động đến quyết định lựa chọn chương trình cử nhân du học tại chỗ ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cung cấp thông tin hữu ích cho các trường đại học, cơ quan quản lý giáo dục và phụ huynh học sinh trong việc định hướng và phát triển các chương trình du học hiệu quả.

6.2. Hướng Nghiên Cứu Mở Rộng Trong Tương Lai

Tuy nhiên, nghiên cứu vẫn còn một số hạn chế và cần được tiếp tục mở rộng trong tương lai, ví dụ như nghiên cứu sâu hơn về ảnh hưởng của văn hóamạng xã hội đến quyết định lựa chọn của sinh viên. Đồng thời, cần có những nghiên cứu so sánh giữa các ngành học khác nhau để có cái nhìn toàn diện hơn về thị trường du học tại chỗ.

24/05/2025
Các nhân tố tác động đến quyết định lựa chọn của người học với chương trình cử nhân du học tại chỗ ngành kinh tế và quản trị kinh doanh ở việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 Nội dung chương này tập trung vào giới thiệu những lý do cần thiết cần thực hiện nghiên cứu này, mục đích nghiên cứu và đối tượng, phạm vi của nghiên cứu. Chương này cũng cung cấp những đánh giá tổng quan về các nghiên cứu cùng chủ đề trên thế giới và tại Việt Nam, chỉ ra những khoảng trống nghiên cứu. Ngoài ra, khái quát về phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa của nghiên cứu, đóng góp mới và kết cấu chung của luận án cũng được giới thiệu trong chương này. 8 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ QUÁ TRÌNH LỰA CHỌN CHƯƠNG TRÌNH ĐẠI HỌC 2.

Các khái niệm cơ bản về giáo dục và giáo dục đại học 2.1 Định nghĩa về giáo dục Theo Từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê (2021), giáo dục có nghĩa là “Hoạt động nhằm tác động một cách có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của một đối tượng nào đó, làm cho đối tượng ấy dần dần có những phẩm chất và năng lực như yêu cầu đề ra”, còn nếu là một danh từ, giáo dục còn được hiểu là “Hệ thống các biện pháp và cơ quan giảng dạy - giáo dục của một nước”. Từ điển tiếng Việt của Nguyễn Lân (2006), giáo dục là “Quá trình hoạt động có ý thức, có mục đích, có kế hoạch nhằm bồi dưỡng cho người ta những phẩm chất đạo đức, những tri thức cần thiết về tự nhiên và xã hội, cũng như những kĩ năng, kĩ xảo cần thiết trong đời sống”. Bên cạnh đó, Đại Từ điển Tiếng Việt của Nguyễn Như Ý cũng chỉ ra “Giáo dục là quá trình tác động có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của con người, để họ dần dần có được những phẩm chất và năng lực như yêu cầu đề ra”. Bùi Hiền (2002), từ điển Giáo dục học, “Giáo dục là hoạt động hướng tới con người thông qua một hệ thống các biện pháp tác động nhằm truyền thụ bằng tri thức và khái niệm, rèn luyện kỹ năng và lối sống bồi dưỡng tư tưởng và đạo đức cần thiết cho đối tượng giúp hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất, nhân cách phù hợp với mục đích, mục tiêu chuẩn bị cho đối tượng tham gia hoạt động sản xuất và đời sống xã hội”.

