ĐẶT VẤN ĐỀ Phytosome là phức hợp giữa hoạt chất tinh khiết (chủ yếu là các polyphenol) có nguồn gốc dược liệu hoặc hoạt chất trong cao dược liệu chuẩn hóa, có nhiều ưu điểm nổi bật như tăng khả năng hấp thu, tăng sinh khả dụng đường uống cho cả hoạt chất khó tan trong nước hoặc tính thấm kém qua màng sinh học, giảm liều sử dụng, tăng thời gian lưu thông của hoạt chất trong tuần hoàn, do đó tăng tác dụng của hoạt chất. Đây là một hướng nghiên cứu đầy hứa hẹn trong nghiên cứu phát triển các sản phẩm chăm sóc sức khỏe có nguồn gốc từ tự nhiên. Cao bạch quả (Ginkgo biloba) chứa flavonoid và terpen trilacton là các thành phần quan trọng nhất trong cao mang lại tác dụng sinh học, bởi chúng có tác dụng chống oxy hóa, loại bỏ gốc tự do, ức chế tác nhân chống kết tập tiểu cầu, bảo vệ chức năng của ty thể chống lại apoptosis. Tuy nhiên, nhược điểm lớn của các chế phẩm chứa cao bạch quả hiện nay là sinh khả dụng đường uống thấp do thành phần flavonoid có tính thấm kém, khó hấp thu qua niêm mạc đường tiêu hóa theo cơ chế khuếch tán thụ động [17], [31].
Hiện nay, tại bộ môn Bào chế trường đại học Dược Hà Nội phytosome cao bạch quả đã được tiến hành nghiên cứu bào chế [6]. Để tiếp tục nghiên cứu ứng dụng phytosome cao bạch quả vào dạng thuốc rắn, đề tài “Nghiên cứu bào chế và ứng dụng phytosome cao bạch quả” được thực hiện với mục tiêu chính: 1. Bào chế được phytosome cao bạch quả bằng phương pháp bốc hơi dung môi quy mô 940 g phytosome/lô. Bào chế được viên nang cứng chứa phytosome cao bạch quả.
Cao bạch quả Cao bạch quả (CBQ) sử dụng trong y học hiện đại là cao khô chiết xuất từ bột khô lá cây bạch quả (Ginkgo biloba L.), họ Bạch Quả (Ginkgoaceae) với dung môi chiết là hỗn hợp nước - aceton hoặc dung môi chiết thích hợp khác [27]. Thành phần hóa học Cao bạch quả chuẩn hóa chứa các thành phần: 22 - 27 % flavonoid (chủ yếu ở dạng flavonol glycosid); 5,4 - 12,0 % terpen trilacton bao gồm 2,6 - 5,8 % bilobalide và 2,8 - 6,2 % ginkgolide A, B, C; một số thành phần khác như proanthocyanidin, acid ginkgolic, biflavon. Thành phần hóa học của cao bạch quả chuẩn hóa EGb761 (sản xuất bởi Dr. Willmar Schwabe Pharmaceuticals) [29].
STT Nhóm thành phần % (kl/kl) 1 Flavonol glycosid 24,0 % 2 Terpen trilacton 6,0 % 3 Proanthocyanidin 7,0 % 4 Acid carboxylic 13,0 % 5 Catechin 2,0 % 6 Non-flavonol glycosid 20,0 % 7 Thành phần có khối lượng phân tử lớn 4,0 % 8 Thành phần vô cơ 5,0 % 9 Nước, dung môi 3,0 % 10 Thành phần khác 3,0 % 11 Thành phần không xác định 13,0 % 12 Alkylphenol ≤ 5 ppm Flavonoid là thành phần có hàm lượng cao nhất trong CBQ. Có hơn 30 loại flavonoid khác nhau được phát hiện, trong đó chủ yếu là dạng glycosid với phần aglycol chủ yếu là các flavonol: quercetin, kaempferol và isohamnetin, phần đường là glucose và/hoặc rhamnose. Dạng glycosid có thể là mono, di hoặc tri-glycosid [17], [18], [29]. Dạng glycosid dễ tan trong nước, ethanol, không tan hoặc rất ít tan trong dung môi hữu cơ ether, cloroform.
