Luận văn: Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp tại tỉnh Bình Định

Luận văn thạc sỹ luật phân tích quy định và thực tiễn bồi thường khi thu hồi đất nông nghiệp tại tỉnh Bình Định, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện.

Chuyên ngành

Luật kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2019

53
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan bồi thường thu hồi đất nông nghiệp Bình Định

Việc bồi thường thu hồi đất nông nghiệp tại Bình Định là một vấn đề pháp lý và xã hội phức tạp, có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của hàng nghìn hộ dân và sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nhu cầu thu hồi đất cho các dự án hạ tầng, khu công nghiệp ngày càng tăng. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc xây dựng một cơ chế, chính sách bồi thường đất nông nghiệp hợp lý, minh bạch và hiệu quả. Luận văn “Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Bình Định” của tác giả Võ Minh Cảnh (2019) đã đi sâu phân tích cơ sở lý luận, thực trạng và đề xuất các giải pháp hoàn thiện. Quá trình này không chỉ là việc đền bù giá trị đất mà còn bao gồm các chính sách hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và đảm bảo sinh kế bền vững cho người dân. Pháp luật Việt Nam, đặc biệt là Luật Đất đai 2013 (và các định hướng trong Luật Đất đai 2024), cùng các văn bản hướng dẫn như Nghị định 47/2014/NĐ-CP, đã tạo ra hành lang pháp lý quan trọng. Tuy nhiên, việc áp dụng tại địa phương vẫn còn nhiều thách thức, đòi hỏi sự vào cuộc quyết liệt của UBND tỉnh Bình Định và các sở, ban, ngành liên quan để giải quyết hài hòa lợi ích giữa nhà nước, nhà đầu tư và người dân có đất bị thu hồi, hạn chế tối đa các khiếu nại về đền bù đất.

1.1. Phân tích cơ sở pháp lý và chính sách bồi thường đất

Cơ sở pháp lý cho công tác bồi thường khi thu hồi đất nông nghiệp được quy định trong hệ thống pháp luật đất đai quốc gia. Luật Đất đai 2013 là văn bản nền tảng, xác định rõ các trường hợp thu hồi đất, nguyên tắc, điều kiện và trình tự bồi thường. Cụ thể hóa các quy định này là các nghị định của Chính phủ, nổi bật là Nghị định 47/2014/NĐ-CP quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư. Tại Bình Định, UBND tỉnh Bình Định đã ban hành các quyết định cụ thể để áp dụng pháp luật phù hợp với tình hình địa phương, như Quyết định số 4/2014/QĐ-UBND về bảng giá đất và Quyết định số 18/2015/QĐ-UBND quy định chi tiết một số nội dung bồi thường. Các văn bản này là công cụ pháp lý để các cơ quan chức năng như Sở Tài nguyên và Môi trường Bình Định và Hội đồng bồi thường cấp huyện triển khai công tác giải phóng mặt bằng (GPMB). Việc nắm vững các quy định này là điều kiện tiên quyết để đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho người dân và tính pháp lý cho các thu hồi đất dự án.

1.2. Các nguyên tắc và điều kiện bồi thường đất nông nghiệp

Theo quy định tại Điều 74 Luật Đất đai 2013, việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất phải tuân thủ các nguyên tắc cốt lõi. Thứ nhất, người sử dụng đất phải có đủ điều kiện theo quy định tại Điều 75 mới được bồi thường. Thứ hai, việc bồi thường phải đảm bảo dân chủ, khách quan, công bằng, công khai, kịp thời và đúng quy định. Ưu tiên bồi thường bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng; trường hợp không có đất thì bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể tại thời điểm có quyết định thu hồi. Thứ ba, giá đất bồi thường phải sát với giá thị trường. Điều kiện để được bồi thường là người sử dụng đất phải có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc có đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận mà chưa được cấp, trừ một số trường hợp đặc biệt. Việc xác định đúng đối tượng và điều kiện bồi thường là bước quan trọng nhất để tránh sai sót và khiếu nại về đền bù đất sau này.

