Tổng quan nghiên cứu

Thái Bình là vùng đất đồng bằng châu thổ sông Hồng với diện tích tự nhiên 1.542,3 km² và mật độ dân số lên tới 1.206 người/km², sở hữu bề dày trầm tích lịch sử hàng ngàn năm gắn với nền văn minh lúa nước. Nằm giữa mạng lưới sông ngòi dày đặc với 4 con sông lớn bao bọc và đường bờ biển dài hơn 50 km, địa bàn này đã sản sinh một kho tàng văn học dân gian độc đáo, giàu bản sắc. Tuy nhiên, phần lớn các công trình trước đây chủ yếu dừng lại ở việc sưu tầm, ghi chép đơn thuần hoặc tiếp cận riêng lẻ thể loại tục ngữ mà chưa đi sâu giải mã cấu trúc giá trị dưới lăng kính văn hóa học hiện đại.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Văn học Việt Nam của tác giả Đào Thị Loan, thực hiện năm 2022 tại Trường Đại học Khoa học thuộc Đại học Thái Nguyên dưới sự hướng dẫn của Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thị Huế, đã giải quyết thấu đáo vấn đề nghiên cứu này. Mục tiêu cụ thể của công trình là khảo sát toàn diện 545 tác phẩm văn học dân gian, làm rõ mối liên hệ hữu cơ giữa ngôn từ nghệ thuật với truyền thống lịch sử, lễ hội, làng nghề và phong tục tập quán của địa phương. Phạm vi không gian nghiên cứu bao quát toàn bộ 8 đơn vị hành chính gồm 7 huyện và 1 thành phố của tỉnh, kéo dài từ các di chỉ văn hóa thời đại Hùng Vương đến giai đoạn đương đại năm 2022. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của công trình thể hiện ở việc chuẩn hóa tư liệu di sản, đóng góp trực tiếp vào mục tiêu cung cấp 100% ngữ liệu chuẩn xác cho chương trình giảng dạy Ngữ văn địa phương tại các trường trung học cơ sở và trung học phổ thông trên toàn tỉnh Thái Bình.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên 2 hệ thống lý thuyết nền tảng vững chắc trong nghiên cứu văn học và văn hóa. Trọng tâm thứ nhất là lý thuyết văn hóa học ứng dụng trong văn học, kế thừa quan điểm của tổ chức UNESCO về văn hóa như một tổng thể sống động của các hoạt động sáng tạo, kết hợp với định nghĩa của Giáo sư Đinh Gia Khánh về bản chất lưu truyền thế kỷ của văn học dân gian. Trọng tâm thứ hai là lý thuyết thi pháp học văn học dân gian của Giáo sư Nguyễn Xuân Kính, phân định rõ ràng 3 cách tiếp cận về mối quan hệ giữa ca dao và dân ca cũng như đặc tính hàm súc, giàu tính ẩn dụ hai tầng nghĩa của tục ngữ.

