mở đầu bằng việc xử lý nghiêm các ngân hàng vượt trần lãi suất huy động. Tiếp sau đó, nhà nước hỗ trợ thanh khoản cho các ngân hàng yếu kém, đồng thời khởi động nhanh quá trình sát nhập mà điển hình là thương vụ hợp nhất SCB - Ficombank - TinNghiaBank. Song song với việc xử lý các ngân hàng yếu 16 kém được dự báo sẽ còn kéo dài trong năm tới, các "ông lớn" VietinBank, Vietcombank và BIDV lần lượt được cổ phần hóa. Trước tình hình đó, các NHTM Việt Nam đều phải gồng mình vượt qua khó khăn để tiếp tục duy trì và phát triển uy tín, thương hiệu.
Có thể kể đến kinh nghiệm của một số ngân hàng như sau: a. Vốn huy động từ tiền gửi của các tổ chức và dân cư Tiền của các tổ chức và dân cư (khách hàng) gửi vào ngân hàng dưới các hình thức: tiền gửi không kỳ hạn (tiền gửi thanh toán), tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm… nhằm mục đích hưởng lãi và các tiện ích mà ngân hàng có thể cung cấp cho khách hàng thông qua các dịch vụ ngân hàng. Điều 98, Luật các tổ chức tín dụng quy định: “Ngân hàng được nhận tiền gửi của các tổ chức kinh tế, cá nhân và các tổ chức tín dụng khác dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và các loại tiền gửi khác”. Tiền gửi không kỳ hạn Tiền gửi không kỳ hạn là loại tiền gửi do khách hàng gửi vào ngân hàng không chỉ nhằm mục đích để hưởng lãi mà mục đích chính là nhằm sử dụng các tiện ích do ngân hàng cung cấp, như thanh toán hộ, chi trả hộ, thu hộ.
Nguồn vốn này có đặc điểm là tính ổn định thấp, thời gian sử dụng ngắn phụ thuộc vào chu kỳ sản xuất kinh doanh, thời vụ và ngân hàng phải chủ động trả cho khách hàng bất cứ lúc nào nhưng ngược lại, chi phí huy động nguồn vốn này rất thấp. Hiện nay các ngân hàng không ngừng đưa ra các sản phẩm dịch vụ ngày càng hoàn thiện hơn, đa dạng hơn và tiện ích hơn cho khách hàng nhằm tăng trưởng nguồn vốn này. Tiền gửi có kỳ hạn Tiền gửi có kỳ hạn là loại tiền gửi có sự thỏa thuận giữa ngân hàng và khách hàng về thời hạn gửi tiền, khách hàng gửi tiền có kỳ hạn nhằm mục đích hưởng lãi hoặc chuẩn bị cho chi tiêu trong tương lai. Về nguyên tắc tiền gửi có kỳ hạn không được rút ra trước hạn, nhưng 17 trên thực tế để cạnh tranh các ngân hàng thường chấp nhận việc khách hàng rút ra trước hạn bằng cách cho hưởng lãi suất của kỳ hạn ngắn hơn hoặc lãi suất của tiền gửi không kỳ hạn.
Ngân hàng thường phải trả lãi cao cho số dư tài khoản tiền gửi có kỳ hạn nên chi phí huy động thường cao, nhưng bù lại tính ổn định của nguồn vốn này lại cao. Chính vì vậy, NHTM thường tìm cách đa dạng hóa loại tiền gửi này bằng cách áp dụng nhiều kỳ hạn khác nhau với mức lãi suất khác nhau nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Tiền gửi tiết kiệm Tiền gửi tiết kiệm là khoản tiền do dân cư gửi vào ngân hàng với mục đích an toàn và sinh lợi. Đây thường là khoản tiền gửi có tỷ trọng cao nhất trong tổng số tiền gửi của ngân hàng và có tính ổn định cao nhất.