II. Phân tích thực trạng bồi thường đất đai tại Bình Định

Phân tích thực trạng bồi thường đất đai tại Bình Định trong giai đoạn 2012-2016 cho thấy nhiều kết quả tích cực nhưng cũng bộc lộ không ít hạn chế. Tỉnh đã triển khai hàng loạt dự án trọng điểm như Quốc lộ 19, Khu kinh tế Nhơn Hội, góp phần thay đổi diện mạo kinh tế. Tuy nhiên, công tác bồi thường thu hồi đất nông nghiệp tại Bình Định thường xuyên đối mặt với các vướng mắc. Một trong những vấn đề nổi cộm là đơn giá bồi thường đất nông nghiệp Bình Định còn thấp so với giá thị trường, gây ra sự không đồng thuận từ phía người dân. Theo luận văn của Võ Minh Cảnh, giá đất do UBND tỉnh công bố chỉ bằng khoảng 40-50% giá giao dịch thực tế. Quy trình giải phóng mặt bằng (GPMB) còn chậm trễ, kéo dài, ảnh hưởng đến tiến độ dự án và gây bức xúc cho người dân. Hồ sơ quản lý đất đai ở một số địa phương chưa đầy đủ, thiếu cập nhật, gây khó khăn trong việc xác định nguồn gốc đất và điều kiện bồi thường. Tình trạng khiếu nại về đền bù đất diễn ra phức tạp, kéo dài ở nhiều dự án, điển hình như dự án Khu du lịch Vinpearl Quy Nhơn. Những hạn chế này đòi hỏi cần có các giải pháp hoàn thiện chính sách một cách đồng bộ và quyết liệt.

2.1. Các bất cập trong công tác giải phóng mặt bằng GPMB

Công tác giải phóng mặt bằng (GPMB) tại Bình Định còn tồn tại nhiều bất cập. Tiến độ lập, thẩm định và phê duyệt phương án bồi thường thường chậm so với yêu cầu, trung bình kéo dài từ 1-2 năm. Nguyên nhân đến từ cả quy trình hành chính phức tạp và sự thiếu phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan. Một số trường hợp người dân không hợp tác trong quá trình kiểm đếm do chưa đồng thuận về chính sách, dẫn đến việc phải áp dụng các biện pháp cưỡng chế. Hơn nữa, năng lực của một số cán bộ làm công tác bồi thường còn hạn chế, thiếu chuyên nghiệp, dẫn đến sai sót trong việc lập hồ sơ. Theo thống kê giai đoạn 2012-2016, số dự án chậm tiến độ vẫn chiếm tỷ lệ khá cao, gây lãng phí nguồn lực và ảnh hưởng đến môi trường đầu tư của tỉnh.

2.2. Vấn đề khiếu nại về đền bù đất và hướng giải quyết

Tình trạng khiếu nại về đền bù đất là một trong những thách thức lớn nhất trong thực trạng bồi thường đất đai tại Bình Định. Đơn thư khiếu nại chủ yếu tập trung vào các vấn đề: giá bồi thường thấp, xác định sai loại đất, không được bồi thường hoặc chính sách tái định cư khi thu hồi đất chưa thỏa đáng. Luận văn trích dẫn trường hợp của bà Nguyễn Thị Hà (phường Quang Trung, Quy Nhơn) là một ví dụ điển hình về việc người dân khiếu nại kéo dài do số tiền bồi thường không đủ để tái tạo cuộc sống. Quy định hiện hành cho phép tiếp tục thực hiện quyết định thu hồi đất trong khi chờ giải quyết khiếu nại (theo Nghị định 47/2014/NĐ-CP) đôi khi gây ra tâm lý bức xúc, dễ dẫn đến xung đột. Việc giải quyết khiếu nại cần được thực hiện kịp thời, công khai và có đối thoại trực tiếp với người dân để tìm ra phương án hợp lý nhất.

