Chương 1. Một số van dé lý luận về bồi thường thiệt hại tài sản của người sử dụng lao động và điều chỉnh pháp luật. Thực trạng pháp luật lao động Việt Nam hiện hành về bồi thường thiệt hại tài sản của người sử dụng lao động và thực tiễn thực hiện. Một số kiến nghị hoản thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về bồi thường thiệt hại tài sản của người sử dụng lao động ở Việt Nam.
CHUONG 1: MOT SO VAN DE LY LUAN VE BOI THUONG THIET HAI TAI SAN CUA NGUOI SU DUNG LAO DONG VA DIEU CHINH PHAP LUAT 1. Một số van dé lý luận về bồi thường thiệt hại tài san của NSDLD 1. Khái niệm, đặc điểm của bôi thường thiệt hại tài sản của NSDLĐ 1. Khái niệm Tài sản, tư liệu sản xuất, kinh doanh là một trong những van đề được quan tâm mật thiết nhất của NSDLĐ.
Tuy nhiên, khi tham gia vào quan hệ lao động những tài sản này đều có thé sẽ gặp phải những rủi ro, thiệt hai từ những nguyên nhân khách quan hay chu quan khác nhau. Ma trong trường hop NLD gây ra những thiệt hại về tài sản của NSDLD thi van đề về bồi thường thiệt hại đối với những tài sản đó sẽ được đặt ra. Vì vậy, van đề bồi thường thiệt hại về tài sản của NSDLD luôn nhận được sự quan tâm đặc biệt của những nhà lập pháp nói riêng và toàn thể xã hội nói chung. Theo Từ điển tiếng Việt thì thiệt hại được giải thích là “bị mat mát về của cải, vật chất hoặc tinh thần”! còn bồi thường được hiểu là “trả lại cho người khác cái có giá trị (thường bằng tiền) tương ứng với những thiệt hại mà minh gây ra”.
Như vậy, theo nghĩa chung nhất thì bôi thường thiệt hại được hiểu là việc người gây thiệt hại trả lại cho người bị thiệt hại một vật có giá trị (thường bằng tiền) tương ứng với những mất mát về của cải, vật chất hoặc tinh thần mà người đó gây ra cho người bị thiệt hại. Từ đó nhằm ngăn ngừa việc vi phạm hay tái diễn gây thiệt hại cho người khác, dé điều hòa và giải quyết các mỗi quan hệ trong xã hội, củng có sự phát triển hài hòa của cộng đồng. Dưới góc độ pháp lý, bồi thường thiệt hại được hiểu là sự đền bù bằng vật chất đối với những thiệt hại về vật chất và tinh thần mà chủ thê gây thiệt hại phải chịu trách nhiệm nhăm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thé bị thiệt hai. Trong đó, những quyên và lợi ich hợp pháp có thé bao gồm quyền sở hữu về tư ' Viện Ngôn ngữ hoc, Từ điền tiếng Việt, Nxb.
Đà Nẵng — Trung tâm từ điển học, Hà Nội — Da Nẵng, 2006 tr 943. liệu sản xuất, vốn góp trong doanh nghiệp, thu nhập hợp pháp hay quyên bất khả xâm phạm về thân thể, quyền được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm. Trong lĩnh vực luật lao động, khái niệm về bồi thường thiệt hại đã được một số công trình nghiên cứu dé cập đến như: PGS. Nguyễn Hữu Chi: “Boi thường thiệt hại trong luật lao động là một loại trách nhiệm pháp lý phát sinh khi một bên trong quan hệ lao động có hành vi vi phạm nghĩa vụ, gáy thiệt hại cho bên kia nhằm khôi phục tinh trạng tài sản, bù dap ton thất về tinh than, sức khỏe cho người bị thiệt hại” hay tác giả Nguyễn Thị Bích Nga: “Boi thường thiệt hại là một loại trách nhiệm pháp lý phát sinh khi một bên trong quan hệ lao động có hành vi vi phạm pháp luật lao động, gây thiệt hại cho bên kia nhằm khôi phục tinh trạng tài sản, bù đắp ton thất về tinh than, sức khỏe cho người bị thiệt hại "”.