Luật Giáo dục Việt Nam năm 2019 và các năm trước đó không định nghĩa giáo dục là gì nhưng có quy định về mục tiêu của giáo dục: “Mục tiêu giáo dục nhằm phát triển toàn diện con người Việt Nam có đạo đức, tri thức, văn hóa, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp; có phẩm chất, năng lực và ý thức công dân; có lòng yêu nước, tinh thần dân tộc, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; phát huy tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và hội nhập quốc tế”. Ngoài ra, một số định nghĩa liên quan như: “Giáo dục chính quy là giáo dục theo khóa học trong cơ sở giáo dục để thực hiện một chương trình giáo dục nhất định, được thiết lập theo mục tiêu của các cấp học, trình độ đào tạo và được cấp văn bằng của hệ thống giáo 9 dục quốc dân”; “Giáo dục thường xuyên là giáo dục để thực hiện một chương trình giáo dục nhất định, được tổ chức linh hoạt về hình thức thực hiện chương trình, thời gian, phương pháp, địa điểm, đáp ứng nhu cầu học tập suốt đời của người học”; và “Giáo dục bắt buộc là giáo dục mà mọi công dân trong độ tuổi quy định bắt buộc phải học tập để đạt được trình độ học vấn tối thiểu theo quy định của pháp luật và được Nhà nước bảo đảm điều kiện để thực hiện”. Một số nghiên cứu khác cũng đưa ra khái niệm về giáo dục, như Vũ Văn Hùng, Trần Việt Thảo và cộng sự (2020) giải thích “giáo dục là một hoạt động của xã hội loài người và nó mang tính tất yếu, bởi thông qua hoạt động này loài người mới có thể tiếp tục tồn tại, cải hóa thế giới và phát triển, hoàn thiện mình trong đời sống xã hội”. Hay Phạm Viết Vượng (1996) cho rằng “giáo dục là quá trình tổ chức cuộc sống hoạt động và giao lưu cho đối tượng giáo dục, nhằm giúp họ nhận thức đúng tạo lập tình cảm và thái độ đúng, phù hợp với chuẩn mực xã hội”.

Trong luận án này, giáo dục được hiểu đơn giản là quá trình tương tác để truyền thụ các kiến thức, tri thức cho người học (tiếp nhận) thông qua quá trình giảng dạy hoặc đào tạo. Phân loại giáo dục Phân loại giáo dục có nhiều tiêu chí khác nhau như quyền sở hữu, ngành nghề hay theo các cấp học khác nhau. Chẳng hạn, phân loại theo quyền sở hữu cơ sở giáo dục có thể chia làm hai nhom (1) giáo dục công lập và (2) giáo dục tư thục. Trong phạm vi của luận án này xem xét người học là sinh viên là một dạng phân loại theo cấp học.

Do đó, luận án cũng cấp cách phân loại theo cấp học theo quy định tại Việt Nam và phân loại theo thông lệ quốc tế. Phân loại giáo dục theo thông lệ quốc tế ISCED-2011 là một hệ thống phân loại giáo dục quốc tế được Liên Hợp Quốc xây dựng với mục đích cung cấp một nền tảng chung để thu thập, xử lý và phân tích dữ liệu giáo dục từ các quốc gia trên thế giới. Hệ thống này được áp dụng cho tất cả các cấp độ giáo dục, từ giáo dục mầm non đến giáo dục đại học và giáo dục nghiên cứu. Theo ISCED-2011, giáo dục được phân loại thành 9 cấp độ khác nhau dựa trên mục đích, nội dung và mức độ khó khăn của chương trình đào tạo.

Các cấp độ này bao gồm: Cấp độ 0: Giáo dục mầm non (từ 0 đến 3-4 tuổi) Cấp độ 1: Giáo dục tiền tiểu học (từ 4 đến 6 tuổi) Cấp độ 2: Giáo dục tiểu học (từ 6 đến 11-12 tuổi) 10 Cấp độ 3: Giáo dục trung học cơ sở (từ 11-12 đến 14-15 tuổi)Cấp độ 4: Giáo dục trung học phổ thông (từ 14-15 đến 18 tuổi) Cấp độ 5: Giáo dục nghề nghiệp hoặc giáo dục chuyên nghiệp cơ sở (từ 15-16 đến 18-19 tuổi) Cấp độ 6: Giáo dục cấp đại học hoặc giáo dục nghiên cứu (từ 18-19 đến 22-23 tuổi)Cấp độ 7: Giáo dục sau đại học hoặc giáo dục nghiên cứu cao cấp (từ 23 tuổi trở lên)Cấp độ 8: Giáo dục bổ sung và đào tạo liên tục (không giới hạn độ tuổi) Phân cấp giáo dục tại Việt Nam Phân cấp giáo dục Việt Nam theo quyết định số 1981/QĐ-TTg năm 2016 khá tương đồng với phân cấp ISCED-2011. Theo đó phân cấp hệ thống giáo dục tại Việt Nam có 8 cấp từ giáo dục mầm non đến đào tạo tiến sĩ. Cụ thể theo quy định tại khoản 2, Điều 1 của Quyết định 1981/QĐ-Ttg năm 2016 quy định: Các cấp học và trình độ đào tạo của hệ thống giáo dục quốc dân bao gồm: a) Giáo dục mầm non gồm giáo dục nhà trẻ và giáo dục mẫu giáo; b) Giáo dục phổ thông gồm giáo dục tiểu học, giáo dục trung học cơ sở và giáodục trung học phổ thông; c) Giáo dục nghề nghiệp đào tạo các trình độ sơ cấp, trung cấp và cao đẳng; d) Giáo dục đại học đào tạo các trình độ đại học, thạc sĩ và tiến sĩ. Trong đó, chương trình đào tạo trình độ đại học tiếp nhận người đã tốt nghiệp trung học phổ thông; người đã tốt nghiệp trình độ trung cấp và đã học và thi đạt yêu cầu đủ khối lượng kiến thức văn hóa trung học phổ thông theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo; người đã tốt nghiệp trình độ cao đẳng.

