CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1 Các nghiên cứu nước ngoài Nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin BCTC [1]. Hongjiang Xu và cộng sự năm 2003: “Key issues of accounting information quality management: Australian case studies”. Nghiên cứu về các vấn đề quản lý CLTT kế toán ở các DN tại Australia. Xem xét các tình huống với các nhóm đối tượng gồm: Đối tượng sản xuất TT kế toán, đối tượng quản lý hệ thống, đối tượng dùng TT, quản lý cấp cao.
Phương pháp NCĐL với mẫu khảo sát được lấy tại 4 DN ở Australia. Kết quả: “Nhân tố con người, nhân tố về hệ thống, nhân tố về tổ chức, nhân tố bên ngoài (thay đổi công nghệ, chính sách) thực sự có tác động đến CLTT BCTC. Nghiên cứu còn tồn tại hạn chế do chưa xây dựng được thang đo cũng chưa kiểm định được kết quả nghiên cứu. ” Luận văn thạc sĩ Kinh tế [2].
Nesrine Klai và Abdelwahed Omri năm 2011: “Corporate Governance and Financial Reporting Quality: The Case of Tunisian Firm”. Nghiên cứu bàn về vấn đề quản trị công ty và CLTT BCTC tại các công ty ở Tunisia. Tác giả cho rằng: “Tỷ lệ sở hữu của người nước ngoài, yếu tố gia đình trị, tỷ lệ sở hữu của cổ đông lớn, việc kiểm soát của các tổ chức tài chính và nhà nước có liên quan tác động tới CLTT BCTC”.” Mô hình hồi quy được dùng để kiểm định bốn giả thuyết. Kết quả NC cho thấy: Phần lớn các công ty ở Tunisia thiếu tính độc lập của ban giám đốc, quyền sở hữu tập trung vào một cá nhân, tổ chức ở mức độ rất cao.
Có mối quan hệ giữa ban quản trị và CLTT BCTC. Sự kiểm soát của nhà nước vào các tổ chức tài chính mang lại CL tốt hơn cho BCTC. Ngược lại sự kiểm soát của các cổ đông lớn, các gia đình trị nước ngoài tại các công ty ở Tunisia làm giảm CLTT BCTC.” Nghiên cứu còn nhiều hạn chế, chỉ tập trung vào khảo sát HĐQT và cơ cấu sở hữu của các công ty đã được niêm yết ở Tunisia từ 1997 - 2007. Nghiên cứu đề xuất 7 cần được mở rộng khảo sát nhiều công ty ở Tunisia như các ngân hàng để có thêm biến khảo sát hoặc thước đo khác về CLTT, đồng thời đề nghị điều tra liên kết quản trị công ty với CLTT kế toán ở các thị trường mới nổi khác.
Al-Hiyari và công sự năm 2013: “Factors that Affect Accounting Information System Implementation and Accounting Information Quality: A Survey in University Utara Malaysia”. Mục đích của NC là đánh giá CLTT kế toán tại đại học Utara Malaysia. Nhân tố:“Nguồn lực con người, sự cam kết từ phía các nhà quản lý, vận hành hệ thống TT kế toán và CL dữ liệu được tác giả phân tích. CLTT kế toán được tác giả xác định qua: tính chính xác, tính kịp thời, tính đầy đủ và tính nhất quán.” Dữ liệu thu từ 119 học viên đang học tại trường Đại học Utara Malaysia.
Các học viên này đang công tác và có kinh nghiệm làm việc: từ 1 tới 5 năm chiếm 72,2%; từ 5 tới 10 năm chiếm 17,4%, từ trên 10 năm chiếm 10,4% tại các DN. Mô Luận văn thạc sĩ Kinh tế hình của Al-Hiyari và cộng sự năm 2013 gồm 3 biến độc lập,1 biến phụ thuộc, 1 biến trung gian. Kết quả của phân tích hồi quy cho thấy có mối quan hệ có ý nghĩa giữa nhân tố nguồn lực con người, CL hệ thống TT kế toán với CLTT kế toán. Hạn chế của NC là chỉ khảo sát giới hạn tại đại học Utara Malaysia, kiến nghị tương lai các NC khác mở rộng thêm các yếu tố được đề xuất, sử dụng các bằng chứng định tính nhằm cải thiện phương pháp NCĐL trong bối cảnh thực tế.
