Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển du lịch và các nhân tố ảnh hƣởng tới sự phát triển ngành du lịch. Phƣơng pháp nghiên cứu. Đo lƣờng các nhân tố ảnh hƣởng tới sự phát triển của ngành du lịch tỉnh Quảng Ninh.
Giải pháp tăng cƣờng sự phát triển của ngành du lịch tỉnh Quảng Ninh. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 6 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG TỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA NGÀNH DU LỊCH 1. Lý luận cơ bản về phát triển du lịch 1. Lý luận về du lịch và kinh tế du lịch 1.
Khái niệm về du lịch Hiện nay trên thế giới cũng có nhiều khái niệm về du lịch, tuỳ thuộc vào góc độ tiếp cận du lịch khác nhau của mỗi quan điểm. Ngành Du lịch học cho rằng: “Du lịch là tổng thể của những hiện tƣợng và những mối quan hệ phát sinh từ sự tác động qua lại lẫn nhau giữa khách du lịch, những nhà kinh doanh du lịch, chính quyền sở tại và cộng đồng dân cƣ địa phƣơng trong quá trình thu hút và lƣu giữ khách du lịch”. Theo Tổ chức Du lịch Thế giới (WTO) thì: “Du lịch là tập hợp các mối quan hệ, các hiện tƣợng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ sự hình thành và lƣu trú của các cá thể ở bên ngoài nơi ở thƣờng xuyên với mục đích hoà bình và nơi họ đến không phải là nơi họ làm việc”. Luật Du lịch của Việt Nam đƣợc Quốc hội thông qua tháng 6/2005 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2006 định nghĩa:” Du lịch là một trong những hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con ngƣời ngoài nơi cƣ trú thƣờng xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dƣỡng trong khoảng thời gian nhất định”.
Căn cứ vào phạm vi lãnh thổ của chuyến đi ngƣời ta thƣờng phân biệt hai hình thức du lịch đó là du lịch nội địa và du lịch quốc tế. Du lịch nội địa là loại hình du lịch mà điểm xuất phát và điểm đến du lịch cùng nằm trong biên giới của một quốc gia. Du lịch quốc tế là loại hình du lịch mà điểm xuất phát và điểm đến du lịch nằm trên hai hoặc nhiều nƣớc khác nhau. Khái niệm về ngành du lịch Ngành du lịch là ngành cung cấp các loại sản phẩm và dịch vụ cho khách du Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 7 lịch tiến hành hoạt động lữ hành, du ngoạn, tham quan nhằm mục đích thu phí.
Ngành du lịch lấy du khách làm đối tƣợng, lấy tài nguyên du lịch làm chỗ dựa, lấy cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch làm điều kiện vật chất, cung cấp các loại sản phẩm và dịch vụ cho hoạt động du lịch. Ngành du lịch đóng vai trò thiết lập mối liên hệ giữa du khách với tài nguyên du lịch, đồng thời thông qua hoạt động kinh doanh của mình thúc đẩy sự phát triển kinh tế của địa phƣơng, khu vực. Ngành du lịch chủ yếu do các nhân tố chính sau hình thành: các công ty du lịch, hệ thống giao thông du lịch, các khách sạn du lịch, tổ chức quản lý du lịch các cấp. Phân loại du lịch Căn cứ vào nhu cầu của khách du lịch, tiềm năng du lịch và khả năng thực tế để hình thành các thể loại du lịch.
Thể loại du lịch phát triển không ngừng do nhu cầu ngày càng đa dạng và nâng cao của du lịch. Nhìn chung xu thế du lịch thế giới hiện nay diễn ra theo hai thể loại lớn: du lịch xanh và du lịch văn hoá. Du lịch xanh Du lịch xanh là du lịch hoà mình vào thiên nhiên xanh với rất nhiều mục tiêu khác nhau nhƣ ngoạn cảnh, tắm biển, săn bắn, leo núi, nghỉ dƣỡng, chữa bệnh. Trong du lịch xanh, xu hƣớng du lịch điền dã - đến các làng quê, bản làng đang thu hút ngày càng nhiều khách du lịch.
