chương 1 đã khái quát hoá hệ thống pháp luật qua việc tổng hợp, phân tích nội dung của luật, sự cần thiết và các yêu cầu đề ra. Song song việc làm sáng tỏ các định nghĩa về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi đất của người dân bị nhà nước thu hồi, tác giả còn đi sâu vào phân tích và luận giải rõ hơn các quy định pháp luật. Cùng với đó là sự chỉ ra nguyên tắc, cơ cấu nội dung của pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất. Đây là tiền đề giúp tác giả có cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật và thực thiện tực hiện pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trong chương 2.
18 Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT ĐẤT ĐAI VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT ĐẤT ĐAI VỀ BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ, TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT TẠI HUYỆN VĨNH CỬU, TỈNH ĐỒNG NAI 2. Thực trạng pháp luật đất đai về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất 2. Các quy định về nguyên tắc của pháp luật đất đai bồi thường, hỗ trợ, tái đinh cư khi Nhà nước thu hồi đất Đất đai là nguồn tài nguyên vô giá của mỗi quốc gia, do đó, quản lý đất đai là việc mang tầm quan trọng rất lớn có những nguyên tắc nhất định cần phải tuân theo. Đối với vấn đề nhạy cảm và thường xảy ra việc khiếu nại khiếu kiện như về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất thì càng cần phải tuân theo những nguyên tắc cơ bản khi áp dụng các quy định pháp luật vào thực tiễn.
Trước khi Luật Đất đai năm 2013 được ban hành, các quy định về nguyên tắc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất nằm rải rác ở nhiều văn bản hướng dẫn thi hành Luật Đất đai năm 2003 như trong Điều 14 Nghị định 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009, Điều 18 Nghị định 197/2004/NĐ-CP ngày 3/12/2004… Kể từ năm 2013, các nguyên tắc này đã được Luật hóa thành các điều luật cụ thể như Điều 74, Điều 83 và Điều 88 Luật Đất đai năm 2013, VBHN số 07/VBHN-BTNMT đã hợp nhất các thông tư quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất của Bộ TN&MT ký ban hành ngày 12/9/2019; Nghị định 06/2020/NĐ-CP sửa đổi Điều 17 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất để các cơ quan Nhà nước, tổ chức, cá nhân khi tham gia vào quan hệ bồi thường, hỗ trợ về đất đai phải thống nhất và nghiêm túc thực hiện. Các nguyên tắc này gồm: 19 Một là: phải đáp ứng đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật thì người bị thu hồi đất mới được bồi thường, hỗ trợ, tái định cư. Theo quy định của Luật Đất đai năm 2013, chỉ khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng thì mới phát sinh việc bồi thường cho người bị thu hồi đất. Tuy nhiên, người bị thu hồi đất phải thỏa mãn những điều kiện do pháp luật quy định tại Điều 75 Luật Đất đai năm 2013 thì mới được bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.
Nguyên tắc này được khẳng định tại Điều 74. Bên cạnh đó, tại Điều 76 cũng quy định đối với các trường hợp được bồi thường về chi phí đầu tư vào đất nhưng không được bồi thường về đất. Nhà nước quy định về việc bồi thường về tài sản gắn liền với đất và tài sản sản xuất, kinh doanh khi người bị thu hồi đáp ứng đủ các điều kiện pháp luật quy định tại Điều 88 của Luật này. Ngoài việc Nhà nước bồi thường, nghĩa là trả lại những thiệt hại trực tiếp cho người sử dụng đất do việc thu hồi đất gây ra, thì người sử dụng đất khi bị thu hồi đất còn được “Nhà nước xem xét hỗ trợ” theo quy định tại Điều 83 Luật Đất đai năm 2013.
Đơn cử đối với trường hợp thu hồi đất nông nghiệp: ngoài việc bồi thường, Nhà nước còn phải hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề, bố trí việc làm mới để người bị thu hồi đất nhanh chóng ổn định cuộc sống. Đây là việc làm không chỉ mang tính chất hoàn thành nghĩa vụ pháp lý, mà còn cách Nhà nước ta thể hiện tính nhân đạo, bởi đất nông nghiệp không chỉ là tư liệu sản xuất đặc biệt mà còn là sinh kế sống còn của người nông dân. Hai là: Khi thu hồi đất của người bị thu hồi, Nhà nước phải bồi thường các thiệt hại mà người sử dụng đất phải chịu. Một nguyên tắc quan trọng để bảo vệ lợi ích chính đáng của người dân có đất bị thu hồi mà Nhà nước ta đặt ra chính là bồi thường các thiệt hại mà người sử dụng đất phải chịu khi bị thu hồi đất.
Nguyên tắc này được quy định rõ tại Khoản 2 Điều 74 Luật Đất đai năm 2013. Xuất phát từ việc khi Nhà nước thu hồi đất thì người sử dụng đất không chỉ mất đất mà còn thiệt hại tài 20 sản trên đất. Vì thế khi thu hồi đất, Nhà nước vừa phải bồi thường về đất, vừa phải bồi thường về tài sản trên đất và tài sản sản xuất, kinh doanh thì mới có thể được xem là bồi thường đầy đủ các thiệt hại cho người dân. Như vậy, khi bị thu hồi đất người sử dụng đất sẽ được Nhà nước đảm bảo bồi thường đầy đủ các thiệt hại nếu các thiệt hại đó xảy ra.