Jouini Fathi năm 2013: “The Determinants of the Quality of Financial Information Disclosed by French Listed Companies”. Tác giả NC các nhân tố có tác động đến CLTT BCTC được công bố của các công ty niêm yết tại Pháp. Để kiểm tra mối quan hệ giữa cơ chế quản trị và CLTT, mẫu NC là 101 công ty niêm yết ở Pháp từ năm 2004 đến năm 2008. Thống kê mô tả, hồi quy tuyến tính bội được dùng trong NC.
Kết quả cho thấy: “Quy mô hội đồng quản trị, tỷ lệ tham gia của các thành viên tại các cuộc họp HĐQT, loại hình công ty kiểm toán, tình trạng niêm yết là các nhân tố có tác động cùng chiều với CLTT tài chính.” 8 Hạn chế của nghiên cứu là việc sử dụng chỉ số công bố như là thước đo CLTT công bố. Tác giả đề xuất các NC trong tương lai nên tổng hợp thông tin NC từ các phương tiện truyền thông hoặc internet. Sử dụng báo cáo hàng năm có thể giới hạn phần nào phạm vi công bố TT tài chính của DN. [5] Olowokure, Tanko, Nyor năm 2015: “Firm Structural Characteristics and Financial Reporting Quality of Listed Deposit Money Banks in Nigeria” Nghiên cứu sử dụng dữ liệu thứ cấp được khảo sát từ 13 ngân hàng ở Nigeria trong khoảng thời gian từ 2005 đến 2014.
Mục đích của NC muốn xác định các nhân tố tác động đến CL BCTC tại các ngân hàng. Phương pháp NC tương quan được sử dụng, với kết quả từ phân tích hồi qui bội NC kết luận rằng: Quy mô DN, đòn bẩy vốn không phải là yếu tố quan trọng quyết định CL BCTC. Nhân tố tuổi của DN có ý nghĩa tích cực đến CL BCTC ở mức ý nghĩa 10%, không phải là 5% nên không có tác động đáng kể. Luận văn thạc sĩ Kinh tế Hạn chế của NC là số lượng mẫu nhỏ, kết quả nghiên cứu chưa đại diện được cho tổng thể mẫu trong cả nước.
Hoglund và cộng sự năm 2016: “Financial reporting quality and outsourcing of accounting tasks: Evidence from small private firms”. Nghiên cứu điều tra xem liệu CL BCTC ở các DN nhỏ có sự khác nhau hay không giữa việc thuê kế toán bên ngoài và việc DN thực hiện kế toán nội bộ. Sử dụng cơ sở dồn tích làm thước đo cho CL BCTC và mẫu khảo sát được gửi email tới 8.414 công ty TNHH nhỏ tại Phần Lan vào tháng 2 năm 2015. Bảng câu hỏi tác giả thiết kế để khảo sát gồm tiếng Phần Lan, tiếng Thụy Điển và tiếng Anh.253 địa chỉ không hợp lệ, cỡ mẫu còn lại 7.
Kết quả NC cho thấy rằng:“CL BCTC khi thuê kế toán bên ngoài có CL cao hơn với việc thực hiện kế toán nội bộ. Kế toán bên ngoài hoạt động như là một người giám sát bên ngoài quy trình BCTC của công ty và do đó giảm được hành vi cơ hội. Kế toán thuê ngoài có hiểu biết pháp luật hiện hành hơn kế toán nội bộ trong công ty. Hơn nữa các công ty dịch vụ kế toán có chuyên môn trong ngành kế toán hơn dẫn đến CL của BCTC cao 9 hơn.