Dựa theo các khái niệm trên có thé thay, van đề bồi thường thiệt hại trong quan hệ lao động được đặt ra nhằm “khôi phục tình trạng tài sản, bù đắp ton that về tỉnh thân, sức khỏe” cho bên bị thiệt hại khi một bên có “hành vi vỉ phạm nghĩa vụ gây thiệt hại cho bên kia”. Như vậy, có thê hiểu bồi thường thiệt hại là trách nhiệm pháp lý phát sinh khi một bên chủ thé trong quan hệ lao động có hành vi trực tiếp hay gián tiếp gây thiệt hại cho chủ thể bên kia, nhằm bù đắp những tốn thất về vật chất, sức khỏe, tinh thần cho bên bị thiệt hại. Theo đó, trong lĩnh vực lao động van đề bồi thường thiệt hại được quy định khá đa dạng. Đó có thé là bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe cho người lao động hay bồi thường thiệt hại do đơn phương cham dứt hop đồng trái pháp luật.
Và bồi thường thiệt hại tài sản của NSDLĐ cũng là một trường hợp của bồi thường thiệt hại trong quan hệ lao động mà chủ thê bị thiệt hại là NSDLĐ. Hiện nay chưa có khái niệm về bồi thường thiệt hại tài sản của NSDLĐ nhưng tại Giáo trình luật Lao động Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội đã đưa ra khái niệm vê “Trách nhiệm vật chát trong luật lao động được hiếu là * Nguyễn Hữu Chi (chủ biên), Đỗ Gia Thắng (2006), Chế độ bồi thường trong luật lao động Việt Nam, Nxb Tư pháp, tr. > Nguyễn Thị Bích Nga (2014), Bồi thường thiệt hại trong pháp luật lao động Việt Nam và thực tiễn áp dung trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, trang 16, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Khoa Luật — Dai hoc Quốc gia Hà Nội. trách nhiệm pháp lý do NSDLĐ áp dung doi với NLD bằng cách bắt họ phải bôi thường những thiệt hại về tai sản do hành vi vi phạm kỉ luật gây ra ”'.
Theo cách hiểu này, trách nhiệm bồi thường thiệt hại về “vật chất”, “tài sản” là của “NLĐ” do có hành vi vi phạm “kỉ luật lao động” gây thiệt hai cho NSDLD trong quá trình lao động. Mà trách nhiệm bồi thường thiệt hại tài sản của NSDLD không chỉ là trách nhiệm của NLD có hành vi vi phạm kỉ luật lao động gây thiệt hại tài sản của NSDLD trong quá trình thực hiện nghĩa vu lao động cua mình mà còn có thê phát sinh khi NLD làm thiệt hại tài sản của NSDLD khi thực hiện đình công bất hợp pháp. Do đó, trách nhiệm vật chất chỉ là một trường hợp trong bồi thường thiệt hại tài sản của NSDLD nên khái niệm về trách nhiệm vật chất chưa khái quát hết được những nghĩa vụ của bồi thường thiệt hại tài sản của NSDLĐ. Từ những phân tích ở trên có thé hiểu: Bồi thường thiệt hai tài sản của NSDLD là trách nhiệm pháp lý do NSDLD áp dụng đối với NLD bang cách bắt họ phải bồi thường những thiệt hại về tài sản cho NSDLĐ do hành vi vi phạm kỷ luật lao động gây ra trong quá trình thực hiện quyền và nghĩa vụ lao động nhằm khôi phục lại giá tri tài sản đã ton thất của NSDLD.
