ĐẶT VẤN ĐỀ Các nghiên cứu đã cho thấy tình trạng sử dụng thuốc bất hợp lý xảy ra tại nhiều nƣớc trên thế giới. Ở nhiều nƣớc đang phát triển, 30 - 60% bệnh nhân sử dụng kháng sinh gấp 2 lần so với tình trạng cần thiết và hơn một nửa số ca viêm đƣờng hô hấp trên điều trị kháng sinh không hợp lý. Tại châu Âu, sự đề kháng của phế cầu penicillin tỷ lệ thuận với lƣợng kháng sinh đƣợc sử dụng [30]. Theo các nghiên cứu kinh phí chữa bệnh chiếm khoảng 30 - 40% ngân sách ngành y tế của nhiều nƣớc và số tiền đó đang bị lãng phí do sử dụng thuốc không hợp lý và các hoạt động cung ứng thuốc không hiệu quả [31].
Ở Việt Nam, những năm vừa qua số lƣợng chế phẩm thuốc lƣu hành trên thị trƣờng không ngừng gia tăng. Theo số liệu thống kê của Cục quản lý Dƣợc tính đến tháng 7 năm 2014 có 28.659 số đăng ký thuốc đang lƣu hành, trong đó có 15.799 thuốc trong nƣớc và 12.860 thuốc nƣớc ngoài với khoảng 1. Điều này đã góp phần đảm bảo cung ứng đủ thuốc với giá cả tƣơng đối ổn định, cơ bản đã đáp ứng đƣợc nhu cầu phục vụ thuốc cho ngƣời dân và các cơ sở khám chữa bệnh. Tuy nhiên, vấn đề trên ít nhiều đã tác động không nhỏ tới việc sử dụng thuốc trong Bệnh viện, dẫn đến sự cạnh tranh không lành mạnh cũng nhƣ tình trạng lạm dụng thuốc.
Hiện nay, vẫn còn rất nhiều bất cập trong sử dụng thuốc tại các bệnh viện nhƣ: các thuốc không thiết yếu (không thực sự cần thiết) đƣợc sử dụng với tỷ lệ cao, tình trạng lạm dụng thuốc kháng sinh nhất là các kháng sinh thế hệ mới (sử dụng rộng rãi và kéo dài), các nhóm thuốc bổ trợ cũng nhƣ vitamin, khoáng chất… đƣợc kê đơn nhiều. Vì vậy, sự ra đời danh mục thuốc Bệnh viện là điều vô cùng cần thiết, đóng vai trò quan trọng trong vấn đề đảm bảo cung ứng thuốc, đem lại lợi ích to lớn với công tác khám chữa bệnh và nâng cao chất lƣợng chăm sóc sức khỏe của nhân dân. Tuy nhiên, bƣớc quan trọng này tại các Bệnh viện lại chƣa đƣợc quan tâm đúng mức, dẫn đến sự lãng phí về kinh tế cũng nhƣ chƣa tối đa hóa đƣợc hiệu quả điều trị. Bệnh viện Tuệ Tĩnh là Bệnh viện thực hành thuộc Học viện Y Dƣợc học cổ truyền Việt Nam - Bộ Y tế, là bệnh viện đa khoa hạng II, đƣợc thành lập theo 1 quyết định số 13/QĐ-BYT ngày 03 tháng 01 năm 2016 của Bộ trƣởng Bộ Y tế.
Việc nghiên cứu nâng cao chất lƣợng sử dụng thuốc là hết sức cần thiết, tuy nhiên công tác sử dụng thuốc Bệnh viện cũng không tránh khỏi những mặt còn hạn chế. Để góp phần hoàn thiện hoạt động xây dựng danh mục thuốc, nâng cao hiệu quả hoạt động cung ứng thuốc tại Bệnh viện, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Phân tích danh mục thuốc sử dụng tại Bệnh viện Tuệ Tĩnh thuộc Học viện Y Dƣợc học cổ truyền Việt Nam năm 2017” nhằm các mục tiêu sau: 1. Mô tả cơ cấu danh mục thuốc sử dụng tại Bệnh viện Tuệ Tĩnh thuộc Học viện Y Dược học cổ truyền Việt Nam năm 2017 theo một số chỉ tiêu. Phân tích cơ cấu danh mục thuốc sử dụng tại Bệnh viện Tuệ Tĩnh thuộc Học viện Y Dược học cổ truyền Việt Nam năm 2017 theo phương pháp ABC, VEN.