Trình độ kế toán, thời gian thuê dịch vụ kế toán, quy mô công ty dịch vụ kế toán cũng có ảnh hưởng đến CL của BCTC.” Quá trình thu thập dữ liệu và phân tích kết quả nghiên cứu còn nhiều hạn chế: “(1) Việc đo lường CL của BCTC gặp phải một số chỉ trích, (2) Việc đo lường chỉ tập trung trên cấp độ tổng hợp của chất lượng BCTC, (3) Chỉ phân tích dữ liệu trong một phạm vi quyền hạn, (4) Chỉ tập trung vào lập bản đồ CL BCTC tổng thể trong các công ty thuê ngoài và không thuê ngoài dịch vụ kế toán. Nelsi Wisna năm 2018:“Factors Affecting The Quality Of Accounting Information”. Đối tượng khảo sát trong NC này là các trưởng phòng, đội ngũ kế toán, tài chính tại tối thiểu 59 DN nhà nước ở Bandung, Indonesia, có sử dụng hệ thống TT kế toán để xử lý việc kế toán trong DN. Dữ liệu được thu thập bằng cách gửi email đến các đối tượng được khảo sát.
Luận văn thạc sĩ Kinh tế Kết quả NCĐL với mô hình NC gồm có 5 biến, trong đó có ba biến độc lập là: “Phong các lãnh đạo, quản trị tri thức, đào tạo nhân lực, 1 biến phụ thuộc: CLTT kế toán và 1 biến trung gian: Hệ thống thông tin kế toán.” Nghiên cứu mới chỉ xây dựng được mô hình NC, giả thuyết NC và phương pháp phân tích. Chưa đưa ra được kết quả NC, những đóng góp cũng như hạn chế cho các NC về sau. Nghiên cứu về các đặc tính chất lượng của Báo cáo tài chính [1]. Jonas và Jeannot Blanchet năm 2000: “Assessing Quality of Financial Reporting”.
Jonas và Jeannot Blanchet tiến hành NC nhằm mục đích phát triển một mô hình hoàn chỉnh hơn hỗ trợ kiểm toán viên và các thành viên trong ủy ban kiểm toán đánh giá về CL BCTC. Khung NC gồm nhiều tiêu chí đánh giá các đặc điểm của BCTC được phát triển từ FASB, các ủy ban và tổ chức trước đó. Nghiên cứu xây dựng thang đo gồm nhiều biến quan sát đo về các đặc điểm: 10 “Thích hợp (12 biến), đáng tin cậy (14 biến), có thể so sánh (2 biến), nhất quán (2 biến), rõ ràng dễ hiểu (5 biến).” Hạn chế của NC là tác giả mới xây dựng thang đo nhưng chưa tiến hành kiểm định thang đo, khảo sát lấy số liệu. Beest và công sự năm 2009: “Quality of Financial Reporting: measuring qualitative characteristics”.
Nghiên cứu đã dựng lên công cụ đo lường để đánh giá toàn diện về CL BCTC. Dùng 231 báo cáo hằng năm từ các công ty đã được niêm yết trên thị trường chứng khoán Hoa Kỳ, Anh, Hà Lan từ những năm 2005 đến 2007. Thang đo tác giả xây dựng dùng 21 biến quan sát, dựa trên các tiêu chí về CL BCTC được công bố bởi FASB và IASB năm 2008. Đo lường đặc tính của BCTC như:“Thích hợp (được đo bởi 4 biến quán sát), trình bày trung thực (được đo bởi 5 biến quan sát), có thể hiểu được (được đo bởi 5 biến quan sát), có thể so sánh (được Luận văn thạc sĩ Kinh tế đo bởi 6 biến quan sát), kịp thời (được đo bởi 1 biến quan sát).” Hạn chế NC là số lượng mẫu tương đối nhỏ, nghiên cứu thực hiện trong tương lai nên sử dụng mẫu lớn hơn để có thể cung cấp bổ sung thêm cho NC những hiểu biết sâu sắc hơn về đánh giá CL BCTC.
[3] Geert Braam và Ferdy van Beest năm 2013: “Conceptually-Based Financial Reporting Quality Assessment. An Empirical Analysis on Quality Differences Beetween UK Annual Reports and US 10-K Reports”. Nghiên cứu được thực hiện nhằm cho thấy sự khác biệt giữa CLTT BCTC theo khuân mẫu FASB và IASB. Dữ liệu khảo sát được lấy từ báo cáo thường niên của 70 DN ở Anh và 70 DN ở Mỹ năm 2010, được phân tích dựa trên 33 chỉ số đo lường chất lượng.
Kết quả nghiên cứu cho thấy chất lượng tổng thể BCTC theo ISAB ở Anh tốt hơn, có tính thích hợp, trung thực, dễ hiểu hơn FASB ở Mỹ.