Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Kinh tế du lịch (mã số: 9310110), thuộc ngành Quản lý kinh tế của nghiên cứu sinh Thân Trọng Thụy, được thực hiện tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân năm 2019 dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Lê Anh Tuấn và PGS. Nguyễn Văn Mạnh, mang tiêu đề: "Các nhân tố ảnh hưởng đến lòng trung thành của du khách tại các điểm du lịch tâm linh ở Việt Nam".
Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ sự phát triển của ngành Du lịch Việt Nam từ khi đổi mới năm 1986. Theo số liệu của Tổng cục Du lịch (2018), lượng khách quốc tế đến Việt Nam tăng từ 6 triệu lượt năm 2011 lên gần 13 triệu lượt năm 2017; khách nội địa tăng từ 30 triệu lượt năm 2011 lên 73 triệu lượt năm 2017. Doanh thu du lịch năm 2017 đạt gần 515 nghìn tỷ đồng (tương đương 23 tỷ USD), tăng trưởng hơn 25% so với năm 2016, đóng góp trực tiếp khoảng 7% GDP và giải quyết gần 8 triệu việc làm trực tiếp lẫn gián tiếp. Việt Nam xếp thứ 30/136 quốc gia về sự đa dạng tài nguyên văn hóa theo Diễn đàn Kinh tế Thế giới (World Economic Forum, 2017). Trong đó, du lịch tâm linh đóng vai trò quan trọng: theo Tổng cục Du lịch (2014), các hình thức hành hương, tham gia lễ hội tôn giáo chiếm hơn 42% tổng lượng khách nội địa với gần 15 triệu lượt viếng thăm. Việt Nam sở hữu 6 di sản văn hóa vật thể thế giới và 12 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO công nhận (tính đến năm 2017), cùng trên 25.000 cơ sở thờ tự thuộc 13 tôn giáo (Bộ Ngoại giao, 2016) với nhiều địa danh như chùa Hương Tích (Hà Nội), chùa Yên Tử (Quảng Ninh), chùa Bái Đính (Ninh Bình), Thánh địa La Vang (Quảng Trị), chùa Thiên Mụ (Thừa Thiên Huế), chùa Linh Ứng Bãi Bụt (Đà Nẵng), Côn Đảo (Bà Rịa - Vũng Tàu), Núi Bà Đen (Tây Ninh), Núi Sam (An Giang).
Tuy nhiên, hoạt động du lịch tâm linh ở Việt Nam còn bộc lộ hạn chế như thiếu tính chuyên nghiệp, chưa phát triển tương xứng và tồn tại biểu hiện tiêu cực tại một số điểm đến. Về mặt học thuật, các nghiên cứu trước đây về sự hài lòng và lòng trung thành của du khách chủ yếu tập trung vào du lịch biển (Sun và cộng sự, 2013), du lịch nghỉ dưỡng (Phan Minh Đức và Đào Trung Kiên, 2017) hoặc điểm đến tôn giáo ở nước ngoài (Piewdang và cộng sự, 2013; Nyaupane và cộng sự, 2015). Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là sự thiếu vắng các mô hình đánh giá ảnh hưởng của các nhân tố đến tính hấp dẫn điểm đến, sự hài lòng và thái độ cam kết quay trở lại của du khách trong mối quan hệ gắn liền với niềm tin tâm linh tại bối cảnh Việt Nam.
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát là xây dựng và kiểm chứng mô hình nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của các nhân tố khác nhau tới tính hấp dẫn điểm đến, sự hài lòng và lòng trung thành của du khách trong mối quan hệ với niềm tin tâm linh đối với các điểm đến du lịch tâm linh tại Việt Nam.
Các mục tiêu nghiên cứu cụ thể bao gồm:
- Thứ nhất, xác định các nhân tố phản ánh hình ảnh điểm đến và các nhân tố ảnh hưởng tới hình ảnh điểm đến, sự hài lòng và lòng trung thành của du khách đối với các điểm đến tâm linh tại Việt Nam.
- Thứ hai, đánh giá ảnh hưởng trung gian của các nhân tố phản ánh hình ảnh điểm đến và các nhân tố khác tới sự hài lòng và lòng trung thành của du khách đối với các điểm đến tâm linh tại Việt Nam.
- Thứ ba, đề xuất các gợi ý và khuyến nghị nhằm nâng cao tính hấp dẫn của điểm đến du lịch tâm linh để thu hút du khách, tạo ra sự hài lòng và nâng cao tính trung thành của du khách với các điểm đến du lịch tâm linh tại Việt Nam.
Luận án đặt ra bốn câu hỏi nghiên cứu:
- Một là: Những nhân tố nào hình thành hình ảnh điểm đến du lịch để thu hút du khách tại các điểm đến du lịch tâm linh?