Từ đó đề xuất một số kiến nghị để xây dựng danh mục thuốc cho các Bệnh viện nói chung và Bệnh viện Tuệ Tĩnh thuộc Học viện Y Dƣợc học cổ truyền Việt Nam nói riêng một cách hiệu quả hơn. DANH MỤC THUỐC BỆNH VIỆN Danh mục thuốc Bệnh viện là Danh mục những thuốc thiết yếu đƣợc sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu điều trị tại Bệnh viện. Là cơ sở để đảm bảo cung ứng thuốc chủ động có kế hoạch nhằm phục vụ cho nhu cầu điều trị hợp lý, an toàn, hiệu quả. Danh mục thuốc Bệnh viện đƣợc xây dựng hàng năm theo định kỳ và có thể bổ sung hoặc loại bỏ một số thuốc trong Danh mục thuốc Bệnh viện sau khi đã có sự thống nhất của các thành viên Hội đồng Thuốc và điều trị Bệnh viện.
Nguyên tắc xây dựng danh mục - Bảo đảm phù hợp với mô hình bệnh tật và chi phí về thuốc dùng điều trị trong Bệnh viện; - Phù hợp về phân tuyến chuyên môn kỹ thuật; - Căn cứ vào các hƣớng dẫn hoặc phác đồ điều trị đã đƣợc xây dựng và áp dụng tại Bệnh viện hoặc cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; - Đáp ứng với các phƣơng pháp mới, kỹ thuật mới trong điều trị; - Phù hợp với phạm vi chuyên môn của Bệnh viện; - Thống nhất với Danh mục thuốc thiết yếu, Danh mục thuốc chủ yếu do Bộ Y tế ban hành; - Ƣu tiên thuốc sản xuất trong nƣớc [7]. Tiêu chí lựa chọn thuốc vào danh mục thuốc - Mô hình bệnh tật của Bệnh viện. - Thuốc có đủ bằng chứng tin cậy về hiệu quả điều trị, tính an toàn thông qua kết quả thử nghiệm lâm sàng. - Thuốc sẵn có ở dạng bào chế thích hợp bảo đảm sinh khả dụng, ổn định về chất lƣợng trong những điều kiện bảo quản và sử dụng theo quy định.
- Khi có từ hai thuốc trở lên tƣơng đƣơng nhau về hai tiêu chí đƣợc quy định thì phải lựa chọn trên cơ sở đánh giá kỹ các yếu tố về hiệu quả điều trị, tính an toàn, chất lƣợng, giá và khả năng cung ứng. - Đối với các thuốc có cùng tác dụng điều trị nhƣng khác về dạng bào chế, 3 cơ chế tác dụng, khi lựa chọn cần phân tích chi phí - hiệu quả giữa các thuốc với nhau, so sánh tổng chi phí liên quan đến quá trình điều trị, không so sánh chi phí tính theo đơn vị của từng thuốc. - Ƣu tiên lựa chọn thuốc ở dạng đơn chất. Đối với những thuốc ở dạng phối hợp nhiều thành phần phải có đủ tài liệu chứng minh liều lƣợng của từng hoạt chất đáp ứng yêu cầu điều trị trên một quần thể đối tƣợng ngƣời bệnh đặc biệt và có lợi thế vƣợt trội về hiệu quả, tính an toàn hoặc tiện dụng so với thuốc ở dạng đơn chất.
- Ƣu tiên lựa chọn thuốc generic hoặc thuốc mang tên chung quốc tế, hạn chế tên biệt dƣợc hoặc nhà sản xuất cụ thể. - Trong một số trƣờng hợp, có thể căn cứ vào một số yếu tố khác nhƣ các đặc tính dƣợc động học hoặc yếu tố thiết bị bảo quản, hệ thống kho chứa hoặc nhà sản xuất, cung ứng [7]. Quy trình lựa chọn một số thuốc mới - Chỉ có bác sĩ, dƣợc sĩ mới có quyền yêu cầu bổ sung hoặc loại bỏ một thuốc. - Bản yêu cầu bằng văn bản gửi cho thƣ ký của HĐT&ĐT.
- Thành viên HĐT&ĐT đánh giá thuốc bằng cách rà soát lại thông tin trong y văn và chuẩn bị một bản báo cáo viết. - Đƣa ra những ý kiến đề xuất cho Danh mục. - Trình bày kết quả đánh giá tại cuộc họp của HĐT&ĐT. - HĐT&ĐT chấp nhận hoặc bác bỏ yêu cầu kể trên (việc đƣa ra quyết định phải minh bạch và quy trình nhất quán).