2.3. Thách thức trong hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tái định cư

Chính sách hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và ổn định đời sống cho người dân bị thu hồi đất nông nghiệp là một cấu phần quan trọng nhưng việc thực hiện còn nhiều hạn chế. Nhiều nông dân sau khi nhận tiền bồi thường đã mất đi tư liệu sản xuất chính, gặp khó khăn trong việc tìm kiếm việc làm mới do hạn chế về tuổi tác và kỹ năng. Các chương trình đào tạo nghề đôi khi chưa phù hợp với nhu cầu thực tế của thị trường lao động và năng lực của người dân. Bên cạnh đó, việc tái định cư khi thu hồi đất cũng gặp vấn đề. Nơi ở mới có thể không đảm bảo điều kiện sống và sinh kế tương đương nơi ở cũ, làm xáo trộn cuộc sống và cấu trúc xã hội truyền thống của cộng đồng dân cư. Đây là những hệ lụy xã hội cần được quan tâm giải quyết một cách thấu đáo.

III. Phương pháp tính đơn giá bồi thường đất nông nghiệp

Việc xác định đơn giá bồi thường đất nông nghiệp Bình Định là khâu then chốt, quyết định sự đồng thuận của người dân trong quá trình thu hồi đất dự án. Theo Luật Đất đai 2013, giá đất để tính bồi thường là giá đất cụ thể do UBND tỉnh Bình Định quyết định tại thời điểm thu hồi. Giá đất cụ thể này được xác định dựa trên ba yếu tố chính: khung giá đất do Chính phủ ban hành, bảng giá đất nông nghiệp của tỉnh và giá chuyển nhượng thực tế trên thị trường trong điều kiện bình thường. Tuy nhiên, thực tế cho thấy giá đất trong bảng giá thường có độ trễ và thấp hơn giá thị trường. Để khắc phục, các địa phương sử dụng hệ số điều chỉnh giá đất (hệ số K). Đây là hệ số do UBND tỉnh quyết định hàng năm để điều chỉnh giá đất trong bảng giá cho tiệm cận hơn với giá thị trường. Quy trình xác định giá đất cụ thể đòi hỏi sự tham gia của các cơ quan chuyên môn như Sở Tài nguyên và Môi trường Bình Định và có thể thuê các đơn vị tư vấn độc lập. Sự minh bạch trong phương pháp định giá và việc công khai thông tin là yếu tố cực kỳ quan trọng để tạo dựng niềm tin và giảm thiểu các khiếu nại về đền bù đất.

3.1. Phân tích khung giá đất và bảng giá đất tỉnh Bình Định

Chính phủ ban hành khung giá đất định kỳ 5 năm một lần cho từng vùng kinh tế, đây là cơ sở để các tỉnh xây dựng bảng giá đất của riêng mình. Dựa trên khung này, UBND tỉnh Bình Định ban hành bảng giá đất nông nghiệp và các loại đất khác trên địa bàn, áp dụng trong chu kỳ 5 năm và được điều chỉnh hàng năm cho phù hợp. Ví dụ, Quyết định số 4/2014/QĐ-UBND đã ban hành bảng giá đất giai đoạn 2015-2019. Bảng giá này phân chia giá đất theo vị trí, hạng đất (đối với đất trồng lúa, cây hàng năm) tại các khu vực đồng bằng và miền núi. Tuy nhiên, bảng giá đất thường chỉ được xem là giá tối thiểu và thường thấp hơn nhiều so với giá giao dịch thực tế, dẫn đến sự bất cập khi áp dụng để tính bồi thường.

3.2. Vai trò của hệ số điều chỉnh giá đất hệ số K trong bồi thường

Để giải quyết sự chênh lệch giữa bảng giá đất và giá thị trường, pháp luật đã quy định việc áp dụng hệ số điều chỉnh giá đất (hệ số K). UBND tỉnh Bình Định sẽ ban hành quyết định về hệ số K hàng năm sau khi Sở Tài nguyên và Môi trường Bình Định trình phương án. Hệ số này được áp dụng để nhân với giá trong bảng giá đất, từ đó xác định giá đất cụ thể để tính tiền bồi thường. Ví dụ, nếu giá đất nông nghiệp trong bảng giá là 58.000 VNĐ/m² và hệ số K được xác định là 1.5, thì giá đất bồi thường sẽ là 87.000 VNĐ/m². Việc xác định hệ số K một cách khoa học, khách quan và sát với thực tế là yếu tố quyết định để đảm bảo quyền lợi cho người bị thu hồi đất.