Như vậy, bồi thường thiệt hại tài san của NSDLD là một loại trách nhiệm pháp lý được đảm bảo thực hiện bằng các biện pháp cưỡng chế nhà nước. Trong đó, “tài sản của NSDLĐ” bao gồm tài sản hữu hình như vật liệu, công cụ, máy móc,. và tài sản vô hình như quyền tài sản, quyền sở hữu trí tuệ, bí mật kinh doanh của doanh nghiệp. Khi gây thiệt hại đối với những tài sản này trong quá trình thực hiện quyền, nghĩa vụ lao động cua minh, NLD sẽ phải khắc phục những thiệt hại nhằm bảo đảm quyền sở hữu tài sản của NSDLD.
Tuy nhiên, mức bồi thường mà NLD phải chịu được căn cứ trên rất nhiều những yếu tô khác nhau. Bởi nhìn từ một góc độ nào đó, khi NLD gây thiệt hại tai san của NSDLD thì cũng có một phan lỗi đến từ NSDLD. Vì việc xảy ra sai sót gây thiệt hại về tài sản của NSDLD có thé bắt nguồn từ việc NSDLD không đánh giá được đúng năng lực của NLD, phân công lao động bắt hợp lý. 4 Trường Đại học Luật Hà Nội (2018), Giáo trình Luật Lao động Việt Nam, Nxb: Công an Nhân dân, tr337.
Đặc điểm Là một nội dung của bồi thường thiệt hại, bồi thường thiệt hại tài sản của NSDLĐ mang day đủ các đặc điểm của bồi thường thiệt hại trong quan hệ lao động va mang một số những dấu hiệu riêng, cụ thé: Thứ: nhất, chủ thé chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại tài sản của NSDLD là NLD làm công ăn lương theo thỏa thuận hợp đồng lao động và chịu sự quản lý, điều hành, giám sát của NSDLĐ. Trong quá trình thực hiện quyền và nghĩa vụ trong quá trình lao động của mình, NLD phải thường xuyên sử dụng các thiết bị, máy móc, tài sản của NSDLD đề phục vụ cho việc hoàn thành nghĩa vụ lao động của mình. Do đó, việc sơ suất gây thiệt hại cho những tài sản đó của NSDLD là điều mà NLD khó có thé tránh khỏi. Mà những tài sản hợp pháp của NSDLD là khách thé được pháp luật bảo vệ.
Nên khi có hành vi xâm hại đến nó thi van dé tất yếu phải xảy ra là NLD phải có trách nhiệm bồi thường cho những thiệt hại mà mình gây ra đối với tài sản của NSDLĐ. Đồng thời, vì vừa là chủ sở hữu của những tai sản bị gây thiệt hại vừa có trách nhiệm quan lý trực tiếp NLD nên chủ thê được áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại tài sản của NSDLD đối với NLĐ là NSDLĐ. Thứ hai, trách nhiệm bồi thường thiệt hại tài sản của NSDLĐ được phát sinh trên cơ sở tồn tại một quan hệ lao động, dưới hình thức một hợp đồng lao động. Hay nói cách khác, NSDLD bị thiệt hại về tài sản và chủ thé gây thiệt hại tài sản của NSDLD phải là chủ thé của một mối quan hệ lao động.
Nếu chủ thé gây thiệt hại không phải là NLD và chủ thé bị thiệt hại không phải là NSDLD thì sẽ không phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại tài sản của NSDLĐ theo pháp luật lao động mà sẽ giải quyết trách nhiệm bồi thường thiệt hại tài sản theo pháp luật dân sự. Thư ba, van đề bồi thường thiệt hại tài sản của NSDLD chỉ có thể được đặt ra nếu NLD gây thiệt hại tài sản của NSDLĐ khi họ thực hiện quyền và nghĩa vụ lao động trong quá trình tham gia quan hệ lao động. Do đó, nếu NLD gây thiệt hại tài sản cho NSDLĐ nhưng không trong quá trình thực hiện quyền và nghĩa vụ lao động thì việc bồi thường thiệt hại không được áp dụng các chế 10 tài bồi thường thiệt hại của pháp luật lao động.