- Phổ biến quyết định của HĐT&ĐT đến tất cả các cá nhân liên quan. Quản lý thuốc ngoài danh mục - Hạn chế số lƣợng thuốc ngoài Danh mục. - Hạn chế tiếp cận. - Lƣu trữ hồ sơ yêu cầu đối với thuốc không nằm trong Danh mục (tên thuốc, số lƣợng, chỉ định).
- Thƣờng xuyên rà soát và thảo luận tại các cuộc họp của HĐT&ĐT. MỘT SỐ PHƢƠNG PHÁP PHÂN TÍCH DANH MỤC THUỐC Trong các thống kê nhiều năm gần đây cho thấy, tiền thuốc sử dụng trong Bệnh viện thƣờng chiếm khoảng 60% ngân sách của Bệnh viện [26]. Để công tác sử dụng thuốc tránh những bất cập, nhà quản lý cần có những biện pháp cải thiện. Một số công cụ để đánh giá thực trạng vấn đề sử dụng thuốc trong Bệnh viện hiện nay là phƣơng pháp phân tích sử dụng thuốc theo nhóm điều trị, phân tích ABC, phân tích VEN.
Từ đó HĐT&ĐT xác định các vấn đề, nguyên nhân liên quan đến sử dụng thuốc và lựa chọn các giải pháp can thiệp phù hợp [7]. Phân tích sử dụng thuốc theo nhóm điều trị Phân tích nhóm điều trị kết hợp với việc tính chi phí sử dụng thuốc giúp xác định những nhóm điều trị có mức sử dụng thuốc cao nhất và chi phí nhiều nhất. Trên cơ sở thông tin về tình hình bệnh tật, phƣơng pháp này sẽ gợi ý những vấn đề sử dụng thuốc bất hợp lý. Ngoài ra phƣơng pháp này sẽ chỉ ra những thuốc đã bị lạm dụng hoặc những thuốc mà mức tiêu thụ không mang tính đại diện cho những ca bệnh cụ thể.
Qua đây, HĐT&ĐT lựa chọn những thuốc có chi phí hiệu quả cao nhất trong các nhóm điều trị và thuốc lựa chọn trong liệu pháp điều trị thay thế. Từ đó tiến hành phân tích cụ thể hơn cho mỗi nhóm điều trị chi phí cao để xác định những thuốc đắt tiền và liệu pháp điều trị thay thế có chi phí hiệu quả cao [7]. Phương pháp phân tích ABC Phân tích ABC là phƣơng pháp phân tích tƣơng quan giữa lƣợng thuốc tiêu thụ hàng năm và chi phí, nhằm phân định ra những thuốc nào chiếm tỷ lệ lớn trong ngân sách. Đây là phƣơng pháp tiếp cận hiệu quả để quản lý thuốc dựa trên nguyên lý Pareto “số ít sống còn và số nhiều ít có ý nghĩa”.
Theo lý thuyết Pareto: 10% theo chủng loại của thuốc sử dụng 70% ngân sách thuốc (nhóm A). Nhóm tiếp theo: 20% theo chủng loại sử dụng 20% ngân sách (nhóm B), nhóm còn lại (nhóm C): 70% theo chủng loại nhƣng chỉ sử dụng 10% ngân sách. Phân 5 tích ABC có thể ứng dụng các số liệu sử dụng thuốc cho chu kỳ một năm hoặc ngắn hơn để ứng dụng cho một hoặc nhiều đợt đấu thầu, từ các kết quả phân tích thu đƣợc, các giải pháp can thiệp đƣợc đƣa ra nhằm điều chỉnh ngân sách thuốc cho một hoặc nhiều năm tiếp theo [7]. Phân tích ABC là một công cụ mạnh mẽ trong lựa chọn, mua và cấp phát và sử dụng thuốc hợp lý để có đƣợc bức tranh chính xác và khách quan về sử dụng ngân sách thuốc.
Phân tích ABC có nhiều lợi ích: trong lựa chọn thuốc, phân tích đƣợc thuốc nhóm A có chi phí cao, các thuốc này có thể đƣợc thay thế bởi các thuốc rẻ hơn; trong mua hàng, dùng để xác định tần suất mua hàng: mua thuốc nhóm A nên thƣờng xuyên hơn, với số lƣợng nhỏ hơn, dẫn đến hàng tồn kho thấp hơn, bất kỳ giảm giá của các loại thuốc nhóm A có thể dẫn đến tiết kiệm đáng kể ngân sách.