- Hai là: Có những nhân tố nào tác động đến cảm nhận của du khách về hình ảnh điểm đến, sự hài lòng và lòng trung thành của họ đối với các điểm đến du lịch tâm linh trong mối quan hệ với niềm tin tâm linh?
- Ba là: Có sự khác biệt như thế nào về mức độ ảnh hưởng của các nhân tố khác nhau tới hình ảnh điểm đến, sự hài lòng cũng như lòng trung thành của du khách với các điểm đến du lịch tâm linh tại Việt Nam?
- Bốn là: Làm thế nào để tạo dựng hình ảnh tích cực về điểm đến du lịch tâm linh, cải thiện sự hài lòng và gia tăng lòng trung thành của du khách để phát triển du lịch tâm linh bền vững?
Đối tượng nghiên cứu là các nhân tố ảnh hưởng tới lòng trung thành của du khách với các điểm đến du lịch tâm linh. Phạm vi nghiên cứu về mặt thời gian và không gian bao gồm: các dữ liệu thứ cấp về thực trạng hoạt động du lịch tâm linh tại Việt Nam được thu thập trong giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2017; dữ liệu sơ cấp điều tra, khảo sát khách du lịch được tiến hành tại các địa điểm du lịch tâm linh nổi tiếng tại Việt Nam trong năm 2017.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan tài liệu trong luận án được tác giả phân loại theo ba mạch nghiên cứu chính:
Thứ nhất là các nghiên cứu về bản chất của tâm linh và niềm tin tôn giáo. Tác giả điểm lại tiến trình nhận thức triết học và tâm lý học phương Tây từ thế kỷ XVII: Baruch Spinoza (1632–1667) cho rằng niềm tin tôn giáo hình thành khi con người gặp bế tắc và nương tựa vào lực lượng thần thánh; Ludwig Andreas Feuerbach (1804–1872) xem khách thể siêu nhiên nằm bên trong trạng thái tâm lý con người; Rudolf Otto (1869–1937) phân tích xúc cảm tôn giáo bắt nguồn từ sự gặp gỡ giữa con người và Đấng sáng tạo; Erich Fromm (1900–1980) xem niềm tin tôn giáo phát sinh từ xung đột hiện sinh; quan điểm duy vật của Karl Marx (1818–1883), Friedrich Engels (1820–1895) và V.I. Lenin phê phán tôn giáo là sự phản ánh hư ảo do bất lực trước tự nhiên. Tại Việt Nam, Đào Duy Anh (1957) định nghĩa tín ngưỡng là niềm tin vào cái thiêng đối lập với cái trần tục; Trần Ngọc Thêm (1997) định vị tín ngưỡng trong cấu trúc văn hóa tổ chức đời sống cá nhân từ tự phát lên tự giác; Phạm Minh Hạc (2004) tiếp cận tâm linh như khái niệm tâm lý gắn kết ba chiều thời gian: quá khứ, hiện tại và tương lai.
Thứ hai là các nghiên cứu về du lịch tâm linh và động cơ của du khách. Các khái niệm ban đầu được dẫn ra từ Chandler và cộng sự (1992), Rinschede (1992), Terzidou và cộng sự (2008), Mu và cộng sự (2007), Olsen (2013), Van Kamm (1986), Hawks (1994), Grof (1976), cùng các học giả Việt Nam như Nguyễn Văn Tuấn (2013), Phạm Văn Chiến (2016), Hà Văn Siêu, Thích Đạt Đạo và nhận định của A.J. Abdul Kalam. Về nghiên cứu thực nghiệm, tác giả tổng hợp công trình của Kemenidous và Vourous (2015) khảo sát 210 du khách tại đảo Lesvos (Hy Lạp); Drule và cộng sự (2012) khảo sát 1.600 du khách tại các tu viện Romania; Hyde và Harman (2011) nghiên cứu về hành hương thế tục của du khách Úc và New Zealand tại chiến trường Gallipoli (Thổ Nhĩ Kỳ); Teodorescu và cộng sự (2017) khảo sát hộ gia đình tại Romania về du lịch văn hóa - tâm linh; Kartal, Tepeci và Atli (2015) phỏng vấn sâu 14 chuyên gia tại thành phố Manisa (Thổ Nhĩ Kỳ); Jaelani, Setyawan và Hassyim (2016) nghiên cứu di sản tôn giáo và du lịch sáng tạo tại Indonesia; Lombard, Holland và Mensikotora (2011) phân tích thiết kế chiến lược và thương hiệu cảm xúc trong du lịch tâm linh; Haq và Wong (2010) khảo sát du khách Hồi giáo tại Úc; Raj và Krishna (2010) nghiên cứu du lịch sức khỏe tại Ấn Độ; Cheng và cộng sự (2009) dùng hồi quy logistic nghiên cứu tính hấp dẫn của điểm đến suối nước nóng tại Đài Loan; Jani và cộng sự (2009) khảo sát 286 du khách tại Ấn Độ. Tại Việt Nam, Nguyễn Trọng Nhân và Cao Mỹ Khanh (2014) chỉ ra 5 nhóm nhân tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch tâm linh tại An Giang (giá cả - dịch vụ - nhân lực, an ninh trật tự, hàng hóa - môi trường, giao thông, cơ sở vật chất); Trần Đức Anh Sơn và cộng sự (2015) khảo sát thực trạng và xây dựng các tour thử nghiệm du lịch văn hóa tâm linh tại Thừa Thiên Huế (điển hình tại Chùa Thiên Mụ, tượng đài Quan Thế Âm).