IV. Quy trình bồi thường thu hồi đất nông nghiệp tại Bình Định

Quy trình bồi thường thu hồi đất nông nghiệp tại Bình Định được thực hiện theo các bước chặt chẽ, tuân thủ quy định của Luật Đất đai 2013 và các văn bản hướng dẫn. Toàn bộ quy trình đòi hỏi sự phối hợp nhịp nhàng giữa nhiều cơ quan, từ cấp tỉnh đến cấp xã. Thẩm quyền thu hồi đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân thuộc về UBND cấp huyện. Quy trình bắt đầu từ việc ban hành thông báo thu hồi đất, kế hoạch thu hồi đất. Tiếp theo là giai đoạn điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm diện tích đất, tài sản trên đất để lập phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư. Phương án này phải được lấy ý kiến công khai của người dân bị ảnh hưởng trước khi được cơ quan có thẩm quyền thẩm định và phê duyệt. Sở Tài nguyên và Môi trường Bình Định đóng vai trò thẩm định phương án đối với các trường hợp do UBND tỉnh thu hồi đất. Sau khi phương án được phê duyệt, quyết định thu hồi đất được ban hành và tổ chức chi trả tiền bồi thường, bố trí tái định cư khi thu hồi đất và thực hiện giải phóng mặt bằng (GPMB). Việc tuân thủ đúng và đầy đủ quy trình là cơ sở để đảm bảo tính pháp lý và giảm thiểu tranh chấp.

4.1. Thẩm quyền thu hồi đất và vai trò của UBND các cấp

Thẩm quyền thu hồi đất được phân cấp rõ ràng. Theo Điều 66 Luật Đất đai 2013, UBND tỉnh Bình Định có thẩm quyền thu hồi đất đối với tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao. UBND cấp huyện có thẩm quyền thu hồi đất đối với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư. Trong quá trình này, UBND cấp xã có vai trò quan trọng trong việc phối hợp với tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường để phổ biến thông tin, tổ chức họp dân, xác nhận nguồn gốc đất và tham gia giải quyết các vướng mắc phát sinh tại cơ sở.

4.2. Các bước chi tiết trong thủ tục bồi thường hỗ trợ

Thủ tục bồi thường bao gồm các bước chính: (1) Lập, thẩm định và phê duyệt Kế hoạch thu hồi đất, điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm. (2) Ban hành Thông báo thu hồi đất. (3) Lập phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư. (4) Lấy ý kiến về phương án bồi thường. (5) Hoàn thiện và trình duyệt phương án. (6) Ban hành quyết định thu hồi đất và quyết định phê duyệt phương án bồi thường (thường trong cùng một ngày). (7) Tổ chức chi trả tiền bồi thường, bàn giao đất. Trong trường hợp người dân không đồng ý, các cơ quan phải tổ chức đối thoại, vận động thuyết phục. Nếu không thành, có thể tiến hành các thủ tục cưỡng chế thu hồi đất theo quy định của pháp luật.

V. Kết quả nghiên cứu tình hình thu hồi đất tại Bình Định

Nghiên cứu về bồi thường thu hồi đất nông nghiệp tại Bình Định trong luận văn của Võ Minh Cảnh cung cấp những số liệu quan trọng về giai đoạn 2012-2016. Giai đoạn này chứng kiến sự gia tăng mạnh mẽ về số lượng dự án và diện tích đất thu hồi. Mỗi năm, tỉnh triển khai từ 60-80 dự án, trong đó tỷ lệ đất nông nghiệp bị thu hồi chiếm phần lớn, có năm lên đến 70% tổng diện tích (năm 2014, 2016). Điều này phản ánh xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế mạnh mẽ của tỉnh, nhưng cũng đặt ra gánh nặng lớn lên quỹ đất nông nghiệp và đời sống người nông dân. Các thu hồi đất dự án trọng điểm như Khu kinh tế Nhơn Hội, Quốc lộ 1D đã góp phần thúc đẩy phát triển, tuy nhiên tiến độ giải phóng mặt bằng (GPMB) còn nhiều hạn chế. Thống kê cho thấy số dự án chậm tiến độ vẫn chiếm tỷ lệ cao. Nguyên nhân chính được chỉ ra là do vướng mắc trong chính sách bồi thường, đặc biệt là đơn giá bồi thường đất nông nghiệp Bình Định và quy trình giải quyết khiếu nại, dẫn đến việc người dân chưa đồng thuận bàn giao mặt bằng. Những kết quả nghiên cứu này là cơ sở thực tiễn quý giá để đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách trong tương lai.

