đặt vấn đề như trên, có thể hiểu khái quát về quyền của công dân được bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự là một nội dung của quyền công dân, thuộc nhóm quyền dân sự, phát sinh giữa Nhà nước và công dân, trên cơ sở thiệt hại do hành vi trái pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra. Như vậy, quyền của công dân được bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự là một loại quyền công dân trong nhóm quyền dân sự, theo đó, công dân được Nhà nước bồi thường do đã thực hiện hành vi trái pháp luật gây thiệt hại thiệt hại cho công dân trong quá trình giải quyết vụ án hình sự. Các đặc điểm của quyền công dân đƣợc bồi thƣờng thiệt hại do hành vi trái pháp luật của Nhà nƣớc trong tố tụng hình sự 1. Quyền được bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật trong tố tụng hình sự là một quyền thuộc quyền dân sự Nhóm các quyền về dân sự là các quyền liên quan đến cuộc sống dân sự hàng ngày của công dân, các quyền tự do cá nhân như quyền sống, quyền 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com bất khả xâm phạm về thân thể, quyền ăn ở, đi lại, giao thông liên lạc, tham gia các giao dịch dân sự, quyền được đền bù do các hành vi trái pháp luật trong hợp đồng và ngoài hợp đồng.
Quyền công dân được bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật trong tố tụng hình sự là một nội dung của mối quan hệ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, vì cơ sở phát sinh nghĩa vụ của Nhà nước và quyền của công dân trong trường hợp này là hành vi trái pháp luật của Nhà nước trong tố tụng hình sự mà không phải do vi phạm thỏa thuận, điều khoản của bất kỳ một hợp đồng nào được thiết lập trước đó giữa Nhà nước và công dân. Công ước quyền con người về dân sự - chính trị tháng 12 năm 1966 khẳng định: công dân có quyền được bồi thường thiệt hại khi các quyền về con người và quyền tự do thân thể của họ bị công chức nhà nước vi phạm một cách trái pháp luật trong khi thi hành nhiệm vụ. Người bị thiệt hại có quyền yêu cầu Nhà nước bồi thường thiệt hại và Nhà nước có trách nhiệm bồi thường. Mặt khác, khi phân loại quyền công dân được bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự là một quyền thuộc nhóm quyền công dân về dân sự - điều này không có nghĩa chỉ giới hạn trong phạm vi nhóm quyền dân sự một cách tuyệt đối.
Bởi vì, như đã từng đề cập, sự phân chia quyền công dân thành những nhóm quyền về dân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa. chỉ có tính chất tương đối, giữa những quyền trong một nhóm quyền này có sự liên hệ và đan xen lẫn với những quyền trong một nhóm quyền khác. Cụ thể, quyền công dân được bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự bao gồm các quyền được công khai xin lỗi, được bồi thường các thiệt hại về vật chất, được khôi phục một số quyền công dân trước đó đã bị tước bỏ, do đó, quyền được bồi thường thiệt hại ở đây trước hết là quyền được khôi phục một cách toàn diện các quyền về dân sự, các quyền về dân sự sau khi được khôi phục sẽ tạo điều kiện cho việc thực hiện các quyền và khôi phục các lợi ích khác về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội… 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Quyền của công dân được bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự dựa trên cơ sở pháp lý về trách nhiệm bồi thường của cơ quan nhà nước Trong tố tụng hình sự, hành vi trái pháp luật thể hiện là những hành vi thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự (như khởi tố bị can, truy tố, ra bản án, tuyên hình phạt, áp dụng các biện pháp ngăn chặn) đối với những công dân mà bản thân họ không phạm tội, hành vi của họ không cấu thành tội phạm, chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự, không có năng lực trách nhiệm hình sự, đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, bản thân hành vi phạm tội đã được xử lý bằng một bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật trước đó… Như vậy, trong lĩnh vực tố tụng hình sự, hành vi trái pháp luật trước hết là vi phạm các quy định về trình tự, thủ tục tố tụng trực tiếp liên quan đến quyền và lợi ích chính đáng của công dân.