Chương trình đào tạo đại học có thời gian tương đương 3 đến 5 năm học tập trung đối với người tốt nghiệp trung học phổ thông hoặc người đã tốt nghiệp trình độ trung cấp và đã học và thi đạt yêu cầu đủ khối lượng kiến thức văn hóa trung học phổ thông theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Người tốt nghiệp trình độ đại học có thể học tiếp lên thạc sĩ theo hướng chuyên môn phù hợp hoặc được nhận vào học các hướng chuyên môn khác nếu đáp ứng được điều kiện của chương trình đào tạo. Người tốt nghiệp trình độ đại học có kết quả học tập xuất sắc có thể được xét tuyển thẳng vào chương trình đào tạo trình độ tiến sĩ đúng hướng chuyên môn ở trình độ đại học. Giáo dục đại học 2.

Khái niệm giáo dục đại học Như đã thảo luận ở trên, trong phân cấp giáo dục thì giáo dục đại học là một cấp học quan trọng trong hệ thống giáo dục của tất cả các quốc gia hiện đại. Theo các quy định hiện hành của Luật giáo dục Đại học tại Việt Nam quy định giáo dục đại học như sau: Luật Giáo dục có nêu: Điều 38: “Các trình độ đào tạo giáo dục đại học: Giáo dục đại học đào tạo trình độ đại học, trình độ thạc sĩ, trình độ tiến sĩ”. Điều 39: “Mục tiêu của giáo dục đại học: 1. Đào tạo nhân lực trình độ cao, nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài; nghiên cứu khoa học và công nghệ tạo ra tri thức, sản phẩm mới, phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế - x ã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, hội nhập quốc tế.

Đào tạo người học phát triển toàn diện về đức, trí, thể, mỹ; có tri thức, kỹ năng, trách nhiệm nghề nghiệp; có khả năng nắm bắt tiến bộ khoa học và công nghệ tương xứng với trình độ đào tạo, khả năng tự học, sáng tạo, thích nghi với môi trường làm việc; có tinh thần lập nghiệp, có ý thức phục vụ Nhân dân”. Điều 4 Luật Giáo dục Đại học đề cập “Cơ sở giáo dục đại học là cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân, thực hiện chức năng đào tạo các trình độ của giáo dục đại học, hoạt động khoa học và công nghệ, phục vụ cộng đồng” hay “Đại học là cơ sở giáo dục đại học đào tạo, nghiên cứu nhiều lĩnh vực, được cơ cấu tổ chức theo quy định của Luật này; các đơn vị cấu thành đại học cùng thống nhất thực hiện mục tiêu, sứ mạng, nhiệm vụ chung” chứ chưa hề có nhắc đến định nghĩa giáo dục đại học. Nhiều nhà nghiên cứu cũng đã nêu các khái niệm về giáo dục đại học: Nguyễn Bá Cần (2009) cho rằng “Giáo dục đại học là bậc sau cùng trong hệ thống giáo dục và đào tạo của mỗi nước; đào tạo đội ngũ lao động lành nghề, bao gồm các nhà khoa học, các chuyên gia, kỹ sư và những cán bộ chuyên môn kỹ thuật ở các trình độ khác nhau.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