Thứ ba là các nghiên cứu về sự hài lòng và lòng trung thành của du khách. Tác giả phân tích mô hình của Bigné và cộng sự (2001) về tác động gián tiếp của hình ảnh điểm đến qua chất lượng dịch vụ và sự hài lòng đến ý định quay lại và mức độ sẵn sàng giới thiệu; Parasuraman và cộng sự (1985, 1988) về chất lượng dịch vụ; Um và cộng sự (2006) bổ sung biến số giá trị tiền bạc cảm nhận; Sun và cộng sự (2013) nghiên cứu điểm đến đảo Hải Nam xác định thang đo hình ảnh điểm đến đa hướng (gồm môi trường và hoạt động du lịch, tài nguyên thiên nhiên và văn hóa, tính quốc tế hóa) chịu tác động của tính quen thuộc và dẫn truyền qua giá trị cảm nhận, sự hài lòng đến lòng trung thành; Wu (2015) áp dụng thuyết hành vi có kế hoạch để giải thích lòng trung thành du khách quốc tế qua hình ảnh điểm đến và sự hài lòng.
Khoảng trống học thuật mà luận án lựa chọn giải quyết là: phần lớn các nghiên cứu trước đây tiếp cận lòng trung thành đối với du lịch nói chung, tách rời yếu tố thiêng liêng. Chưa có nghiên cứu nào tại Việt Nam mô hình hóa đồng thời cấu trúc đa hướng của hình ảnh điểm đến (tự nhiên - văn hóa, môi trường du lịch, cơ sở hạ tầng, hỗ trợ chính quyền) và đặt nó trong mối quan hệ tương tác với tính quen thuộc, thông tin truyền miệng, sự hài lòng, đặc biệt là vai trò của nhân tố "niềm tin tâm linh" trong việc hình thành lòng trung thành của du khách.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án xây dựng cơ sở lý thuyết dựa trên sự tích hợp giữa lý thuyết hành vi người tiêu dùng (theo hai hướng tiếp cận: tính duy lý kinh tế học và nhận thức - tâm lý xã hội trong marketing), lý thuyết về lòng trung thành khách hàng (các giai đoạn trung thành nhận thức, cảm xúc, ý định, hành vi; ma trận thái độ - hành vi mua lại), cùng các lý thuyết về hình ảnh điểm đến du lịch (Bigné và cộng sự, 2001; Um và cộng sự, 2006; Sun và cộng sự, 2013; Wu, 2015). Tác giả định nghĩa: "Du lịch tâm linh là hoạt động du lịch ngoài nơi cư trú thường xuyên gắn với niềm tin tâm linh cá nhân tại những địa điểm gắn với tâm linh. Du lịch tâm linh hướng tới thỏa mãn nhu cầu về tinh thần, tâm lý gắn với các niềm tin tâm linh, tin tưởng vào sức mạnh siêu nhiên, thánh thần". Luận án xác định hai thực thể cơ bản là "điểm đến du lịch tâm linh" và "khách du lịch tâm linh" dựa trên Luật Du lịch Việt Nam (2017) cùng quan điểm của Agapito và cộng sự (2013), Räikkönen và Honkanen (2013).
Mô hình nghiên cứu bao gồm các khái niệm và biến số chính:
- Tính quen thuộc (Familiarity);
- Thông tin truyền miệng (Word of Mouth - WOM);
- Hình ảnh điểm đến (thang đo đa hướng bậc hai gồm 4 thành tố: Hấp dẫn môi trường và hoạt động du lịch; Đặc điểm tự nhiên và văn hóa; Cơ sở hạ tầng; Hỗ trợ của chính quyền);
- Niềm tin tâm linh (thang đo được phát triển mới);
- Sự hài lòng của du khách;
- Lòng trung thành của du khách (thái độ cam kết quay lại và ý định giới thiệu).