Mô hình nghiên cứu triển khai theo cấu trúc liên ngành, tích hợp chặt chẽ giữa Văn học học, Văn hóa học, Dân tộc học và Địa lý nhân văn. Khung phân tích vận dụng 5 khái niệm cốt lõi: ca dao trữ tình, tục ngữ thực hành, tiểu vùng sinh thái văn hóa, ký ức cộng đồng và không gian diễn xướng dân gian. Việc thiết lập hệ thống khái niệm này cho phép người nghiên cứu nhìn nhận mỗi câu ca dao, tục ngữ không chỉ như một đơn vị thẩm mỹ ngôn từ thuần túy mà còn là một thiết chế văn hóa phản ánh chân thực tri thức bản địa, kinh nghiệm sản xuất và nhân sinh quan của cư dân châu thổ.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu tiến hành khảo sát trên cỡ mẫu gồm 545 tác phẩm, bao gồm 208 bài ca dao và 337 câu tục ngữ mang đậm dấu ấn bản địa. Phương pháp chọn mẫu được áp dụng là phương pháp chọn mẫu có chủ đích, chắt lọc từ 5 bộ tư liệu thư tịch uy tín xuất bản từ năm 2005 đến 2012, tiêu biểu như bộ Địa chí Thái Bình gồm gần 3.000 trang sách và công trình Văn học dân gian Thái Bình của tác giả Phạm Đức Duật.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích ngữ văn kết hợp nghiên cứu liên ngành xuất phát từ tính nguyên hợp của văn học dân gian; phương pháp này giúp bóc tách từng lớp nghĩa biểu tượng gắn với điều kiện địa lý tự nhiên, thiết chế làng xã và tín ngưỡng phồn thực của cư dân duyên hải. Bên cạnh đó, tác giả sử dụng phương pháp điền dã kết hợp quan sát, phỏng vấn thực tế tại 8 huyện thị cùng phương pháp so sánh đối chiếu giữa hai tiểu vùng văn hóa: vùng phù sa nước ngọt nội đồng và vùng sinh thái ven biển lợ mặn. Toàn bộ quy trình thu thập, xử lý và đối chiếu dữ liệu được triển khai liên tục và hoàn thiện trong khung thời gian 24 tháng, từ năm 2020 đến năm 2022.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phát hiện thứ nhất chỉ ra rằng mảng đề tài về làng nghề thủ công và sinh kế nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn nhất với 38,5% tổng số câu tục ngữ khảo sát, tương đương 130 đơn vị tục ngữ. Các câu tục ngữ phản ánh cụ thể chu trình thâm canh lúa nước, kinh nghiệm chọn giống theo thời vụ và mạng lưới làng nghề danh tiếng như dệt chiếu làng Hới, dệt lụa làng Mẹo, dệt vải làng Bơn và chạm bạc Đồng Xâm.

Phát hiện thứ hai xác định nhóm tư liệu về địa danh văn hóa và lịch sử chiếm 27,2% nguồn ngữ liệu, tương đương 148 bài ca dao và tục ngữ. Đáng chú ý, nghiên cứu làm sáng tỏ một bài ca dao lục bát 4 câu có khả năng định vị chính xác 20 tên làng cổ thuần Nôm thuộc 3 huyện Hưng Hà, Đông Hưng và Quỳnh Phụ. Đồng thời, tư liệu phản ánh liên tục chuỗi biến cố lịch sử từ cuộc khởi nghĩa của Bát Nạn tướng quân năm 40 sau Công nguyên, căn cứ hậu cần nhà Trần thế kỷ XIII cho đến các phong trào khởi nghĩa nông dân thế kỷ XIX.

Phát hiện thứ ba làm rõ mảng tục ngữ dự báo thời tiết và ứng phó thiên tai chiếm tỷ lệ 21,8%. Các câu tục ngữ gắn liền với các tọa độ địa lý đặc thù như cửa biển Quang Lang, bãi triều An Cố hay vùng giao thoa nước sâu 45 mét tại cửa Tuần Vường, thể hiện sự thích ứng sinh tồn của cư dân trước quy luật tự nhiên khắc nghiệt.

Phát hiện thứ tư khẳng định mối liên hệ mật thiết giữa ca dao địa phương và nghệ thuật diễn xướng dân gian, chiếm 12,5% tư liệu. Văn bản hóa các nguồn thư tịch cổ xác nhận Thái Bình là cái nôi của nghệ thuật chèo cổ với 4 trong số 7 vị tổ chèo của cả nước, duy trì 3 chiếng chèo lớn gồm chèo Khuốc, chèo Hà Xá và chèo Sáo Đền cùng những kỹ thuật gõ phách số lẻ mang tính độc bản.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân tạo nên tính đặc thù của ca dao, tục ngữ Thái Bình xuất phát từ đặc điểm địa hình đồng bằng ven biển với độ dốc dưới 1%, độ cao chỉ từ 1 đến 2 mét so với mực nước biển, thường xuyên chịu áp lực từ các đợt thiên tai, bão lũ lịch sử như trận vỡ đê năm 1913 hay bão lớn năm 1929. Môi trường sinh thái ba mặt giáp sông, một mặt giáp biển đã tôi luyện tính cách kiên cường, tư duy thực tế và tinh thần cộng cảm sâu sắc của người lao động.