Hành vi trái pháp luật có thể là một hành vi độc lập, mang tính độc đoán cá nhân của người tiến hành tố tụng (ví dụ: bắt, giam người không có căn cứ vì động cơ cá nhân của người có thẩm quyền) hoặc là sản phẩm của các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử tắc trách, không thu thập đầy đủ chứng cứ, bỏ sót các chứng cứ quan trọng để chứng minh công dân có tội hay không có tội, do vậy, dẫn đến việc khởi tố bị can không có căn cứ, ra cáo trạng, bản án đối với người không thực hiện hành vi phạm tội… Trên thực tế, biểu hiện ra bên ngoài của các hành vi trái pháp luật gây thiệt hại cho công dân là những trường hợp: công dân bị khởi tố, tạm giam, tạm giữ nhưng sau đó cơ quan tiến hành tố tụng ra quyết định đình chỉ điều tra vụ án, trả tự do vì đã hết thời hạn tạm giữ, tạm giam mà không chứng minh được người đó đã thực hiện tội phạm hoặc người đó chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự hoặc chứng minh được hành vi của người đó không cấu thành tội phạm mà chỉ bị xử lý hành chính hoặc dân sự; công dân bị áp dụng các biện pháp ngăn chặn, khám xét, thu giữ, tạm giữ, tạm giam, kê biên tài sản không có căn cứ dẫn đến thiệt hại về vật chất và tinh thần; công dân đã bị 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com truy tố ra trước Tòa để xét xử nhưng Tòa án tuyên bị cáo không có tội hoặc bản án kết tội của Tòa án cấp dưới bị Tòa án cấp trên hủy, tuyên bố bị cáo không có tội… Khi nói tới các hành vi trái pháp luật trong tố tụng hình sự và hậu quả của hành vi trái pháp luật này, không thể không đề cập đến khái niệm "oan" và "sai" - đây là những khái niệm có liên quan mật thiết. Các hành vi trái pháp luật bản chất là các hành vi thực hiện "sai" quy định của pháp luật, và do thực hiện "sai", có thể dẫn tới hậu quả "oan" cho công dân. Tuy nhiên, như thế nào là "oan", như thế nào là "sai" hiện còn có nhiều ý kiến chưa thống nhất. Theo Từ điển tiếng Việt thì "oan" có nghĩa là "một người nào đó bị quy cho tội mà họ không phạm, phải chịu trừng phạt mà bản thân họ không đáng phải chịu" [39, tr.
749] và "sai" có nghĩa là "một hành vi nào đó không phù hợp với phép tắc, với những điều qui định" [39, tr. Như vậy, khái niệm "sai" có ý nghĩa rất rộng, bao trùm lên cả khái niệm oan. Khái niệm "oan" có ý nghĩa hẹp hơn khái niệm "sai". Trong tố tụng hình sự, khái niệm "oan" có nghĩa là một công dân nào đó hoàn toàn không thực hiện bất kỳ hành vi phạm tội hoặc hành vi vi phạm pháp luật nào có liên quan tới vụ án, nhưng đã bị khởi tố, truy tố, xét xử, thi hành án, áp dụng các biện pháp ngăn chặn.
Còn khái niệm "sai" trong tố tụng hình sự có nghĩa là một người nào đó đã thực hiện hành vi phạm tội và hành vi phạm tội đó đúng ra phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội danh này, nhưng lại bị khởi tố, truy tố, xét xử về một tội danh khác hoặc bị áp dụng hình phạt nặng hơn hình phạt lý ra họ phải gánh chịu, hoặc trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án các cơ quan chức năng đã có hành vi vi phạm pháp luật dẫn đến việc họ phải gánh chịu những thiệt hại về vật chất hoặc tinh thần. Một đặc điểm cơ bản để phân biệt khái niệm "oan" với khái niệm "sai" là khi nói tới một người bị oan, có nghĩa là họ hoàn toàn không thực hiện hành vi vi phạm pháp luật. Pháp luật Cộng hòa nhân dân Trung Hoa quan niệm về oan, sai một cách rất chung chung và được hiểu là do các cơ quan tiến hành tố tụng đã 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhận định sai sự thật; áp dụng sai pháp luật; vi phạm trình tự, thủ tục tố tụng mà pháp luật quy định. Pháp luật Liên bang Nga cũng chưa có quy định về khái niệm oan, sai trong trong hoạt động tố tụng hình sự.
Tuy nhiên, qua các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự Cộng hòa Liên bang Nga có thể hiểu những hành vi có thể dẫn đến oan, sai là: người có thẩm quyền truy cứu trách nhiệm hình sự một người mà rõ ràng là người đó không có tội; kiểm sát viên hay người tiến hành điều tra sơ bộ đình chỉ việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người bị tình nghi phạm tội hoặc người đã bị khởi tố về một tội nào đó; hành vi giữ người trái pháp luật; người tiến hành điều tra sơ bộ ép buộc người bị tình nghi, bị can, người bị hại, người làm chứng đưa ra lời khai không đúng sự thật hoặc người giám định đưa ra kết luận giám định sai; những hành vi vi phạm pháp luật gây thiệt hại đối với tài sản bị kê biên, tạm giữ… Pháp luật Cộng hòa Pháp cũng không phân biệt rõ ràng các trường hợp oan, sai trong hoạt động tố tụng hình sự. Luật chỉ qui định rằng những người có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại là những người được tuyên vô tội. Luật của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ cũng không có quy định pháp luật phân biệt giữa oan và sai mà Tòa án chỉ căn cứ vào những tình tiết cụ thể để giải quyết vấn đề bồi thường. Luật của Nhật Bản cũng không thể đưa ra khái niệm "oan" và "sai" mà chỉ quy định những điều kiện để được bồi thường thiệt hại.
Như vậy, pháp luật của các nước nêu trên đã không thể hiện khái niệm này và cũng không qui định một cách rạch ròi trường hợp nào là oan, trường hợp nào là sai trong hoạt động tố tụng hình sự.