Luận án áp dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp kết hợp định tính và định lượng:
- Nghiên cứu định tính: Tác giả tiến hành tổng quan tài liệu thứ cấp, phỏng vấn sâu và thảo luận chuyên gia (thực hiện theo Bảng câu hỏi phỏng vấn chuyên gia tại Phụ lục 01 với Danh sách chuyên gia tại Phụ lục 02). Nghiên cứu định tính phục vụ mục đích thiết kế quy trình phát triển thang đo mới cho biến "niềm tin tâm linh", đồng thời điều chỉnh, hoàn thiện các biến quan sát cho thang đo hình ảnh điểm đến, tính quen thuộc, sự hài lòng và lòng trung thành sao cho phù hợp với đặc thù văn hóa - tâm linh tại Việt Nam.
- Nghiên cứu định lượng: Thiết kế bảng câu hỏi điều tra chính thức với thang đo Likert 5 mức độ. Mẫu khảo sát được thu thập từ khách du lịch tại các điểm đến du lịch tâm linh tiêu biểu trong năm 2017.
- Công cụ và kỹ thuật phân tích số liệu: Luận án sử dụng phần mềm SPSS và AMOS để thực hiện các quy trình phân tích:
- Thống kê mô tả mẫu điều tra và đặc điểm hoạt động du lịch tâm linh;
- Đánh giá sơ bộ và chính thức độ tin cậy của thang đo bằng hệ số Cronbach's Alpha;
- Phân tích nhân tố khám phá (EFA);
- Phân tích nhân tố khẳng định (CFA) cho thang đo đa hướng bậc hai (hình ảnh điểm đến) và các thang đo đơn hướng nhằm kiểm định độ tin cậy tổng hợp (CR), giá trị hội tụ và giá trị phân biệt (dựa trên khoảng tin cậy 95% của các hệ số tương quan);
- Phân tích mô hình tới hạn và phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM chuẩn hóa) để kiểm định các giả thuyết nghiên cứu, sử dụng các chỉ số mức độ phù hợp: Chi-square/df, CFI, TLI, IFI, RMSEA;
- Đánh giá tính vững của mô hình cấu trúc bằng kỹ thuật Bootstrap;
- Phân tích tác động tổng hợp (trực tiếp và gián tiếp chuẩn hóa) của các nhân tố đến lòng trung thành;
- Đánh giá điểm trung bình, độ lệch chuẩn và khoảng tin cậy 95% giá trị trung bình của các biến số;
- Phân tích sai biệt bằng kiểm định Independent Samples T-test, ANOVA và kiểm định hậu định (Post-hoc) theo các biến phân loại nhân khẩu học; phân tích đa nhóm.
Nguồn dữ liệu của luận án gồm: dữ liệu thứ cấp từ Tổng cục Du lịch (giai đoạn 2012–2017), Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF 2017), UNESCO (2006, 2017), Bộ Ngoại giao (2016), Pew Research Center (2017), UNWTO (2011); dữ liệu sơ cấp từ các cuộc phỏng vấn chuyên gia và khảo sát du khách thực tế tại các điểm đến tâm linh ở Việt Nam trong năm 2017.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Giới thiệu chung về luận án
Chương 1 thiết lập khung tổng thể của đề tài nghiên cứu. Tác giả trình bày bối cảnh tăng trưởng của ngành Du lịch Việt Nam từ sau Đổi mới (1986) đến năm 2017, nhấn mạnh sự gia tăng của dòng khách quốc tế (gần 13 triệu) và khách nội địa (73 triệu), đóng góp 7% GDP và doanh thu gần 515 nghìn tỷ đồng. Chương này chứng minh tính cấp thiết của du lịch tâm linh khi loại hình này chiếm 42% thị phần khách nội địa (15 triệu lượt khách năm 2014) trên nền tảng hơn 25.000 cơ sở thờ tự của 13 tôn giáo cùng các di sản vật thể và phi vật thể quốc tế. Tác giả xác định đối tượng nghiên cứu, phạm vi không gian và thời gian (dữ liệu thứ cấp 2012–2017, điều tra sơ cấp 2017), đặt ra 3 mục tiêu nghiên cứu cụ thể, 4 câu hỏi nghiên cứu, tóm tắt phương pháp kết hợp định tính - định lượng, nêu rõ các điểm mới về khoa học, thực tiễn và kết cấu 5 chương của luận án.
Chương 2: Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý thuyết về các nhân tố ảnh hưởng tới sự trung thành của du khách
Chương 2 thực hiện tổng quan có hệ thống các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế về tâm linh, du lịch tâm linh, sự hài lòng và lòng trung thành của du khách. Tác giả phân tích nguồn gốc niềm tin tâm linh qua các trường phái triết học và tôn giáo học, phân loại các sản phẩm du lịch tâm linh đặc trưng thành 3 nhóm chính:
- Sản phẩm tham bái theo nghi thức tôn giáo tín ngưỡng thuần túy;
- Sản phẩm tham quan du lịch kết hợp tham bái, hành lễ;
- Sản phẩm du lịch tâm linh mang tính thiền; cùng các loại hình khám phá địa danh, gắn với hành lễ, tham gia khóa tu thiền và du lịch hành hương.