5.1. Thống kê các dự án thu hồi đất nông nghiệp 2012 2016

Theo số liệu tổng hợp, trong giai đoạn 2012-2016, tỉnh Bình Định đã thực hiện thu hồi đất cho hàng trăm dự án. Năm 2012 có 59 dự án, đến năm 2016 con số này tăng lên 73 dự án. Diện tích thu hồi đất dự án cũng tăng dần. Đáng chú ý, đất nông nghiệp luôn chiếm tỷ trọng cao nhất. Cụ thể, trong tổng số 423.158 m² đất thu hồi năm 2012, diện tích đất nông nghiệp là 297.990 m². Tỷ lệ này cho thấy áp lực của quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa lên đất sản xuất nông nghiệp là rất lớn, đòi hỏi chính sách bồi thường và hỗ trợ phải thực sự hiệu quả để đảm bảo an sinh xã hội và an ninh lương thực.

5.2. Đánh giá thực tiễn tiến độ công tác bồi thường GPMB

Mặc dù đã có nhiều nỗ lực, tiến độ công tác bồi thường thu hồi đất nông nghiệp tại Bình Địnhgiải phóng mặt bằng (GPMB) vẫn chưa đạt kỳ vọng. Bảng thống kê cho thấy trong 73 dự án thực hiện năm 2016, chỉ có 44 dự án đúng tiến độ, còn lại 29 dự án bị chậm trễ ở các mức độ khác nhau, trong đó có 3 dự án chậm trên 2 năm. Sự chậm trễ này không chỉ gây thiệt hại cho nhà đầu tư, làm tăng chi phí dự án mà còn ảnh hưởng đến đời sống người dân trong vùng quy hoạch, gây mất ổn định và phát sinh các khiếu nại về đền bù đất kéo dài. Đây là minh chứng rõ ràng cho thấy các vướng mắc trong cơ chế, chính sách cần được tháo gỡ khẩn trương.

VI. Top giải pháp hoàn thiện chính sách bồi thường đất đai

Để nâng cao hiệu quả công tác bồi thường thu hồi đất nông nghiệp tại Bình Định, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp hoàn thiện chính sách. Dựa trên phân tích thực trạng, luận văn đã đề xuất các phương hướng quan trọng. Trước hết, cần hoàn thiện quy định về giá đất bồi thường theo hướng tiệm cận tối đa với giá thị trường. Điều này có thể thực hiện thông qua việc xây dựng cơ sở dữ liệu giá đất độc lập, chuyên nghiệp hóa công tác định giá và điều chỉnh hệ số điều chỉnh giá đất (hệ số K) một cách minh bạch. Thứ hai, cần đơn giản hóa và công khai hóa quy trình, thủ tục hành chính để rút ngắn thời gian giải phóng mặt bằng (GPMB). Thứ ba, đặc biệt chú trọng đến các chính sách hậu thu hồi đất, bao gồm việc xây dựng các chương trình hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp thực chất, hiệu quả và đảm bảo các khu tái định cư khi thu hồi đất có điều kiện sống tốt hơn hoặc bằng nơi ở cũ. Với sự ra đời của Luật Đất đai 2024, nhiều nguyên tắc mới như “hài hòa lợi ích” và “sinh kế bền vững” được nhấn mạnh, tạo cơ sở pháp lý vững chắc hơn để Bình Định triển khai các giải pháp này một cách hiệu quả.

