Chương 1: Cơ sở lý thuyết về công bố thông tin tự nguyện Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Kết quả nghiên cứu Chương 4: Đề xuất và kiến nghị Kết luận 123doc 6 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN TỰ NGUYỆN 1. Lý thuyết về công bố thông tin tự nguyện 1.1 Khái niệm công bố thông tin tự nguyện Công bố thông tin là công bố ra công chúng bằng các báo cáo tài chính của công ty, qua đó công ty truyền tải các thông tin kinh tế, tài chính, phi tài chính hoặc các thông tin khác liên quan tới tình hình tài chính và tình hình hoạt động của mình ra bên ngoài (Owusu-Ansah,1998). Công bố thông tin là giai đoạn cuối cùng của quá trình kế toán, các thông tin tài chính được thu thập, xử lý qua bộ phận kế toán sau đó được tóm tắt để thể hiện cho tình hình tài chính và kết quả hoạt động của doanh nghiệp nhằm chia sẻ thông tin với các bên liên quan. Nội dung, số lượng, định dạng thông tin công bố sẽ được điều chỉnh bởi các quy định kế toán ở từng quốc gia cụ thể.
Công bố thông tin trong giới hạn tối thiểu xác định theo quy định của pháp luật được gọi là công bố thông tin bắt buộc, và bất kỳ các thông tin nào công bố vượt quá các giới hạn này được gọi là công bố thông tin tự nguyện. Công bố thông tin tự nguyện hình thành khi công bố thông tin bắt buộc không đáp ứng được nhu cầu thông tin cho người dùng. Nhu cầu thông tin của người sử dụng càng tăng khi sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền quản lý càng lớn, khi đó báo cáo tài chính với các thông tin bắt buộc không còn đáp ứng được nhu cầu thông tin của nhà đầu tư, các nhà phân tích tài chính và các bên liên quan khác… chính vì vậy việc cung cấp các thông tin toàn diện, bên ngoài các thông tin theo yêu cầu pháp luật ngày càng được quan tâm. Để xem xét như thế nào là thông tin tự nguyện, trước hết khái niệm thông tin bắt buộc phải được xác định rõ ràng.
Thông tin bắt buộc còn là những thông tin nhất định phải công bố như hình thức công bố, công bố cho ai, khi nào công bố… và là 123doc 7 các quy tắc, quy định nhằm cho phép người sử dụng tiếp cận với những thông tin cơ bản nhất của doanh nghiệp. Công bố thông tin bắt buộc đề cập tới những khía cạnh, những thông tin cần phải công bố như một hệ quả bắt buộc của các quy định pháp luật, theo yêu cầu của thị trường vốn, ủy ban chứng khoán hoặc quy định của hiệp hội kế toán. Mục đích của việc công bố thông tin bắt buộc là để đáp ứng nhu cầu thông tin của người sử dụng, đảm bảo kiểm soát chất lượng sản xuất thông qua các luật và các tiêu chuẩn cần chấp hành (Adina and Ion, 2008). Các thông tin bắt buộc cần công bố đó là: - Tên tổ chức phát hành báo cáo: Tên công ty - Tên người nhận báo cáo: Cổ đông, nhân viên, chủ nợ… - Các quy định liên quan: Luật thương mại, luật kế toán, chuẩn mực kế toán: IFRS, US, GAAP.
- Nội dung: định dạng, đối tượng của báo cáo - Giai đoạn công bố: hàng năm, định kỳ 6 tháng, hàng quý… - Hình thức công bố: trên giấy, trang web công ty… Việc lựa chọn thông tin để công bố tự nguyện là sự lựa chọn tự do của các công ty, nó phụ thuộc vào đặc điểm văn hóa, yếu tố kinh tế, xã hội, và tùy thuộc vào mỗi công ty. Tuy nhiên, không vì thế mà các thông tin tự nguyện trở thành các bất kỳ thông tin nào, đa số các thông tin tự nguyện công bố là các thông tin hướng về mục đích cho người sử dụng hiểu rõ hơn về công ty, về khả năng sinh lời trong tương lai, các rủi ro và cơ hội của công ty, từ đó thu hút sự quan tâm đầu tư (Adina and Ion, 2008). Công bố tự nguyện liên quan việc trình bày các thông tin vượt quá yêu cầu, bao gồm thông tin kế toán và các thông tin khác mà nhà quản lý cho là có liên quan đến nhu cầu của các bên liên quan. Việc công bố như vậy nhằm mục đích giảm sự bất cân xứng thông tin giữa các nhà quản lý và các nhà đầu tư, và cung cấp thông tin nhằm giải thích cho nhu cầu thông tin của các bên liên quan khác nhau (Meek et al, 1995) 123doc 8 1.2 Vai trò của việc công bố thông tin tự nguyện trong thị trường vốn Công bố thông tin là một trong những công cụ quan trọng nhất mà các công ty sử dụng để giao tiếp, truyền thông tin với các bên liên quan.
Chính vì thế, công bố thông tin là một yếu tố rất quan trọng nhằm đảm bảo việc phân bổ hiệu quả các nguồn lực xã hội và giảm bớt sự bất cân xứng thông tin giữa công ty và các bên liên quan (Adina and Ion, 2008) Các nhà đầu tư, cổ đông và nợ chủ, về cơ bản đều muốn bảo vệ nguồn tiền của họ trong một doanh nghiệp hoạt động tốt. Tuy nhiên, liên kết đầu tư kinh doanh là một quá trình phức tạp do sự bất cân xứng thông tin, nơi các nhà quản lý có nhiều thông tin hơn so với các chủ sở hữu (Verrecchia, 2001). Chính sự bất cân xứng thông tin này là nguyên nhân làm phát sinh vấn đề “thị trường những quả chanh” Akerlof (1970). Điều này có thể dẫn đến nhiều sự cố trong thị trường vốn, ví dụ khi nữa doanh nghiệp có ý tưởng loại tốt, còn nữa kia có ý tưởng loại xấu.