Cấu trúc hóa học của các flavonol glycosid chủ yếu trong CBQ [29]. Dược động học CBQ là cao khô chiết từ lá cây bạch quả, chứa nhiều các thành phần hóa học khác nhau tuy nhiên terpen trilacton và flavonoid đóng vai trò quan trọng nhất và được tập trung nghiên cứu quá trình dược động học. Feng Chen và cộng sự (2013) tiến hành nghiên cứu được động học của các thành phần trong CBQ chuẩn hóa GBE50 trên chuột. Chuột được sử dụng GBE50 theo đường tiêm và đường uống ở các liều khác nhau, sau đó flavonoid (tính toán theo tổng quercetin, tổng kaempferol và tổng isorhamnetin) và terpen trilacton (bilobalide, gingko A, B, C, J) được định lượng trong máu và thần kinh trung ương.
Kết quả cho thấy sinh khả dụng đường uống sau khi sử dụng 1 liều GBE50 đối với flavonoid là rất thấp: 0,5 -2%, 7 - 9 % và 3 - 9 % tương ứng với tổng quercetin, tổng kaempferol và tổng isorhamnetin; với terpen trilacton sinh khả dụng đạt được cao hơn: 33 - 64%, ngoại trừ gingko C chỉ khoảng 5 - 10 %. 36 - 71 % flavonol glycosid và dạng liên hợp của aglycol (glucuronat) liên kết với protein huyết tương, 67 - 83 % terpen trilacton liên kết với protetin huyết tương. Flavonoid và terpen trilacton xâm nhập vào thần kinh với lượng rất thấp, không đáng kể [10]. Như vậy, sinh khả dụng đường uống của CBQ cụ thể với thành phần flavonol glycosid là rất thấp.
Theo Li Li và cộng sự (2012) flavonoid trong CBQ chủ yếu là flavonol glycosid, rất dễ tan trong nước nhưng tính thấm kém (Papp < 0,05 ± 10-6 cm/s) [17]. Theo Sarah Waldmann và cộng sự (2012), 3 cao bạch quả được xếp vào nhóm III trong bảng hệ thống phân loại sinh dược học: tan tốt trong nước nhưng tính thấm kém, khó hấp thu qua niêm mạc đường tiêu hóa theo cơ chế khuếch tán thụ động [31]. Sau khi uống, chỉ một lượng nhỏ flavonol glycosid được hấp thu qua niêm mạc ruột non theo tĩnh mạch cửa vào gan sau đó hấp thu vào vòng tuần hoàn chung. Phần flavonol glycosid không được hấp thu bị deglycosyl hóa dưới tác dụng của vi khuẩn ở đại tràng, giải phóng dạng aglycol: một phần được hấp thu qua niêm mạc tiêu hóa hoặc chuyển hóa tạo thành acid phenolic.
Phần aglycol và một phần flavonol glycosid sau khi được hấp thu vào gan, trải qua quá trình chuyển hóa thành dạng liên hợp (chủ yếu dạng glucuronat) và đi vào vòng tuần hoàn chung. Vì vậy trong máu, flavonoid trong CBQ tồn tại ở hai dạng flavonol glycosid và dạng liên hợp glucuronat. Bên cạnh đó, sự thải trừ flavonoid vào mật chiếm tỷ lệ rất lớn (AUC trong mật gấp 1 - 33 lần so với AUC trong máu của một số flavonoid chính) đóng vai trò quan trọng làm giảm sinh khả dụng đường uống của flavonoid trong CBQ [17]. Như vậy, sinh khả dụng đường uống của flavonol glycosid trong CBQ rất thấp do tính thấm kém, cần có các biện pháp làm tăng tính thấm, tăng khả năng hấp thu, từ đó cải thiện sinh khả dụng của thành phần này.
Tác dụng dược lý Cao bạch quả chứa hàm lượng cao flavonoid (chủ yếu là flavonol glycosid) và terpen trilacton (bilobalide và ginkgolide A, B, C) đây là hai thành phần có hoạt tính sinh học đa dạng, quyết định tác dụng của CBQ thông qua nhiều cơ chế khác nhau: chống oxy hóa, loại bỏ nhiều loại gốc tự do, ức chế quá trình peroxid hóa lipid, bảo vệ chức năng của ty thể chống lại apoptosis, ức chế các yếu tố gây kết tập tiểu cầu, ức chế sự kết tập của peptid beta-amyloid. - Tác dụng trên thần kinh trung ương: terpen trilacton bảo vệ ty thể, chống lại sự tổn thương ty thể do gốc tự do gây ra, flavonoid có hoạt tính chống oxy hóa mạnh, thu dọn nhiều loại gốc tự do (peroxid, hydroxyl, superoxid) thiết lập sự cân bằng giữa chất oxy hóa và chất chống oxy hóa, giảm stress oxy hóa. Sự kết hợp của hai thành phần này giúp cho CBQ có hiệu quả trong các trường hợp suy giảm trí nhớ, suy thoái thần kinh như Alzheimer, sa sút trí tuệ do mạch máu não (vascular dementia), cải thiện khả năng tập trung, học tập và ghi nhớ [9]. 4 - Cải thiện sự tưới máu: CBQ làm tăng khả năng thay đổi hình dạng của hồng cầu, giảm kết tập tiểu cầu do ức chế các yếu tố gây kết tập tiểu cầu, giảm độ nhớt của máu do đó cải thiện sự lưu thông của máu [9].