Chương này cũng phân tích vai trò của khai thác, phát triển du lịch tâm linh trên 4 phương diện: kinh tế (chuyển dịch cơ cấu, tạo việc làm, xuất khẩu tại chỗ, tăng thu ngoại tệ), xã hội (giảm nghèo, hạn chế di cư, giải quyết lao động, nâng cao dân trí nhưng tiềm ẩn tệ nạn xã hội), văn hóa (giao lưu văn hóa, khôi phục di sản và nghệ thuật truyền thống như tuồng, chèo, ca Huế, ca trù, hát Xoan nhưng cần tránh xói mòn bản sắc), và môi trường (bảo tồn sinh thái, kiểm soát rác thải và ô nhiễm). Đồng thời, tác giả luận giải các điều kiện hỗ trợ phát triển (tự nhiên, kinh tế, văn hóa - xã hội, con người, cơ sở hạ tầng - kỹ thuật) và các lý thuyết hành vi người tiêu dùng, lòng trung thành. Trên cơ sở đó, tác giả xây dựng mô hình nghiên cứu đề xuất và thiết lập các giả thuyết nghiên cứu liên kết giữa tính quen thuộc, thông tin truyền miệng, hình ảnh điểm đến đa hướng, niềm tin tâm linh, sự hài lòng và lòng trung thành của du khách.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3 trình bày chi tiết thiết kế nghiên cứu theo quy trình hai giai đoạn. Giai đoạn định tính sử dụng phỏng vấn chuyên gia để xây dựng quy trình phát triển thang đo mới cho nhân tố "niềm tin tâm linh" và hiệu chỉnh thang đo các biến số tiếp thu từ y văn quốc tế. Giai đoạn định lượng trình bày quy trình chọn mẫu, thu thập dữ liệu bằng bảng hỏi khảo sát tại các điểm đến tâm linh năm 2017. Tác giả trình bày phương pháp đánh giá sơ bộ thang đo qua độ tin cậy Cronbach's Alpha và phân tích nhân tố khám phá (EFA). Tiếp đó là quy trình đánh giá chính thức thang đo bằng phân tích nhân tố khẳng định (CFA) trên AMOS đối với mô hình bậc hai của hình ảnh điểm đến và các mô hình đơn hướng, xác lập tiêu chuẩn kiểm định độ tin cậy tổng hợp (CR), phương sai trích (AVE), giá trị hội tụ và giá trị phân biệt. Tác giả mô tả chi tiết phương pháp phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM), kiểm định mô hình tới hạn, kiểm định tính vững của ước lượng qua Bootstrap, phân tích đa nhóm, cùng các phép kiểm định thống kê so sánh trung bình (T-test, ANOVA và kiểm định hậu định Post-hoc).
| Nhóm phương pháp |
Kỹ thuật / Công cụ thực hiện |
Mục đích trong luận án |
| Nghiên cứu định tính |
Tổng quan tài liệu, phỏng vấn sâu chuyên gia (Phụ lục 01, 02) |
Xây dựng quy trình phát triển thang đo mới "niềm tin tâm linh"; hiệu chỉnh các thang đo hình ảnh điểm đến, sự hài lòng, lòng trung thành. |
| Nghiên cứu định lượng sơ bộ |
Thống kê mô tả, hệ số Cronbach's Alpha, EFA trên SPSS |
Kiểm tra sơ bộ độ tin cậy và cấu trúc các biến quan sát của từng thang đo thành phần. |
| Nghiên cứu định lượng chính thức |
CFA (bậc hai và đơn hướng) trên AMOS |
Kiểm định độ tin cậy tổng hợp (CR), giá trị hội tụ, giá trị phân biệt qua khoảng tin cậy 95% hệ số tương quan. |
| Kiểm định mô hình và giả thuyết |
Mô hình tới hạn, SEM chuẩn hóa trên AMOS |
Đo lường mức độ phù hợp mô hình (Chi-square/df, CFI, TLI, IFI, RMSEA) và kiểm định các mối quan hệ tác động. |
| Kiểm định tính vững & khác biệt |
Bootstrap, Independent T-test, ANOVA, Post-hoc |
Đánh giá tính vững của các ước lượng tham số; xác định sai biệt về lòng trung thành theo đặc điểm nhân khẩu học du khách. |
Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Chương 4 trình bày toàn bộ kết quả phân tích số liệu thực nghiệm. Phần đầu khái quát hiện trạng tài nguyên du lịch tâm linh tại Việt Nam qua các bảng danh mục đình làng và địa danh tâm linh tiêu biểu. Thống kê mô tả mẫu nghiên cứu làm rõ các đặc điểm nhân khẩu học của du khách: cơ cấu độ tuổi, nghề nghiệp, giới tính, mức thu nhập hàng tháng, tần suất tham gia du lịch tâm linh và thành phần tôn giáo - tín ngưỡng.