So sánh với các công trình nghiên cứu quy mô toàn quốc của Giáo sư Nguyễn Xuân Kính năm 2001 hoặc luận văn chuyên biệt về tục ngữ của tác giả Tô Thị Quỳnh Mai năm 2015, nghiên cứu năm 2022 này tạo ra bước tiến mới khi đồng thời phân tích ca dao và tục ngữ trong một chỉnh thể văn hóa thống nhất, bổ khuyết mảng giá trị nghệ thuật ngôn từ địa phương vốn bị xem nhẹ trước đây.

Dữ liệu của luận văn có thể được trực quan hóa tối ưu thông qua một biểu đồ hình tròn thể hiện tỷ lệ phân bố của 4 cụm nội dung chính, kết hợp cùng bảng ma trận đối chiếu đặc trưng thể loại tại 8 đơn vị hành chính. Bảng thống kê hình thức nghệ thuật cho thấy thể thơ lục bát chiếm áp đảo với 85,6% trong ca dao, trong khi các thể thơ ngắn 4 chữ hoặc 5 chữ chiếm 14,4%, chủ yếu phân bố ở các bài vè lịch sử và diễn xướng lao động vùng duyên hải Tiền Hải, Thái Thụy.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Thái Bình cần chủ trì xây dựng đề án số hóa toàn bộ 545 tác phẩm ca dao, tục ngữ thành ngân hàng dữ liệu di sản trực tuyến mở trước quý IV năm 2025, tích hợp bản đồ số hóa địa danh văn hóa nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận cộng đồng đạt mức 100% các xã, phường.

Thứ hai, Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Thái Bình cần phối hợp với các chuyên gia ngữ văn hoàn thành việc tích hợp 100% ngữ liệu ca dao, tục ngữ bản địa đã được thẩm định vào chương trình giáo dục địa phương cấp trung học cơ sở và trung học phổ thông trong niên khóa 2025 - 2026, thông qua việc biên soạn sổ tay học tập chuyên đề.

Thứ ba, Ủy ban nhân dân các huyện Hưng Hà, Đông Hưng và Kiến Xương cần bố trí nguồn ngân sách quy hoạch và khôi phục không gian thực hành văn hóa phi vật thể tại 100% các làng nghề truyền thống trọng điểm trước năm 2027. Mô hình này kết hợp trình diễn diễn xướng chèo làng Khuốc và dệt chiếu làng Hới nhằm thúc đẩy phát triển du lịch di sản bền vững.

Thứ tư, Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Thái Bình phối hợp cùng các viện nghiên cứu văn hóa trung ương tổ chức định kỳ 2 hội thảo khoa học chuyên sâu và xuất bản ấn phẩm tái bản có bổ sung trước năm 2028, nhằm liên tục cập nhật các biến thể diễn xướng dân gian mới phát hiện từ thực địa.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm giáo viên môn Ngữ văn tại hơn 300 trường trung học cơ sở và trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh Thái Bình và các tỉnh lân cận thuộc đồng bằng Bắc Bộ, khai thác trực tiếp 545 đơn vị tác phẩm làm dẫn chứng bài giảng chuẩn mực cho phân môn văn học địa phương.

Nhóm học viên cao học, sinh viên chuyên ngành Văn học, Văn hóa học và Việt Nam học tại các cơ sở giáo dục đại học, sử dụng công trình như một mô hình mẫu mực về phương pháp nghiên cứu liên ngành kết hợp giữa văn bản học và khảo sát điền dã thực tế.

Nhóm cán bộ quản lý văn hóa và bảo tồn di sản tại Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch cùng phòng ban cấp huyện, sử dụng các số liệu lịch sử và danh mục địa danh làm căn cứ khoa học để hoàn thiện hồ sơ khoa học xếp hạng di sản cho hơn 15 lễ hội truyền thống lớn.

Nhóm chuyên gia phát triển du lịch văn hóa và các nhà sáng tạo nội dung truyền thông, khai thác chất liệu văn hóa dân gian từ các làng nghề và giai thoại lịch sử để xây dựng các tour du lịch trải nghiệm di sản độc đáo tại vùng đồng bằng châu thổ.

