CHƯƠNG 1: TONG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VE CHÁT LƯỢNG THÔNG TIN KÉ TOÁN TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH. Tổng quan các nghiên cứu 1. Tổng quan các nghiên cứu nước ngoài [1] Braam, G. Conceptually-Based Financial Reporting Quality Assessment.
An Empirical Analysis on Quality Differences Between UK Annual Reports and US 10-K Reports, Trong nghiên cứu của Geert Braam & Ferdy van Beest (2013), tác giả đã tiến hành đo lường CLTT BCTC trong các công ty niêm yết ở Hoa Kỳ (tuân thủ chuẩn mực GAAP), và các công ty niêm yết tại Anh (tuân thủ chuẩn mực IFRS). Dữ liệu được thu thập đề nghiên cứu là các BCTC 10-K của 70 công ty niêm yết ở Anh và 70 công ty niêm yết ở Hoa Kỳ (báo cáo toàn diện nộp hàng năm bởi công ty giao dịch công khai về hoạt động tài chính của minh, tóm tắt thông tin tài chính quan trọng, bao gồm các nguồn vốn và sử dụng vốn theo loại hình doanh nghiệp, thu nhập hoạt động thuần trước thuế, dự phòng thuế thu nhập và khoản lỗ cho vay, cộng. với các báo cáo tài chính so sánh cho hai năm tài khóa gần nhất. Do lường CLTT BCTC theo các tiêu chuẩn về CL của FASB & IASB 2010, đã thiết lập các thang đo đo lường CLTTBCTC cho các thuộc tinh CL gồm: trung thực, thích hợp, dễ hiểu, có khả năng so sánh, kịp thời.
Nghiên cứu đã cho thấy kết quả rằng ở mức độ tổng hợp, kết quả của thử nghiệm t mẫu cặp cho thấy rằng các báo cáo của Vương quốc Anh đạt điểm trung bình cao hơn các báo cáo 10-K của Hoa Kỳ, với CLTT BCTC trong các DN Hoa Kỳ đạt điểm số 2,94 và các DN Anh là 3,18. Tuy nhiên các tác giả mới chỉ thực hiện việc xây dựng thang đo và đo lường CLTT BCTC mà chưa tìm hiểu về các nhân tố có ảnh hưởng đến chất lượng thông tin của BCTC tại các doanh nghiệp niêm yết. The Determinants of the Quality of Financial Information Disclosed by French Listed Companies. Tác gia đã tiến hành nghiên cứu các yếu tố tác động đến CLTT BCTC với mẫu nghiên cứu bao gồm các DNNY ở Pháp.
Các nhóm nhân tố được Fathi chọn lựa để sử dụng trong nghiên cứu gồm: Các đặc điểm của doanh nghiệp, Đặc điểm HĐQT, Chất lượng kiểm toán, cơ cấu sở hữu của các DNNYở Pháp. Mẫu nghiên cứu bao gồm 101 DNNY ở Pháp trong giai đoạn từ năm 2004 đến năm 12 2008. CLTT BCTC được đánh giá theo 78 mục chỉ số công bố và được đánh giá qua các khoản dén tích. Sau khi thực hiện các phân tích cần thiết.
Khi đánh giá kết quả, các tác giả kết luận rằng: Kích cỡ của HĐQT, sự tham gia của các thành viên vào các cuộc họp của HĐQT, sự hiện diện của công ty kiểm toán thuộc Big 4, tình trạng niêm yết thì tác động thuận chiều đến CLTTBCTC của DNNY tại Pháp. Tuy nhiên đề tài này chỉ hạn chế trong phạm vi các DN được niêm yết ở Pháp, cùng với đó thì biến phụ thuộc CLTT BCTC cũng được ước tính bằng các chỉ số được công bố nên việc đánh giá chi số chỉ dựa trên ý kiến chủ quan của nhà nghiên cứu, thiếu sự đánh giá toàn diện và khách quan về CLTT trên BCTC của các DNNY được lựa chọn nghiên cứu. Information Technology and Accounting Information Systems Quality in Croatian Middle and Large Companies, Nghién cứu của Ivana Mamis Sacer & Ana Oluic (2013) xem xét sự tác động của công nghệ thông tin đến CL hệ thống TTKT, phân tích các đặc điểm cơ bản của chất lượng hệ thống TTKT, thảo luận về mô hình đo lường CL TTKT. Tác giả đã tiến hành các cuộc khảo sát các đối tượng là nhân viên kế toán về độ tuổi trung bình của thiết bị và phần mềm máy tính, sự hỗ trợ về công nghệ thông tin, mức độ tác động của công nghệ thông tin đối với phần hành kế toán, sự hài lòng đối với hệ thống TTKT vào các năm 2001, 2008, 2012.