Kết quả đánh giá thang đo chính thức xác nhận tính hợp lệ của thang đo đa hướng bậc hai hình ảnh điểm đến (gồm 4 nhân tố thành phần) và các thang đo đơn hướng (tính quen thuộc, thông tin truyền miệng, niềm tin tâm linh, sự hài lòng, lòng trung thành). Phân tích khoảng tin cậy 95% hệ số tương quan khẳng định giá trị phân biệt giữa các biến số trong mô hình; các hệ số độ tin cậy tổng hợp (CR) và giá trị hội tụ đều đạt chuẩn học thuật. Kết quả phân tích mô hình tới hạn và mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM chuẩn hóa) khẳng định mô hình nghiên cứu đạt độ tương thích cao với dữ liệu thực tế, kiểm chứng thành công các giả thuyết về tác động trực tiếp và gián tiếp của tính quen thuộc, thông tin truyền miệng, hình ảnh điểm đến và niềm tin tâm linh đến sự hài lòng và lòng trung thành của du khách. Kiểm định Bootstrap xác nhận tính vững của các ước lượng. Tác giả tính toán bảng tác động tổng hợp chuẩn hóa đến thái độ cam kết quay lại, phản ánh thực trạng điểm đánh giá trung bình của du khách đối với từng nhân tố. Cuối cùng, kết quả kiểm định T-test và ANOVA (kèm phân tích hậu định Post-hoc) chỉ rõ sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về mức độ trung thành của du khách theo giới tính, các nhóm độ tuổi, nghề nghiệp, thu nhập, tần suất đi du lịch tâm linh và tôn giáo.
Chương 5: Thảo luận và các hàm ý nghiên cứu
Chương 5 thảo luận sâu sắc các phát hiện nghiên cứu trong sự đối sánh với các công trình lý thuyết trước đây. Tác giả khẳng định niềm tin tâm linh là biến số then chốt tương tác với cảm nhận về hình ảnh điểm đến để định hình sự hài lòng và ý định quay trở lại của khách du lịch. Dựa trên các kết quả định lượng, chương này đề xuất hệ thống giải pháp và khuyến nghị quản lý tập trung vào 4 nhóm nội dung lớn:
- Nâng cao tính hấp dẫn của điểm đến du lịch tâm linh (bảo tồn cảnh quan thiên nhiên nguyên sơ, phát triển sản phẩm du lịch văn hóa đặc sắc, nâng cao ý thức cộng đồng dân cư bản địa, tăng cường hỗ trợ từ chính quyền địa phương);
- Cải thiện sự hài lòng của du khách với các hoạt động trải nghiệm du lịch tâm linh tại điểm đến;
- Phát triển các sản phẩm du lịch gắn liền với niềm tin tâm linh phù hợp từng hệ thống tôn giáo, tín ngưỡng;
- Thúc đẩy tương tác xã hội và xây dựng tính thân thuộc của điểm đến với du khách. Đồng thời, chương này đưa ra khuyến nghị phối hợp liên ngành giữa các tổ chức tôn giáo và cơ quan quản lý nhà nước, chỉ ra các hạn chế của luận án và gợi mở hướng nghiên cứu tiếp theo.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự xác định các đóng góp mới về mặt khoa học, lý luận và thực tiễn như sau:
Về lý luận và khoa học:
- Thứ nhất, luận án đã hệ thống hóa và khái quát hóa cơ sở lý luận về tâm linh và du lịch tâm linh; đồng thời làm rõ mối quan hệ giữa những nhân tố chính ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp tới sự hài lòng và lòng trung thành của du khách tại các điểm đến du lịch tâm linh ở Việt Nam.
- Thứ hai, luận án thiết lập thành công mô hình cấu trúc đánh giá các nhân tố phản ánh hình ảnh điểm đến đa hướng và tác động của chúng tới sự hài lòng, lòng trung thành của du khách dưới sự chi phối của niềm tin tâm linh – một nhân tố mang tính bản chất, không thể tách rời khỏi hoạt động du lịch tâm linh nhưng trước đây chưa được tích hợp đầy đủ.
- Thứ ba, thông qua quy trình nghiên cứu định tính chặt chẽ kết hợp đánh giá chuyên gia, tác giả đã phát triển được bộ thang đo mới cho nhân tố "niềm tin tâm linh" đối với hoạt động du lịch tâm linh. Bên cạnh đó, tác giả đã hiệu chỉnh các chỉ tiêu đo lường hình ảnh điểm đến, tính quen thuộc, sự hài lòng và lòng trung thành phù hợp với bối cảnh thực tiễn Việt Nam. Các thang đo này đều vượt qua các kiểm định độ tin cậy và giá trị thực nghiệm, tạo tiền đề công cụ cho các nghiên cứu tiếp theo trong lĩnh vực du lịch tâm linh và hành vi du khách.