Các công ty du lịch thuộc các tỉnh phía nam nƣớc ta cũng đang đẩy mạnh du lịch điền dã nhƣ: du lịch kênh rạch, du lịch miệt vƣờn. Phía Bắc, điểm du lịch bản làng Hoà Bình, du lịch sông Cầu, du lịch rừng Cúc Phƣơng, làng Vải Thanh Hà cũng đang chú trọng phát triển. Chúng ta phải hết sức coi trọng du lịch điền dã, bởi đây là thế mạnh của ta, vì Việt Nam là quê hƣơng của làng lúa nƣớc và mỗi làng vẫn còn giữ đƣợc nét nguyên bản của nó, phản ánh nền văn minh nông nghiệp, rất thú vị và hấp dẫn cho mọi loại khách. Du lịch văn hoá Du lịch văn hoá là loại hình mà du khách muốn đƣợc thẩm nhận bề dày lịch sử, bề dày văn hoá của một nƣớc, thông qua các di tích lịch sử, các di tích văn hoá, những phong tục tập quán còn hiện diện bao gồm hệ thống đình, đền, chùa, nhà thờ, lễ hội, các phong tục tập quán về ăn, mặc, ở, giao tiếp.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 8 Nƣớc ta rất có điều kiện để phát triển loại hình du lịch này đặc biệt các tỉnh vùng đồng bằng Bắc Bộ, trong đó có thủ đô Hà Nội và vùng phụ cận có mật độ về di tích lớn. Do đó cần chú trọng đầu tƣ tôn tạo, sửa chữa các di tích để thu hút ngày càng nhiều khách du lịch trong nƣớc và quốc tế. Nguồn lực để phát triển du lịch a) Nguồn lực nhân văn Nƣớc ta có dày truyền thống văn hoá lâu đời. Hiện nay có nhiều di tích văn hoá, di tích lịch sử đã xếp hạng nhƣ: Văn Miếu (Hà Nội), cố đô Huế, phố cổ Hội An (Đà Nẵng),Yên Tử (Quảng Ninh), thánh địa Mỹ Sơn (Đà Nẵng), chùa hƣơng (Hà Tây).
Dựa vào các yếu tố này để tổ chức các lể hội truyền thống hàng năm nhằm thu hút thập phƣơng về tham gia và tham quan. b) Nguồn lực thiên nhiên đa dạng Tiềm năng ở dạng tự nhiên bao gồm: Cảnh quan, hệ sinh thái thực vật, khí hậu, thổ nhƣỡng, sông ngòi, hang đọng, triền núi. nhiều và rãi khắp đất nƣớc nhƣ: du lịch Sa Pa (Lai Châu); du lịch động Nhất Thanh, Nhị Thanh, Tam Thanh (Lạng Sơn); Vịnh Hạ Long (Quảng Ninh); Du lịch Bạch Long Vĩ, Đồ Sơn, Cát Bà (Hải Phòng); vƣờn quốc gia Ba Vì (Hà Tây); rừng cấm quốc gia Tam Đảo (Vĩnh Phúc); Bích Động, động Địch Lộng (Ninh Bình); du lịch biển Sầm Sơn (Thanh Hoá); du lịch Cửa Lò (Nghệ An); du lịch động Phong Nha (Quảng Bình); du lịch sông Hƣơng, núi Ngự (Huế); du lịch biển Nha Trang; thắng cảnh ở Đà Lạt; du lịch đảo Phú Quốc;. Nếu có chiến lƣợc đầu tƣ và khai thác hợp lí những tiềm năng này, chúng ta sẽ tạo đà cho kinh tế vùng đó phát triển, tạo việc làm và thu nhập cho ngƣời lao động.