Tiền gửi tiết kiệm có nhiều loại như tiền gửi không kỳ hạn, có kỳ hạn… và có lãi suất đa dạng phù hợp với thị trường nhằm đáp ứng nhu cầu gửi tiền của người dân. Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn được gửi và rút ra bất kỳ lúc nào, ngân hàng trả lãi theo số dư bình quân hàng tháng nhân với lãi suất, lãi được nhập vào gốc hàng tháng. Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn được rút ra khi đến hạn, nếu đến hạn người gửi không có nhu cầu sử dụng thì ngân hàng tự động nhập lãi vào gốc và tiếp tục chuyển sang kỳ hạn tiếp theo. Đối với loại tiền gửi này về nguyên tắc người gửi cũng không được phép rút tiền trước hạn.
Tuy nhiên trên thực tế ngân hàng vẫn đồng ý cho khách hàng rút tiền trước hạn với điều kiện họ chỉ được hưởng mức lãi suất thấp hơn lãi suất tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn tương ứng. Do tính ổn định của nguồn vốn nên tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn cũng được ngân hàng chú trọng trong công tác huy động của mình. Nhằm thu hút ngày càng nhiều tiền tiết kiệm, các ngân hàng đã mở rộng mạng lưới huy động, đưa ra các hình thức huy động đa dạng và lãi suất cạnh tranh, hấp dẫn,… Phát hành giấy tờ có giá 18 Bên cạnh các phương thức huy động trên, các NHTM còn phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, trái phiếu. Hình thức huy động vốn này được thự hiện với mục đích sử dụng vốn cụ thể, số lượng và thời gian phát hành nhất định khi cần thiết.
Đặc điểm của khoản nợ này là có tính ổn định cao, quyền đòi tiền thường xếp sau các khoản tiền gửi. Huy động vốn bằng việc phát hành giấy tờ có giá thường có lãi suất hấp dẫn hơn các loại tiền gửi có cùng kỳ hạn, vì vậy chi phí cho việc huy động nguồn vốn bằng cách này rất cao, bù lại loại vốn này rất ổn định. ‘‘Tính lỏng’’ của loại vốn này cao vì có thể được mua bán trên thị trường vốn. Tóm lại, vốn huy động là công cụ chính đối với hoạt động kinh doanh của NHTM, nó là nguồn vốn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn và giữ vị trí quan trọng trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Để đảm bảo cho hoạt động của ngân hàng đạt hiệu quả cao, các ngân hàng phải huy động vốn đáp ứng cho nhu cầu sử dụng vốn. Các nhà quản trị ngân hàng luôn phải theo dõi tình hình biến động của thị trường để có những quyết định phù hợp không những tạo lập, huy động đủ số vốn cần thiết cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng mà còn phải là những nguồn vốn rẻ, ổn định, có cơ cấu thời hạn hợp lý, theo đó nâng cao được sức cạnh tranh và hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Vốn vay Tiền gửi là nguồn vốn chủ yếu để NHTM thực hiện hoạt động kinh doanh của mình. Tuy nhiên ngân hàng không thể chủ động trong việc huy động tiền gửi, tại một số thời điểm nhu cầu sử dụng vốn của ngân hàng vượt quá khả năng hiện có của ngân hàng, chẳng hạn: khách hàng có nhu cầu vay lớn nhưng nguồn vốn lại không đủ, hoặc người gửi rút tiền trước thời hạn trong khi đó vốn vay chưa đến lúc thu hồi(3).
Để tận dụng được cơ hội kinh doanh hoặc đảm bảo khả năng thanh toán, ngân hàng có thể đi vay các tổ chức tín dụng khác hoặc vay ngân hàng trung ương. Vay các tổ chức tín dụng khác Các ngân hàng thực hiện vay vốn lẫn nhau thông qua thị trường tiền tệ 19 liên ngân hàng. Lãi suất đi vay phụ thuộc vào quy mô món vay, thị trường và kỳ hạn. Nguồn tiền đi vay không phải dự trữ bắt buộc, không cần bảo hiểm tiền gửi, kỳ hạn của khoản vay có thể rất ngắn (qua đêm) nhưng lãi suất của nguồn tiền này cao hơn với các nguồn tiền huy động khác.