Về thực tiễn và hàm ý chính sách:
Dựa trên phân tích dữ liệu thực chứng giai đoạn 2012–2017 và khảo sát năm 2017, tác giả đề xuất 4 nhóm giải pháp cụ thể:
- Cải thiện và nâng cao tính hấp dẫn của điểm đến du lịch tâm linh qua 4 hành động:
- Bảo tồn cảnh quan thiên nhiên và không gian thanh tịnh của di tích;
- Phát triển các sản phẩm du lịch văn hóa truyền thống;
- Nâng cao ý thức của cộng đồng địa phương về du lịch bền vững và văn minh thương mại;
- Tăng cường cơ chế hỗ trợ, quản lý của chính quyền địa phương đối với doanh nghiệp lữ hành, cộng đồng dân cư và du khách;
- Cải thiện sự hài lòng của du khách thông qua kiểm soát chất lượng dịch vụ, bảo đảm an ninh trật tự, vệ sinh môi trường, minh bạch giá cả và hạn chế hiện tượng chèo kéo, mê tín dị đoan tại các cơ sở thờ tự;
- Phát triển các sản phẩm du lịch gắn với niềm tin tâm linh đặc thù của từng di tích và tôn giáo (các khóa tu thiền, chương trình hành hương chuyên đề, diễn giải văn hóa - tôn giáo chuẩn mực);
- Thúc đẩy các tương tác xã hội tích cực, phát huy vai trò của thông tin truyền miệng (WOM) và xây dựng tính thân thuộc, gắn kết tình cảm giữa du khách với điểm đến.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế, văn bản luận án xác định các giới hạn sau:
- Phạm vi dữ liệu thứ cấp về thực trạng ngành du lịch tâm linh dừng lại ở mốc thời gian từ năm 2012 đến năm 2017;
- Dữ liệu khảo sát sơ cấp khách du lịch chỉ được tiến hành trong năm 2017 tại một số địa điểm du lịch tâm linh nổi tiếng đại diện ở Việt Nam, chưa thể bao quát toàn bộ hơn 25.000 cơ sở thờ tự của 13 tôn giáo trên phạm vi cả nước;
- Mẫu khảo sát tập trung chủ yếu vào du khách nội địa tại các điểm đến tiêu biểu, chưa phân tích chuyên sâu đối tượng khách quốc tế tham gia du lịch tâm linh tại Việt Nam.
Hướng nghiên cứu tiếp theo được gợi mở từ văn bản:
- Các nghiên cứu trong tương lai có thể tiếp tục kế thừa và sử dụng bộ thang đo đã được kiểm định của luận án – đặc biệt là thang đo "niềm tin tâm linh" và thang đo hình ảnh điểm đến đa hướng – để kiểm chứng trên các không gian địa lý khác nhau hoặc cho các loại hình du lịch văn hóa, sinh thái có yếu tố tâm linh;
- Mở rộng mẫu điều tra sang đối tượng khách quốc tế và khảo sát theo chuỗi thời gian dài hơn để theo dõi sự biến đổi trong hành vi và mức độ trung thành của du khách.
Giá trị tham khảo
Luận án mang lại giá trị tham khảo rõ ràng cho các nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Kinh tế du lịch, Quản lý kinh tế, Quản trị dịch vụ du lịch: Luận án cung cấp một tài liệu tham khảo hoàn chỉnh về phương pháp nghiên cứu hỗn hợp kết hợp SEM, CFA bậc hai, phân tích mô hình tới hạn và kỹ thuật phát triển thang đo mới. Nội dung Chương 2, Chương 3 và hệ thống bảng hỏi phỏng vấn chuyên gia (Phụ lục 01, 02) là tài liệu mẫu mực về thiết kế thang đo cho các khái niệm tâm lý - hành vi đặc thù.
- Cơ quan quản lý nhà nước về du lịch và văn hóa (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Tổng cục Du lịch, Sở Du lịch các tỉnh/thành phố): Luận án cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng và các luận cứ khoa học để hoạch định quy hoạch phát triển không gian du lịch tâm linh, kiểm soát các hoạt động lễ hội, cân bằng giữa mục tiêu khai thác kinh tế và bảo tồn di sản văn hóa, giữ gìn môi trường sinh thái.