Nghĩa là Nhà nước sẽ chỉ bồi thường tài sản nếu chủ sở hữu tài sản đó hợp pháp và bồi thường sản xuất, kinh doanh nếu việc thu hồi đất làm ngừng lại hoạt động sản xuất, kinh doanh. Bên cạnh đó, Nhà nước cũng có thể lựa chọn phương án bồi thường cho người bị thu hồi đất bằng tiền theo giá đất tại thời điểm thu hồi hoặc bằng đất cùng mục đích sử dụng. Điều đó thể hiện được tính linh hoạt của Nhà nước, tạo điều kiện cho cơ quan có thẩm quyền và người bị thu hồi có thể lựa chọn phương thức bồi thường phù hợp với từng trường hợp. Khi quỹ đất nông nghiệp của địa phương còn, Nhà nước có thể áp dụng phương án bồi thường đất cùng mục đích sử dụng.
Phương án này sẽ tránh cho việc kiện tụng, lợi dụng, tranh chấp trong việc bồi thường đất. Ví dụ: trường hợp người sử dụng đất nông nghiệp tự ý sử dụng, chuyển đổi sang đất phi nông nghiệp, khi bị thu hồi thì yêu cầu được bồi thường tiền theo giá đất phi nông nghiệp. Đây là phương án đảm bảo được sự công bằng giữa những người dân bị thu hồi đất. Đối với các địa phương không còn quỹ đất thì việc bồi thường bằng tiền là điều không thể tránh khỏi.
Từ thực tiễn nêu trên, nhằm hạn chế trường hợp tranh chấp, khiếu kiện kéo dài về vấn đề bồi thường khi thu hồi đất thì Nhà nước đã ban hành những quy định pháp luật nêu rõ đối với trường hợp nêu tại ví dụ trên đây thì chỉ được bồi thường theo giá đất nông nghiệp. Ba là: Người sử dụng đất khi bị thu hồi đất được bồi thường mức giá hợp lý so với mức giá trên thị trường do nhà nước chi trả. Nhằm đảm bảo và củng cố lợi ích cho người bị thu hồi đất, việc bồi thường ở mức kỳ vọng, thoả đáng của nhà nước giúp người có quyền sử dụng đất sẵn sàng giao trả lại đất đã được giao. 21 Người bị thu hồi đất được bồi thường bằng tiền dựa trên giá đất đã được xác định của từng loại đất do UBND cấp tỉnh quy định vào thời khắc thu hồi đất theo điều 74 Luật Đất đai năm 2013.
Chi phí đầu tư vào đất được bồi thường phù hợp với giá cả trên thị trường tại thời gian có quyết định thu hồi đất thể hiện qua Điều 3 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP. Như vậy, về mặt lý thuyết thì giá bồi thường đất theo giá thực tế bị thiệt hại như tại các quy định nêu trên. Nhưng trong thực tế, giá bồi thường đất thường thấp hơn rất nhiều so với giá thị trường, ngoài ra giá bồi thường đất nông nghiệp cũng thấp hơn nhiều so với giá bồi thường đất phi nông nghiệp. Bên cạnh đó thì việc người bị thu hồi đất cũng không nhận được tiền bồi thường ngay tại thời điểm có quyết định thu hồi đất mà phải chờ một thời gian rất dài sau đó bởi việc thực hiện đầy đủ những trình tự thủ tục của các cơ quan Nhà nước còn nhiều vướng mắc.
Đây là một trong những nguyên nhân chính gây bức xúc dẫn đến tình trạng khiếu kiện kéo dài của người bị thu hồi đất. Bốn là: việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư phải được công khai, minh bạch, dân chủ, kịp thời đúng quy định của pháp luật. Một trong những nguyên tắc quan trọng nhất giúp cho việc nâng cao hiệu quả áp dụng và thực thi pháp luật chính là việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư phải được công khai, minh bạch, dân chủ, kịp thời đúng quy định của pháp luật. Do đó, Điều 75 và Điều 83 Luật Đất đai năm 2013 đã nhấn mạnh nguyên tắc này.
Có thể xem việc bồi thường và hỗ trợ về đất mang bản chất như là một giao dịch, một sự trao đổi giữa người bị thu hồi đất và Nhà nước. Khi đó bên bị thu hồi đất là người sử dụng đất chỉ chấm dứt quyền sử dụng của mình khi được bên thu hồi đất là Nhà nước bồi thường, hỗ trợ một cách thỏa đáng, kịp thời theo đúng quy định của pháp luật. Như vậy, việc công khai, minh bạch, dân chủ các trình tự, thủ tục liên quan đến bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất sẽ giúp cho người dân vừa có thể ý kiến trực tiếp về quyền và lợi ích của 22 mình đối với phần diện tích sử dụng đất bị thu hồi, vừa có thể giám sát quá trình thực hiện qua đó phản ánh những hành vi tiêu cực vi phạm quy định pháp luật của các tổ chức, các nhân có thẩm quyền khi thực hiện việc bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất. Nhà nước có thể nắm bắt kịp thời các nguyện vọng của nhân dân thông qua việc thực hiện đúng và đủ nguyên tắc này, giúp cho các cơ quan để xem xét giải quyết nhanh chóng, chính xác các vấn đề phát sinh trong quá trình thu hồi đất, đồng thời cũng là căn cứ, cơ sở để hoàn thiện các quy định của pháp luật về bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất hơn.