Vay ngân hàng trung ương NHTM có thể vay từ ngân hàng trung ương qua các hình thức như chiết khấu, tái chiết khấu, hình thức vay này thông qua thị trường mở. NHTM thường nắm giữ một lượng giấy tờ có giá, khi cần tiền mặt, NHTM thực hiện cầm cố tại ngân hàng trung ương. NHTM còn có thể vay từ các nguồn ngắn hạn như vay để bù đắp dự trữ thiếu hụt, nâng cao khả năng thanh toán. Các khoản vay này thường là trong thời gian rất ngắn.
Trong những trường hợp đặc biệt, các ngân hàng vẫn có thể vay ngân hàng trung ương để cho vay lại nền kinh tế theo chỉ định của Nhà nước với một mức lãi suất ưu đãi nhưng khoản vay này thường bị hạn chế về số lượng. Lãi suất vay từ ngân hàng trung ương thường là ưu đãi nhưng để vay được nguồn vốn này lại phụ thuộc vào chính sách tài chính tiền tệ của Chính phủ. Thông qua lãi suất chiết khấu mà ngân hàng trung ương có thể điều chỉnh được cung tiền tệ cũng như cơ cấu nguồn vốn của NHTM. Các nguồn khác Các nguồn vốn này thường không lớn, việc gia tăng các nguồn này nằm trong chính sách tăng nguồn thu cho ngân hàng và bị ảnh hưởng rất lớn bởi khả năng thực hiện và mở rộng các loại hình dịch vụ khác.
Một trong các nguồn này là vốn ủy thác. Đây là nguồn được hình thành do các tổ chức, cá nhân ủy thác tiền, tài sản vào ngân hàng nhờ ngân hàng cho vay (ủy thác cho vay), đầu tư (ủy thác đầu tư), giải ngân (ủy thác giải ngân)… Cùng với sự phát triển các mối quan hệ đa phương, Nhà nước và rất nhiều tổ chức kinh tế xã hội, các tổ chức tài chính trong và ngoài nước đã sử dụng mạng lưới ngân hàng như các kênh dẫn vốn tới các mục tiêu kết quả, hình 20 thành nên nguồn vốn ủy thác, làm gia tăng nguồn vốn cho ngân hàng. Nguồn này khá ổn định, các ngân hàng thực hiện hộ khách hàng và hưởng hoa hồng, không phải trả lãi, tuy nhiên chi phí để có và duy trì chúng là tương đối cao như phải tìm kiếm các chủ đầu tư, tìm hiểu yêu cầu của họ, nghiên cứu dự án mà họ tài trợ,… Ngoài ra, các hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt có thể hình thành nguồn vốn trong thanh toán (séc trong quá trình chi trả hộ, tiền ký quỹ để mở LC…). Những NHTM là ngân hàng đầu mối trong đồng tài trợ có thể kết số dư từ tiền của các ngân hàng thành viên chuyển về để thực hiện cho vay.
Bên cạnh đó, nguồn vốn của NHTM còn được hình thành từ nghiệp vụ mua, bán, quản lý tài sản hộ. Khi NHTM càng phát triển nghiệp vụ trung gian thì nguồn này chiếm tỷ trọng càng lớn. Tóm lại, huy động vốn bao nhiều hình thức, nhưng trong đó, quan trọng nhất là huy động vốn từ tiền gửi của tổ chức và dân cư. Vì vậy, luận văn sẽ tập trung chủ yếu vào nghiên cứu hình thức huy động vốn này.
HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Khái niệm hiệu quả huy động vốn của ngân hàng thương mại Mỗi một nghiệp vụ, mỗi một hoạt động ngân hàng hay bất kỳ một chủ thể nào trong nền kinh tế đều được phản ánh thông qua hai mặt là số lượng và chất lượng.