Các nhân tố ảnh hưởng bao gồm: nhận thức của quản lý về tầm quan trọng của hệ thống TTKT, đào tạo và huấn luyện, bản chất của hệ thống TTKT, kiểm toán hệ thống thông tin. Thêm vào đó, nghiên cứu cũng thực hiện khảo sát về CLTT theo các đặc điểm: thích hợp, có thể hiểu được, kịp thời, bảo mật, đầy đủ, tin cậy. Qua đó, tác giả đưa ra kết luận rằng: công nghệ thông tin có ảnh hưởng đến cách hệ thống TTKT vận hành, góp phần cho công tác chuẩn bị, xử lý, trình bày và cung cấp TTKT. Các công ty cần phải có sự đào tạo thích hợp cho nhân viên và tiến hành kiểm toán liên tục để đảm bảo chất lượng thông tin kế toán.
Main Determinants of Financial Reporting Quality in the Lebanese Banking Sector, Nghiên cứu của Rasha Mahboub (2017) nham diéu tra các nhân tố tác động đến chất lượng thông tin trên BCTC của các ngân hàng tại Lebanese. Mẫu nghiên cứu bao gồm báo cáo thường niên của 22 ngân hàng tại Lebanese trong giai đoạn từ 2012-2015 Các chỉ tiêu đo lường CL BCTC được đánh giá theo tính 18 thích hợp (10 mục), trình bày trung thực (8 mục), có thé hiểu được (8 mục), có thé so sánh được (7 mục), kịp thời (1 mục). Sử dụng mô hình OLS da biến, kết quả chỉ ra rằng đòn bẩy tài chính, quyền sở hữu, cơ cấu và quy mô hội đồng quản trị có mối quan hệ đáng ké và tích cực với báo cáo tài chính dam bao chất lượng. Mặt khác, quy mô ngân hàng, lợi nhuận và tính độc lập của hội đồng quản trị được cho là không có ý nghĩa thống kê trong việc giải thích chất lượng báo cáo tài chính của ngành ngân hàng ở Liban.
Kết quả đồng thời cho thấy chất lượng báo cáo tài chính tốt hơn trong các báo cáo thường. niên trong ngân hàng ngành có thé đạt được bằng cách duy trì tỷ lệ nợ cao hơn, quyền sở hữu cao hơn của cổ đông và quy mô hội đồng quản trị cao hơn. [5] Ruhul Fitrios, (2016), Factors That Influence Accounting Information System Implementation and Accounting Information Quality, Ruhul Fitrios với bài nghiên cứu này nhằm xác định ảnh hưởng của cam kết của lãnh đạo cấp cao và đào tạo người sử dụng đối với việc triển khai hệ thống thông tin kế toán. Nghiên cứu này được thực hiện tại các bệnh viện được xếp loại A, B và C ở khu vực tỉnh Riau, Indonesia.
Số lượng bệnh viện đạt tiêu chí có hệ thống thông tin kế toán là 42 bệnh viện. Tổng cộng có 34 bảng câu hỏi được gửi đến cho các nhân viên kế toán đã và đang làm việc tại các bệnh viện được chọn mẫu. Dữ liệu thu được được xử lý bằng phần mềm SPSS phiên bản 2021. Kết quả cho thấy cam kết của lãnh đạo cấp cao và đào tạo người dùng hệ thống kế toán đều ảnh hưởng đến thông tin kế toán.
