CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU TÀI LIỆU 1. Cơ sở lý luận về chính sách bồi thường, hỗ trợ GPMB khi Nhà nước thu hồi đất 1. K hái quát về bồi thường, hỗ trợ GPMB 1. Bồi thường - Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất bị thu hồi cho người bị thu hồi đất.
[9] Bồi thường gồm: + Bồi thường hoặc hỗ trợ đối với toàn bộ diện tích đất Nhà nước thu hồi. + Bồi thường hoặc hỗ trợ tài sản hiện có gắn liền với đất và các chi phí đầu tư vào đất bị Nhà nước thu hồi. - Giải phóng mặt bằng là quá trình tổ chức thực hiện các công việc liên quan đến di dời nhà cửa, cây cối và các công trình xây dựng khác trên một diện tích đất nhất định được quy định cho việc cải tạo, mở rộng hoặc xây dựng mới một công trình trên đó. Hỗ trợ - Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước giúp đỡ người bị thu hồi đất thông qua đào tạo nghề mới, bố trí việc làm mới, cấp kinh phí để di dời đến địa điểm mới.[9] Hỗ trợ gồm: + Hỗ trợ đất là khoản hỗ trợ đối với đất không đủ điều kiện được bồi thường thì được xem xét hỗ trợ cho người đang sử dụng.
+ Hỗ trợ tài sản: Tài sản, vật kiện trúc hợp pháp không đủ điều kiện được bồi thường thì được xem xét hỗ trợ cho người có tài sản. - Các khoản hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất bao gồm: + Hỗ trợ di chuyển, hỗ trợ tái định cư đối với trường hợp thu hồi đất ở; n 5 + Hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất, hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm đối với trường hợp thu hồi đất nông nghiệp; + Hỗ trợ khi thu hồi đất nông nghiệp trong khu dân cư; đất vườn ao không được công nhận là đất ở; + Hỗ trợ khác. Tái định cư Tái định cư được hiểu là quá trình bồi thường, hỗ trợ về đất, tài sản, các khoản hỗ trợ để người bị thu hồi đất di chuyển đến một nơi ở mới để định cư và các hoạt động hỗ trợ xây dựng lại cuộc sống, thu nhập, cơ sở vật chất và tinh thần tại đó để bàn giao lại đất thu hồi cho dự án. Khu tái định cư phải được xây dựng cơ sở hạ tầng đồng bộ đảm bảo đủ điều kiện cho người sử dụng tốt hơn hoặc bằng nơi ở cũ.
Tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất đối với trường hợp phải di chuyển chỗ ở thì người sử dụng đất được bố trí tái định cư bằng một trong các hình thức như sau: - Bồi thường bằng việc giao đất ở mới hoặc nhà ở tái định cư. - Bồi thường bằng tiền để người bị thu hồi đất tự lo chỗ ở. Việc bố trí, sắp xếp tái định cư là một phần không thể tách rời và giữ vai trò rất quan trọng trong công tác bồi thường, hỗ trợ GPMB. Đặc điểm của công tác bồi thường, hỗ trợ GPMB Bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện các dự án là một lĩnh vực rất đa dạng và phức tạp, các văn bản chính sách về bồi thường, hỗ trợ của Nhà nước được áp dụng cho tất cả các dự án thu hồi đất.
Tuy nhiên công tác thu hồi đất và bồi thường, hỗ trợ GPMB trên thực tế rất khác nhau đối với mỗi dự án, mỗi địa phương, nó có liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích của người bị thu hồi đất. - Tính đa dạng: Đối với mỗi dự án thu hồi đất và bồi thường, hỗ trợ n 6 GPMB được tiến hành trên địa bàn một tỉnh, một địa phương sẽ khác nhau về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, các chính sách vận dụng cụ thể của cấp tỉnh cũng rất khác nhau. Các dự án trong khu vực đô thị, mật độ dân cư cao, công trình xây dựng nhiều, giá trị đất và tài sản trên đất lớn; khu vực giáp ranh giữa đô thị và nông thôn, ven các khu công nghiệp mức độ dân cư khá cao, hoạt động sản xuất đa dạng: công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ, buôn bán nhỏ… khu vực nông thôn, hoạt động sản xuất chủ yếu là nông nghiệp, dân cư thưa thớt… Do vậy, đối với mỗi dự án ở mỗi vùng có những đặc trưng riêng, công tác thu hồi đất và bồi thường, hỗ trợ GPMB được tiến hành cần có những giải pháp riêng, phù hợp với đặc điểm và điều kiện riêng của mỗi khu vực tùy theo từng dự án cụ thể (phương thức tái định cư, chính sách hỗ trợ việc làm, hỗ trợ CĐNN…). - Tính phức tạp: Đất đai là tài sản – bất động sản có giá trị cao (giá trị sử dụng), nó có vai trò quan trọng trong đời sống sản xuất, sự phát triển kinh tế - xã hội.