Chỉ định Hiện nay, CBQ được sử dụng trong các trường hợp: - Cải thiện chức năng của não bộ: cải thiện chức năng nhận thức liên quan đến tuổi ở các trường hợp khác nhau: từ giảm trí nhớ nhẹ đến trung bình bao gồm cả Alzheimer; cải thiện khả năng học tập và trí nhớ, đau đầu, chóng mặt, ù tai… - Tăng cường hoạt động của hệ thống mạch máu não và tuần hoàn: bệnh tắc nghẽn động mạch ngoại vi, hội chứng Raynaud… [13]. Tác dụng không mong muốn Rất ít xảy ra tác dụng không mong muốn khi sử dụng CBQ. Một số tác dụng không mong muốn xảy ra như: rối loạn tiêu hóa, đau đầu, chóng mặt. Liều dùng Liều thường dùng 120-160 mg/ngày [13].
Hiệu quả cải thiện chức năng nhận thức của CBQ đến người mắc hội chứng sa sút trí tuệ (dementia) cần sử dụng liều cao hơn 200 mg/ngày (thường là 240 mg/ngày) và trong thời gian ít nhất 5 tháng [26], [33]. Một số chế phẩm chứa cao bạch quả lưu hành trên thị trường Bảng 1. Một số chế phẩm chứa CBQ chuẩn hóa lưu hành trên thị trường Tên chế Dạng bào Nhà sản xuất STT Thành phần Hàm lượng phẩm chế 40 mg (24% Cao bạch quả flavonol 1 Tanakan chuẩn hóa Viên nén Ipsen glycosid; 6% EGb761 terpen trilacton). 40 mg; 80 mg; Cao bạch quả 120 mg (24% Dr.
Willmar Viên nén 2 Tebonin chuẩn hóa flavonol Schwabe bao film EGb761 glycosid; 6% Pharmaceuticals terpen trilacton). Phức hợp PC 180 mg (24% Ginkgoselect và cao bạch Viên nang 3 flavonol Indena Phytosome quả chuẩn cứng glycosid). hóa 5 *Như vậy: cao bạch quả với hai thành phần chính là flavonoid và terpen trilacton có tác dụng sinh học cao. Tuy nhiên, sinh khả dụng đường uống của thành phần flavonoid trong cao chiết truyền thống còn thấp.
Vì vậy, nghiên cứu cải thiện tính thấm, tăng khả năng hấp thu, nâng cao sinh khả dụng đường uống cho thành phần flavonoid nói riêng và cao bạch quả nói chung là một yêu cầu có tính khoa học và cần thiết. Khái niệm phytosome Phytosome (phyto-phospholipid complex) là phức hợp của hoạt chất tinh khiết có nguồn gốc từ dược liệu hoặc hoạt chất trong cao dược liệu chuẩn hóa gắn với phospholipid ở mức độ phân tử. Trong môi trường nước, phytosome tạo thành dạng micel có có cấu trúc tương tự liposome [14], [15], [28]. Cấu trúc phytosome 1.
Thành phần của phytosome Cấu tạo của phytosome gồm 2 thành phần: hoạt chất tinh khiết có nguồn gốc từ dược liệu hoặc hoạt chất trong cao dược liệu chuẩn hóa và phospholipid tạo thành phức hợp và được coi là một phân tử mới. * Hoạt chất từ dược liệu (phyto-active compounds) Các hoạt chất tinh khiết có nguồn gốc từ thực vật/dược liệu hoặc các thành phần có hoạt tính trong cao dược liệu chuẩn hóa sử dụng trong bào chế phytosome thường là hoạt chất nhóm polyphenol như: flavonoid (rutin, quercetin, silybin…) saponin, terpenoid,…. Trong đó flavonoid (aglycol hoặc dạng glycosid) được sử dụng phổ biến trong bào chế phytosome như quercetin, silymarin, curcumin, rutin hoặc flavonoid glycosid trong cao bạch quả. 6 Nhiều hoạt chất từ dược liệu cho thấy có hoạt tính sinh học rất tốt trong thử nghiệm in vitro nhưng tác dụng hạn chế trong thử nghiệm in vivo.