Tuy nhiên ảnh hưởng của biến cảm kết lãnh đạo cấp cao không đáng kẻ, trong khi ảnh hưởng của biến đào tạo người ding hệ thống lại có tác động lớn đến chat lượng TTKT. Kết quả nghiên cứu này có thể được sử dụng đề giải quyết vấn đề triển khai hệ thống thông tin kế toán và đảm bảo chất lượng thông tin kế toán thông qua việc cải tiến sự cam kết của cấp quản lý và ưu tiên đảo tạo người dùng hệ thống thông tin kế toán. Tổng quan các nghiên cứu Việt Nam [1] Phan Minh Nguyệt, 2014. Xác định và đo lường mức độ ảnh hướng của các nhân tó đến chất lượng thông tin kế toán trình bày trên báo cáo tài chính của các công ty niêm yết ở Việt Nam.
Nghiên cứu của thạc sĩ Phan Minh Nguyệt được tiến hành dé tìm ra các nhân tố cũng như xác định sự ảnh hưởng của các nhân tố này đến chất lượng TTKT ở các công ty niêm yết ở Việt Nam. Tác giả xác định có 7 nhân tố ảnh 14 hưởng trong nghiên cứu bao gồm: quy trình lập và trình bày BCTC, trình độ của nhân viên kế toán, lợi ích và rủi ro khi lập BCTC, rủi ro khi công ty kiểm toán độc lập thực hiện kiểm toán BCTC đối với công ty niêm yết, mục tiêu lập BCTC, cấp quản trị của công ty, thuế. Kết quả sau khi kiểm định trên phần mềm SPSS và mô hình hỏi quy tuyến tính dé đánh giá về số liệu thu thập đưa ra kết luận rằng có hai nhân tố là: trình độ nhân viên kế toán, mục tiêu lập BCTC, không ảnh hưởng tới chất lượng TTKT trên BCTC. Các yếu tố còn lại ảnh hưởng tích cực đến chất lượng TTKT trên BCTC của các DNNY tại Việt Nam theo mức độ tăng dần: quy trình lập và trình bày BCTC, cấp quản trị của công ty, thuế, rủi ro và lợi ích khi lập BCTC từ đó tác giả đã đưa một số đề xuất, giải pháp giúp cho cấp quản lý của những doanh nghiệp niêm yết có thể áp dụng dé nâng cao chất lượng thông tin trên BCTC của công ty.
[2] Phạm Quốc Thuần, 2016. Các nhân tố tác động đến chất lượng thông tin báo cáo tài chính trong các doanh nghiệp Việt Nam. Luận án tiến sĩ của Phạm Quốc Thuần năm 2016 tập trung vào nghiên cứu về Chất luợng thông tin tài chính (CLTT) trong báo cáo tài chính và các yếu tố có ảnh hưởng đến CLTT trong báo cáo tài chính. Nghiên cứu này cũng nhằm mục đích hiểu rõ sự khác biệt về tác động của các yếu tố này đối với CLTT trong báo cáo tài chính giữa các nhóm doanh nghiệp (DN) có chứng khoán niêm yết và chưa niêm yết, cũng như giữa các DN có quy mô nhỏ, vừa và lớn tại 'Việt Nam.
Nghiên cứu này đã sử dụng phương pháp thảo luận tay đôi và thảo luận nháp. dé điều tra tình hudng, và đã xác định được 10 yếu tố quan trọng. Dé phân tích một cách cụ thể, nghiên cứu đã thu thập dữ liệu thông qua cuộc khảo sát các chuyên gia kế toán làm việc tại các DN này, và CLTT trong báo cáo tài chính đã được đánh giá dựa trên các tiêu chí CL của FASB & IASB năm 2010. Kết quả của nghiên cứu cho thấy rằng CLTT trong báo cáo tài chính được đánh giá trung bình với điểm số 3,76/5 điểm.
Các yếu tố ảnh hưởng đến CLTT theo thứ tự mức độ tác động mạnh nhất đến yếu tố Hỗ trợ từ phía nhà quan trị, tiếp theo là Hành vi QTLN, Áp luc từ thuế, Dao tạo và bồi dưỡng. nhân viên, Năng lực nhân viên kế toán, hiệu quả của hệ thống KSNB, BCTC được kiểm toán và chất lượng PMKT.