Trong khi các văn bản quy định về thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ của Nhà nước thường xuyên có sự điều chỉnh, bổ sung và hoàn thiện, do đó dẫn đến sự thay đổi về giá trị bồi thường, hỗ trợ cho đối tượng bị thu hồi đất. + Đối đất nông nghiệp: Trong sản xuất nông nghiệp, đất đai là tư liệu sản xuất quan trọng đối với mỗi người dân, cuộc sống của người dân nông thôn chủ yếu phụ thuộc vào hoạt động sản xuất nông nghiệp, trong khi đó năng suất, sản lượng lại phụ thuộc rất lớn vào điều kiện đất đai, trình độ sản xuất, tập quán và kinh nghiệm canh tác có từ lâu đời. Do vậy, khi thu hồi đất – thu hồi tư liệu sản xuất của người dân thì việc người dân chấp hành phương án thu hồi đất, di chuyển là rất khó khăn và việc hỗ trợ CĐNN cho người dân là rất cần thiết để đảm bảo đời sống người dân về lâu dài. + Đối với đất ở, đất phi nông nghiệp: Do giá trị sử dụng đất và tài sản n 7 gắn liền với đất lớn, nó gắn bó trực tiếp với đời sống, sinh hoạt của người dân.
Do vậy, việc thu hồi đất và bồi thường, hỗ trợ đối với đất ở, đất phi nông nghiệp và tài sản gắn liền với đất lại càng phức tạp. Bởi vì, việc bồi thường, phải di chuyển chỗ ở đi nơi khác dẫn đến sự thay đổi lớn về đời sống, tập quán sinh hoạt, điều kiện tái định cư, điều kiện sản xuất, kinh doanh… nên người bị thu hồi đất không muốn di chuyển. Một số vấn đề ảnh hưởng đến công tác bồi thường, hỗ trợ GPMB 1. Việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và tổ chức thực hiện các văn bản đó Đất đai là đối tượng quản lý rất phức tạp, luôn có sự biến động theo sự phát triển của nền kinh tế - xã hội.
Để thực hiện tốt chức năng quản lý Nhà nước về đất đai đòi hỏi hệ thống các văn bản pháp luật liên quan đến lĩnh vực này phải mang tính ổn định cao và phù hợp với tình hình thực tế. Trong thời gian mấy thập kỷ vừa qua, do các đặc điểm lịch sử, kinh tế - xã hội của đất nước ta có nhiều biến động lớn, nên các chính sách pháp luật về đất đai theo đó cũng liên tục được sửa đổi, bổ sung. Chỉ tính từ năm 1993 đến năm 2003, Nhà nước đã ban hành hơn 200 văn bản quy phạm pháp luật về quản lý và sử dụng đất. Luật đất đai năm 2003 sau khi được Quốc hội thông qua, cùng với các văn bản hướng dẫn thi hành đã nhanh chóng đi vào cuộc sống.
Với một hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật khá hoàn chỉnh, cụ thể, chi tiết, rõ ràng, đề cập đến các quan hệ đất đai phù hợp với thực tế. Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về đất đai của Nhà nước đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong việc tổ chức thực hiện các nội dung quản lý Nhà nước về đất đai, giải quyết tốt mối quan hệ đất đai của các chủ thể. Bước đầu đã đáp ứng được quan hệ đất đai mới hình thành trong quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa. Trong đó, hệ thống văn bản quy định về chính sách bồi thường, hỗ trợ GPMB cũng luôn được Chính phủ không ngừng hoàn thiện, n 8 sửa đổi nhằm giải quyết các vướng mắc trong công tác bồi thường, hỗ trợ GPMB, phù hợp với yêu cầu thực tế triển khai.
Thực tiễn cho thấy, việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai có ảnh hưởng rất lớn đến công tác bồi thường GPMB. Hệ thống văn bản pháp luật về đất đai còn có những nhược điểm như số lượng các văn bản nhiều, mức độ phức tạp, nhiều văn bản còn có sự chồng chéo, chưa đồng bộ, chặt chẽ gây khó khăn cho việc tiếp cận nghiên cứu và lúng túng trong xử lý, tạo kẽ hở trong thực thi pháp luật.[2] Mặc dù chỉ có đối tượng quản lý đất đai nhưng được điều chỉnh ở nhiều văn bản khác nhau. Các văn bản này được ban hành ở những thời điểm khác nhau, cơ quan chủ trì xây dựng văn bản khác nhau nên dẫn đến sự chồng chéo, có nhiều điểm chưa thống nhất, làm cho các cơ quan quản lý khó khăn, lúng túng trong việc áp dụng pháp luật và gây khó khăn cho việc thực hiện pháp luật của người dân cũng như doanh nghiệp. Đặc biệt là trong các công việc như: cấp GCN quyền sử dụng đất, giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, giải quyết tranh chấp, khiếu nại.
Đó là nguyên nhân có ảnh hưởng trực tiếp đến công tác bồi thường, hỗ trợ GPMB. Công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất Quy hoạch sử dụng đất đai là biện pháp quản lý không thể thiếu trong việc tổ chức sử dụng đất của tất cả các ngành kinh tế - xã hội và là công cụ thể hiện sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, có tác dụng quyết định để cân đối giữa nhiệm vụ an toàn lượng thực với nhiệm vụ CNH-HĐH đất nước nói chung và địa phương nói riêng.