Câu hỏi thường gặp

Câu hỏi 1: Điểm đột phá lớn nhất của luận văn về ca dao, tục ngữ Thái Bình là gì? Trả lời: Điểm đột phá nằm ở việc tiếp cận liên ngành Văn học kết hợp Văn hóa học trên quy mô toàn diện cả hai thể loại ca dao và tục ngữ. Luận văn không chỉ dừng lại ở phân tích nội dung ngữ nghĩa mà còn giải mã sâu sắc cấu trúc nghệ thuật, nguồn gốc địa danh và môi trường diễn xướng của 545 tác phẩm tại 8 đơn vị hành chính.

Câu hỏi 2: Tại sao nghiên cứu lại lựa chọn cỡ mẫu 545 tác phẩm ca dao và tục ngữ? Trả lời: Cỡ mẫu 545 tác phẩm gồm 208 bài ca dao và 337 câu tục ngữ được chọn lọc nghiêm ngặt từ 5 công trình thư tịch địa chí chuẩn mực xuất bản từ năm 2005 đến 2012. Số lượng này bảo đảm tính đại diện thống kê cao nhất cho toàn bộ các tiểu vùng địa lý tự nhiên, sinh thái và lịch sử của tỉnh Thái Bình.

Câu hỏi 3: Mối quan hệ giữa ca dao, tục ngữ Thái Bình và nghệ thuật chèo truyền thống được thể hiện thế nào? Trả lời: Mối quan hệ này mang tính cội nguồn hữu cơ sâu sắc. Luận văn chứng minh ngôn từ ca dao là chất liệu nuôi dưỡng các làn điệu chèo cổ tại 3 chiếng chèo danh tiếng. Thư tịch Hí phường phả lục khẳng định 4 trong số 7 vị tổ chèo toàn quốc xuất thân từ chính vùng đất địa linh nhân kiệt Thái Bình.

Câu hỏi 4: Phương pháp nghiên cứu liên ngành được luận văn triển khai cụ thể ra sao? Trả lời: Tác giả phối hợp phương pháp phân tích ngữ văn với các thao tác nghiên cứu của Dân tộc học, Văn hóa học và Địa lý nhân văn. Khung phân tích này cho phép kết nối văn bản ngôn từ với điều kiện tự nhiên châu thổ thấp dưới 2 mét và các sự kiện lịch sử từ khởi nghĩa Hai Bà Trưng năm 40.

Câu hỏi 5: Kết quả nghiên cứu có thể ứng dụng trực tiếp vào công tác giảng dạy phổ thông như thế nào? Trả lời: Toàn bộ hệ thống 545 tác phẩm được phân loại theo chủ đề rõ ràng, cung cấp nguồn ngữ liệu chính thống đạt độ chính xác 100% cho phân môn Ngữ văn địa phương. Giáo viên có thể trích dẫn trực tiếp các câu tục ngữ nghề nông, làng nghề và địa danh lịch sử để thiết kế bài giảng trực quan, sinh động.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện 545 tác phẩm ca dao và tục ngữ tiêu biểu, phản ánh chân thực bản sắc văn hóa vùng đất Thái Bình.
  • Công trình chứng minh tính ưu việt của phương pháp tiếp cận liên ngành Văn học và Văn hóa học trong việc giải mã di sản ngôn từ dân gian.
  • Kết quả nghiên cứu xác lập mối quan hệ biện chứng giữa điều kiện địa lý tự nhiên châu thổ với tâm thức sáng tạo và bản lĩnh kiên cường của cư dân bản địa.
  • Hệ thống dữ liệu cung cấp nguồn tư liệu học thuật chuẩn xác, phục vụ trực tiếp công tác giáo dục địa phương và quy hoạch bảo tồn văn hóa.
  • Luận văn mở ra hướng nghiên cứu ứng dụng thực tiễn, kết nối việc lưu trữ di sản truyền thống với chuyển đổi số và phát triển kinh tế du lịch.

Theo lộ trình khuyến nghị, công tác số hóa và xuất bản chuyên khảo sẽ được xúc tiến hoàn thiện trong giai đoạn 2025 - 2028. Các cơ sở giáo dục, viện nghiên cứu và nhà quản lý văn hóa hãy chủ động khai thác sâu rộng công trình học thuật giá trị này để chung tay gìn giữ và lan tỏa nguồn tài nguyên di sản vô giá của quê hương.