Giả sử các nhà đầu tư và doanh nghiệp đều là những người có hành vi lý trí và đầu tư dựa vào thông tin mình có. Nếu các nhà đầu tư không thể phân biệt hai loại thông tin với nhau, các nhà doanh nghiệp với ý tưởng xấu sẽ cố gắng để cho ý tưởng của họ có giá trị như những ý tưởng tốt. Nhận thấy điều này, các nhà đầu tư đều đánh giá ý tưởng tốt và xấu ở mức trung bình. Vì vậy, nếu vấn đề “thị trường những quả chanh” Akerlof (1970) không được giải quyết thì thị trường vốn sẽ đánh giá thấp các ý tưởng tốt và đánh giá cao các ý tưởng xấu.
Một trong số cách giải quyết hiệu quả cho vấn đề này đó là cung cấp thông tin nhiều hơn. Nghiên cứu của Healy and Palepu (2001), đã đưa ra một mô hình dòng chảy của vốn và thông tin trên thị trường vốn như hình 1.1 Theo đó, vốn có thể chảy vào các ý tưởng kinh doanh theo hai cách, đầu tiên là chảy trực tiếp từ hộ gia đình (nói cách khác là những người tích lũy tiết kiệm) đến doanh nghiệp, và cách thứ hai là thông qua trung gian tài chính như ngân hàng, quỹ đầu tư… phía bên phải trình bày luồng thông tin từ doanh nghiệp đến hộ gia đình và các trung gian tài chính. Doanh nghiệp có thể truyền thông tin trực tiếp với các nhà đầu tư qua các phương tiện truyền thông như báo cáo tài chính và thông cáo 123doc 9 báo chí, hoặc có thể truyền thông tin qua các trung gian tài chính, các trung gian tài chính này sẽ là trung gian truyền đạt thông tin đến hộ gia đình thông qua các bảng phân tích về tài chính của doanh nghiệp. Hộ gia đình Dòng vốn Dòng thông tin Trung gian Trung gian tài chính tài chính Những quy Những quy định của thị định về kế trường vốn toán, kiểm toán và tổ chức tài chính Doanh nghiệp Hình 1.1 Hình dòng chảy vốn và thông tin trên thị trường vốn Nguồn: Dịch theo nghiên cứu của Healy and Palepu (2001) Chế độ báo cáo của một công ty nhằm mục đích cung cấp cho các nhà đầu tư lượng thông tin tối thiểu để có thể tạo thuận lợi cho các quyết định đầu tư của mình.
Thông tin được truyền đạt đến các nhà đầu tư bằng hai cách, trực tiếp thông qua báo cáo tài chính và thông cáo báo chí, hoặc gián tiếp, thông qua trung gian tài chính, các nhà phân tích tài chính hoặc tổ chức trung gian tài chính như ngân hàng (Healy and Palepu, 2001). Công bố thông tin tự nguyện sẽ cung cấp một cái nhìn rõ ràng cho các bên liên quan về việc kinh doanh bền vững, lâu dài và giảm sự bất cân đối xứng thông tin và xung đột giữa nhà quản lý và các nhà đầu tư (Healy and Palepu, 2001). Các nhà quản lý sẽ tự nguyện công bố thông tin nhằm đáp ứng nhu cầu khác nhau của các bên liên quan (Meek et al, 1995). Tuy nhiên, việc lựa chọn các thông tin để 123doc 10 công bố tự nguyện vẫn phụ thuộc rất nhiều vào ý kiến chủ quan, thiên vị của các nhà quản lý.3 Động lực thúc đẩy công bố thông tin tự nguyện.
Người viết tiến hành nghiên cứu các lý thuyết trước đây, nhằm tìm ra các động lực thúc đẩy cũng như các yếu tố cản trở việc công bố thông tin tự nguyện của các doanh nghiệp. Mục đích của việc nghiên cứu này làm cơ sở lý thuyết cho các kiến nghị nhằm tăng cường mức độ công bố thông tin các doanh nghiệp sau khi đánh giá mức độ công bố thông tin tự nguyện của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán HOSE 1.1 Sự bất cân xứng thông tin trên thị trường giao dịch vốn Khi một công ty muốn tăng vốn bằng cách phát hành trái phiếu hoặc cổ phiếu thì đánh giá của các nhà đầu tư đối với công ty là rất quan trọng (Healy and Palepu, 1993). Lúc này, nhà quản lý công ty là những người nắm được thông tin nhiều hơn về triển vọng của công ty so với các nhà đầu tư bên ngoài, do vậy, nếu các nhà quản lý không tự nguyện cung cấp những thông tin này ra bên ngoài thì chi phí công ty bỏ ra để mời gọi các nhà đầu tư sẽ tăng lên. Việc tăng công bố thông tin tự nguyện ra bên ngoài, qua đó giảm tình trạng bất cân xứng thông tin sẽ giải quyết được vấn đề này (Diamond and Verrecchia,1991; Kim and Verrecchia, 1994; Healy and Palepu, 2001) Một số nghiên cứu thực nghiệm đưa ra bằng chứng về công bố thông tin như Lang and Lundholm (1993) cho thấy các công ty phát hành chứng khoán ở giai đoạn hiện tại hoặc dự định phát hành chứng khoán trong tương lai thì có tỷ lệ công bố thông tin tự nguyện cao hơn các công ty khác.