6.1. Kiến nghị các giải pháp hoàn thiện chính sách bồi thường

Các giải pháp hoàn thiện chính sách cần tập trung vào các điểm sau: (1) Sửa đổi quy định về thời điểm tính giá bồi thường, nên tính tại thời điểm chi trả tiền thay vì thời điểm ra quyết định thu hồi để tránh thiệt hại do trượt giá. (2) Quy định rõ ràng ranh giới giữa thu hồi đất vì mục đích công và dự án kinh tế, khuyến khích cơ chế thỏa thuận giá đối với các dự án thương mại. (3) Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật để người dân hiểu rõ quyền và nghĩa vụ của mình. (4) Nâng cao năng lực và trách nhiệm của đội ngũ cán bộ làm công tác bồi thường, đồng thời tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra để xử lý nghiêm các hành vi tiêu cực, tham nhũng.

6.2. Tác động của Luật Đất đai 2024 đến việc bồi thường

Luật Đất đai 2024 (có hiệu lực từ 01/01/2025) được kỳ vọng sẽ tạo ra những thay đổi đột phá. Luật mới nhấn mạnh nguyên tắc bồi thường phải đảm bảo người có đất bị thu hồi có chỗ ở, đảm bảo thu nhập và điều kiện sống bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ. Một điểm mới quan trọng là việc bỏ khung giá đất của Chính phủ, thay vào đó bảng giá đất sẽ được xây dựng sát với giá thị trường hơn. Luật cũng quy định cụ thể hơn về các khoản hỗ trợ, đặc biệt là hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và đào tạo, tìm kiếm việc làm. Những thay đổi này sẽ là cơ hội để Bình Định rà soát, điều chỉnh và xây dựng các chính sách bồi thường công bằng, bền vững hơn, giải quyết triệt để những bất cập đã được chỉ ra trong thực trạng bồi thường đất đai thời gian qua.

04/10/2025
Bồi thường khi nhà nước thu hồi đất nông nghiệp theo pháp luật việt nam từ thực tiễn tỉnh bình định luận văn thạc sỹ luật

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI TỈNH BÌNH ĐỊNH 1. Thực trạng áp ụng quy định pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp tại tỉnh Bình Định 1. Các quy định về nguyên tắc và điều kiện bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp Luật Đất đai năm 2013 đã Luật hóa các nguyên tắc bồi thường đồng thời tách nguyên tắc bồi thường về đất và nguyên tắc bồi thường thiệt hại về tài sản, ngừng sản xuất kinh doanh khi Nhà nước thu hồi đất thành 02 điều riêng biệt (Điều 74 và Điều 88 Luật Đất đai năm 201 ) và có một điều luật riêng quy định về nguyên tắc h trợ khi Nhà nước thu hồi đất (Điều 8 Luật Đất đai năm 201 ). Theo đó, về cơ bản, nguyên tắc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp thể hiện trên các khía cạnh sau: h nhất người ị thu hồi đất c đ đi u kiện theo u định c a pháp luật thì được ồi thường.

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 74 Luật Đất đai xác định nguyên tắc : “Người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất nếu có đủ điều kiện được bồi thường quy định tại Điều 75 của Luật này thì được bồi thường”. Ngoài ra, với các trường hợp không được bồi thường về đất luật cũng xác định vấn đề bồi thường về chi phí đầu tư vào đất còn lại (Khoản 1 Điều 76 Luật Đất đai năm 201 ). Việc bồi thường về tài sản sản xuất, kinh doanh khi Nhà nước thu hồi đất cũng chỉ được đặt ra khi “ h h u tài n hợp pháp g n li n ới đất ị thiệt hại tài n được ồi thường” và “ hi Nhà nước thu hồi đất mà t ch c h gia đình cá nh n người Việt Nam định cư nước ngoài oanh nghiệp c n đ u tư nước ngoài ph i ngừng n uất kinh oanh mà c thiệt hại thì được ồi thường thiệt hại”. h hai, iệc ồi thường ođ mđ đ các thiệt hại.