- Các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành, ban quản lý di tích và các cơ sở tôn giáo: Tài liệu hữu ích cho việc xây dựng 3 nhóm sản phẩm du lịch tâm linh đặc thù (tham bái thuần túy, tham quan kết hợp tham bái, du lịch thiền), thiết kế các dịch vụ gia tăng trải nghiệm, phát huy truyền thông qua thông tin truyền miệng (WOM) để nâng cao tỷ lệ du khách quay trở lại.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án định nghĩa "du lịch tâm linh" như thế nào và xác định những thực thể cốt lõi nào cấu thành loại hình này?
Luận án định nghĩa: "Du lịch tâm linh là hoạt động du lịch ngoài nơi cư trú thường xuyên gắn với niềm tin tâm linh cá nhân tại những địa điểm gắn với tâm linh. Du lịch tâm linh hướng tới thỏa mãn nhu cầu về tinh thần, tâm lý gắn với các niềm tin tâm linh, tin tưởng vào sức mạnh siêu nhiên, thánh thần". Hai thực thể cốt lõi được xác định là: "điểm đến du lịch tâm linh" (nơi có tài nguyên tâm linh thu hút du khách đem lại trải nghiệm cảnh quan, con người, văn hóa tâm linh) và "khách du lịch tâm linh" (người đi du lịch kết hợp trải nghiệm tham quan với nhận thức, niềm tin tâm linh cá nhân).
2. Khái niệm "hình ảnh điểm đến" trong luận án được đo lường dưới dạng thang đo nào và gồm các thành tố cụ thể nào?
Trong luận án, hình ảnh điểm đến được mô hình hóa dưới dạng cấu trúc thang đo đa hướng bậc hai, bao gồm 4 nhân tố thành phần được đánh giá qua phân tích CFA:
- Hấp dẫn môi trường và hoạt động du lịch;
- Đặc điểm tự nhiên và văn hóa;
- Cơ sở hạ tầng;
- Hỗ trợ của chính quyền.
3. Đóng góp lý luận nổi bật nhất của luận án về mặt công cụ đo lường là gì?
Đóng góp nổi bật nhất là tác giả đã xây dựng quy trình nghiên cứu định tính kết hợp đánh giá chuyên gia để phát triển thành công bộ thang đo mới cho nhân tố "niềm tin tâm linh" trong hoạt động du lịch tâm linh, đồng thời hiệu chỉnh các thang đo hình ảnh điểm đến, tính quen thuộc, sự hài lòng và lòng trung thành phù hợp với thực tiễn Việt Nam, đạt độ tin cậy và giá trị hội tụ, phân biệt qua kiểm định thực nghiệm.
4. Luận án phân loại các sản phẩm du lịch tâm linh đặc trưng ở Việt Nam thành những nhóm nào?
Luận án phân loại thành 3 sản phẩm chính:
- Sản phẩm du lịch tham bái theo nghi thức tôn giáo tín ngưỡng thuần túy (mục đích chính là hành lễ, chiêm bái tại đình, đền, chùa, miếu, nhà thờ);
- Sản phẩm tham quan du lịch kết hợp tham bái, hành lễ (tham quan kiến trúc, phong cảnh là chính, hành lễ là kết hợp);
- Sản phẩm du lịch tâm linh mang tính thiền (trải nghiệm thiền định, tu học để cân bằng cuộc sống).
5. Lòng trung thành của du khách có sự khác biệt theo các biến số nhân khẩu học nào trong kết quả kiểm định của luận án?
Kết quả kiểm định T-test và ANOVA (kèm kiểm định hậu định Post-hoc) tại Chương 4 xác nhận có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về lòng trung thành của du khách theo 6 biến phân loại: giới tính, các nhóm độ tuổi, nghề nghiệp, mức thu nhập hàng tháng, tần suất đi du lịch tâm linh và tôn giáo/tín ngưỡng của du khách.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Thân Trọng Thụy đã giải quyết trọn vẹn mục tiêu mô hình hóa các nhân tố ảnh hưởng đến lòng trung thành của du khách tại các điểm đến du lịch tâm linh ở Việt Nam thông qua việc tích hợp biến số niềm tin tâm linh vào khung lý thuyết hình ảnh điểm đến đa hướng và sự hài lòng. Bằng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp kết hợp giữa phỏng vấn chuyên gia định tính và phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM), phân tích nhân tố khẳng định (CFA) trên AMOS, công trình đã phát triển thành công thang đo mới về niềm tin tâm linh và chứng minh được các mối quan hệ tác động trực tiếp, gián tiếp giữa các thuộc tính điểm đến với hành vi cam kết quay lại của du khách. Các phát hiện thực nghiệm giai đoạn 2012–2017 cùng hệ thống 4 nhóm giải pháp quản lý trong luận án cung cấp những luận cứ khoa học và thực tiễn giá trị cho công tác quản lý điểm đến, bảo tồn di sản văn hóa tín ngưỡng và phát triển bền vững ngành du lịch Việt Nam.