c) Dân cư và lao động Lao động của con ngƣời là yếu tố quan trọng đảm bảo cho nền sản xuất tồn tại và phát triển. Trong các tổ chức kinh doanh du lịch cũng vậy, lực lƣợng lao động đóng vai trò quan trọng, họ thực hiện nhiệm vụ kinh doanh, tạo ra thu nhập quốc dân, làm cho ngành du lịch vận động vá phát triển. Hơn thế nữa, những ngƣời lao động trong Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 9 lĩnh vực du lịch còn thực hiện chức năng quan trọng thứ hai của mình là chức năng văn hoá, giao tiếp, là đại diện cho một đất nƣớc,một nền văn hoá trƣớc du khách nƣớc nƣớc ngoài. Khách du lịch nƣớc ngoài tiếp xúc với một đất nƣớc mới lạ với một nền văn hoá mới mẽ, trƣớc hết là thông qua hƣớng dẫn viên, lái xe, đến phục vụ buồng, bếp, bả, những nhân viên này là cầu nối tình hữu nghị, mang những thông điệp đặc trƣng về đất nƣớc mình và nền văn hoá của đất nƣớc mình, thuyết phục khách du lịch bằng những việc làm cụ thể và bằng những việc cụ thể và bằng văn hoá du lịch của mình.
Nhƣ vậy, cố lƣợng,chất lƣợng,và cơ cấu lao động trong ngành du lịch nói chung, trong tổ chức kinh doanh du lịch nói riêng, sẽ quyết định chất lƣợng công tác kinh doanh của ngành và của tổ chức du lịch đó. d) Cơ sở vật chất kỹ thuật, thiết bị hạ tầng Cơ sở vật chất kỹ thuật, thiết bị hạ tầng có vai trò đặc biệt đối với việc đẩy mạnh du lịch. Trong hoạt động du lịch, nếu mạng lƣới và các phƣơng tiện giao thông vận tải phục vụ cho việc đi lại của con ngƣời mà tốt sẽ thu hút đƣợc nhiều ngƣời đi du lịch bởi vì những ngƣời đi du lịch có ít thời gian vẫn có thể tham gia du lịch dƣới hình thức “du lịch ngắn ngày”. Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch cũng đóng một vai trò hết sức quan trọng trong quá trình tạo ra và thực hiện sản phẩm du lịch cũng nhƣ quyết định mức độ khác các tiềm năng du lịch nhằm thoả mãn các nhu cầu của khách du lịch.
Do đó để phát triển du lịch thì chúng ta phải đầu tƣ xây dựng và hoàn thiện cơ sở vật chất kỹ thuật nhƣ: các khách sạn, nhà hàng, camping, cửa hiệu, trạm cung cấp xãng dầu, trạm y tế, nơi vui chơi thể thao. e) Đường lối chính sách Đƣờng lối chính sách là điều kiện quan trọng có tác động thúc đẩy hoặc kìm hãm phát triển du lịch. Có một cơ chế thông thoáng, rõ ràng, thống nhất về đầu tƣ phát triển du lịch, về vấn đề đón khách quốc tế (thủ tục vào tham quan Việt Nam). sẽ tạo điều kiện cho khách du lịch phát triển và khuyến khích mọi thành phần kinh Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 10 tế, nhà đầu tƣ nƣớc ngoài vào du lịch thu hút ngày càng đong khách đến tham quan các điểm du lịch.
f) Nguồn lực bên ngoài Việc đặt các văn phòng đại diện ở nƣớc ngoài sẽ giúp cho sự quảng bá ngày càng rộng rãi về các di tích, lễ hội, danh lam thắng cảnh. của Việt Nam với bạn bè quốc tế để thu hút mọi ngƣời đến tham quan và đầu tƣ ở Việt Nam. Đồng thời cũng tạo điều kiện cho các nƣớc hợp tác với Việt Nam để hình thành tuyến du lịch xuyên quốc gia, đáp ứng mọi nhu cầu của khách hàng. Đặc điểm của tiêu dùng du lịch Ngành du lịch có tác động tích cực đến nền kinh tế của đất nƣớc và của một vùng thông qua việc tiêu dùng của khách du lịch.
Do đó hiểu rõ những đặc điểm tiêu dùng du lịch sẽ giúp các nhà đầu tƣ định hƣớng và đƣa ra những chiến lƣợc đầu tƣ đúng nhằm khai thác triệt để những lợi thế của mình.