Khoản 2 Điều 74 Luật Đất đai năm 201 quy định “Việc ồi thường được thực hiện ng iệc giao đất c 8 c ng m c đ ch ng ới loại đất thu hồi nếu không c đất đ ồi thường thì được ồi thường ng ti n theo giá đất c th c a loại đất thu hồi o an nh n n cấp tỉnh u ết định tại thời đi m u ết định thu hồi đất”. h a, iệc ồi thường ph i theo giá thị trường. Luật Đất đai năm 201 quy định: “Được ồi thường ng ti n theo giá đất c th c a loại đất thu hồi do ban nhân dân cấp tỉnh u ết định tại thời đi m u ết định thu hồi đất”( ho n 2 Đi u 74). Nghị định số 47/2014/NĐ-CP cũng quy định: “ hi ph đ u tư ào đất c n lại được t nh ph i ph hợp ới giá thị trường tại thời đi m c u ết định thu hồi đất”.

Về lý thuyết, việc bồi thường phải dựa trên thiệt hại thực tế, tuy nhiên đối với đất nông nghiệp, tuy giá đất bồi thường tính thấp hơn so với đất phi nông nghiệp và đặc biệt thấp hơn nhiều so với giá đất thị trường, sự biến động giá đất cũng không đáng kể nhưng trên thực tế người bị thu hồi đất không được nhận tiền bồi thường ngay tại thời điểm có quyết định thu hồi đất mà phải sau một thời gian, có khi sau từ 3 - 5 năm kể từ ngày này, do việc thực hiện những quy trình thủ tục nên điều này dễ dẫn đến bức xúc của người dân có đất bị thu hồi. h tư iệc ồi thường ph i o đ m công khai minh ạch n ch kịp thời à đúng u định pháp luật. Luật Đất đai năm 201 đã khẳng định lại nguyên tắc này cả ở hai Điều luật về nguyên tắc bồi thường về đất và nguyên tắc h trợ khi Nhà nước thu hồi đất: “Việc ồi thường khi Nhà nước thu hồi đất ph i ođ m n ch khách uan công ng công khai kịp thời à đúng u định c a pháp luật” (Khoản Điều 75); “Việc hỗ trợ ph i o đ m khách uan công ng kịp thời công khai à đúng u định c a pháp luật” (Điểm b, Khoản 1 Điều 83). h năm hình th c ồi thường.

Có hai hình thức bồi thường là: bồi thường bằng đất và bồi thường bằng tiền. Đối với hình thức bồi thường bằng đất thì đây là hình thức bồi thường mà trên thực tế chỉ mang tính chủ trương và hình thức. Đối với hình thức bồi thường đất bằng tiền. Đây được xem như giải pháp thay thế trong trường hợp không còn đất nông nghiệp để bồi thường.

Việc bồi thường bằng tiền sẽ tạo thuận lợi cho các địa phương trong việc tính toán chi trả bồi thường 9 song lại khó có được sự đồng thuận của người dân vì những bất cập về giá đất để tính bồi thường là giá đất theo mục đích đang sử dụng tại thời điểm có quyết định thu hồi đất do UBND cấp tỉnh công bố theo quy định của Chính phủ. Cơ sở pháp lý và điều kiện bồi thường đối với đất nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi. Căn cứ pháp lý để xác định quyền sử dụng đất hợp pháp là phải có các giấy tờ sau: h nhất Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đây là loại giấy tờ có giá trị pháp lý cao nhất để khẳng định quyền sử đất hợp pháp, là cơ sở để người sử dụng đất thực hiện các quyền năng do pháp luật quy định.

h hai những giấy tờ hợp lệ về quyền sử dụng đất được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp trong quá trình thực hiện chính sách đất đai qua các thời kỳ. Căn cứ vào Điều 100 Luật Đất đai năm 201 , diện tích đất đủ điều kiện được cấp GCNQSDĐ được hiểu là người sử dụng diện tích đất bị thu hồi có những giấy tờ sau đây: “Nh ng giấ tờ u n được ng đất trước ngà tháng năm oc uan c th m u n cấp trong uá trình thực hiện ch nh ách đất đai c a Nhà nước Việt Nam n ch ng h a h nh ph ách mạng l m thời ng h a mi n Nam Việt Nam à Nhà nước ng h a h i ch ngh a Việt Nam iấ ch ng nhận u n ng đất tạm thời được c uan Nhà nước c th m u n cấp ho c c t n trong đăng k ru ng đất địa ch nh trước ngà tháng năm iấ tờ hợp pháp thừa kế t ng cho u n ng đất ho c tài ng n li n ới đất iấ tờ giao nhà tình ngh a nhà tình thư ng g n li n ới đất iấ tờ chu n nhượng u n ng đất mua án nhà g n li n ới đất trước ngà tháng năm được an nh n n cấp ác nhận là đ ng trước ngày 15 tháng năm iấ tờ thanh l h a giá nhà g n li n ới đất iấ tờ mua nhà thu c h u Nhà nước theo u định c a pháp luật iấ tờ u n ng đất o c uan c th m u n thu c chế đ c cấp cho người ng đất ác loại giấ tờ khác được ác lập trước ngà tháng năm 10 theo u định c a h nh ph ”. Tuy nhiên, những trường hợp người sử dụng đất đối với đất nông nghiệp do khai hoang, sử dụng vào mục dích nông nghiệp nhưng không có giấy tờ về quyền sử dụng đất, được các hộ dân sinh sống lâu năm xác nhận và UBND cấp xã, phường nơi có đất nông nghiệp xác nhận không có tranh chấp, thì thực hiện bồi thường theo thời điểm sử dụng đất do pháp luật. Bên cạnh đó, pháp luật đất đai cũng quy định những trường hợp khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp mà không được bồi thường về đất bao gồm những trường hợp không đủ điều kiện nêu trên, đất được Nhà nước giao quản lý, đất thu hồi do vi phạm pháp luật về đất đai theo quy định tại Điều 64 Luật Đất đai năm 201 1, do chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật, tự nguyện trả lại đất (Theo Điểm a, b, c, d Khoản 1 Điều 65 Luật Đất đai năm 201 ).

Cách tính giá đất bồi thường khi nhà nước thu hồi đất nông nghiệp Luật Đất đai năm 201 quy định hai loại giá đất, đó là giá đất theo “bảng giá đất” và “giá đất cụ thể”. Theo quy định của Luật Đất đai năm 201 , Chính phủ ban hành khung giá đất định kỳ 05 năm một lần đối với từng loại đất theo từng vùng, trong đó có khung giá đất đối với các loại đất thuộc nhóm đất nông nghiệp. Khung giá đất này sẽ được sử dụng làm căn cứ để Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh quy định bảng giá đất tại địa phương (Bảng giá đất được ban hành theo kỳ 05 năm một lần). Căn cứ vào tình hình thực tế của địa phương, giá đất phổ biến trên thị trường và bảng giá đất trên cơ sở các nguyên tắc định giá đất, UBND tỉnh quyết định giá đất cụ thể.

Trên cơ sở bảng giá đất, giá đất cụ thể được xác định theo trình tự thủ tục sau: Xác định mục đích định giá đất cụ thể; Điều tra, tổng hợp, phân tích thông tin về thửa đất, giá đất thị trường; Áp dụng phương pháp định giá đất; Xây dựng phương án giá đất trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; Thẩm định phương án giá đất; Hoàn 1 Điều 64, Luật Đất đai 2019, quy định: Các trường hợp thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất. Vì dụ: Trường hợp người sử dụng đất nông nghiệp, trước đây đã được Nhà nước cân đối giao quyền, nhưng trong quá trình sử dụng người sử dụng đất không quản lý, sử dụng mà để cho người khác lấn chiếm, hủy hoại đất, làm thay đổi hiện trạng sử dụng đất. Theo quy định tại điểm đ của điều này, quy định: “Đất được Nhà nước giao đ u n l mà đ ị lấn chiếm”; thì người sử dụng đất không đủ điều kiện để bồi thường theo quy định 11 thiện dự thảo phương án giá đất trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định; Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định giá đất. Cơ quan quản lý đất đai cấp tỉnh có trách nhiệm giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức việc xác định giá đất cụ thể.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