đặt vấn đề toán học". Để hiểu được các kí hiệu toán học thực tế là phải hiểu được ngữ nghĩa, vai trò của các kí hiệu đó trong từng ngữ cảnh khác nhau, cụ thể: - Cùng một kí hiệu toán học có thể có nhiều nghĩa khác nhau tùy thuộc vào ngữ cảnh. Chẳng hạn: cùng một kí hiệu ∩ tùy theo bối cảnh, có thể hiểu là giao của hai tập hợp, phép lấy hội của hai mệnh đề toán học. - Vị trí của các kí hiệu cũng ảnh hưởng đến ngữ nghĩa của chúng, chẳng hạn hai công thức sau (p ∨ q ).r) có nghĩa khác nhau.
Để hiểu được nghĩa của NNTH thì phải nắm vững các qui tắc, biết rõ các kí hiệu dùng trong các văn bản toán học được liên kết với nhau theo qui tắc nào. Cú pháp: Cú pháp trong NNTH có thể hiểu là các qui tắc kết hợp kí hiệu, từ, cụm từ thành biểu thức hay công thức toán học để chuyển tải nội dung toán học với độ chính xác cao. Walsch ''Phương diện cú pháp của Toán học là mặt xem xét cấu trúc hình thức và sự biến đổi hình thức những biểu thức toán học, sự làm theo những qui tắc xác định và nói riêng là sự làm theo thuật giải''. Qui tắc kết hợp các kí hiệu trong NNTH rất chặt chẽ và rõ ràng.
Điều lưu ý là cách viết trong NNTH thì đôi khi các kí hiệu có thể bị ẩn đi trong các biểu thức.3: Chứng minh rằng Cn n - k = Cnk. Nhiều sinh viên đã nắm được cấu trúc hình thức của công thức tổ hợp chập k của n phần tử là: n! Cnk = k !(n − k)! Sinh viên dễ dàng chứng minh được công thức này bằng cách áp dụng công thức tổ hợp trực tiếp. Tuy nhiên nếu như sinh viên tìm hiểu lại ngữ nghĩa của khái niệm Cnk ; Cn n - k sẽ chứng minh được công thức trên theo cách sau: Ta có: Cn k là số tập con của k phần tử của một tập X gồm n phần tử. 9 n-k Tương tự: Cn là số tập con có (n – k) phần tử của tập X.
Nếu tách ra từ X một tập con có k phần tử thì còn lại một phần bù có (n - k ) phần tử và ngược lại. Như thế, nếu tập X có bao nhiêu tập con gồm k phần tử thì nó sẽ có bấy nhiêu tập con gồm (n - k) phần tử, như vậy Cnk = Cnn−k. Năng lực sử dụng ngôn ngữ toán học Thuật ngữ “Sử dụng ngôn ngữ” được hiểu là: Dùng ngôn ngữ làm phương tiện phục vụ cho việc thực hiện các HĐ ngôn ngữ trong lĩnh vực cũng như trong đời sống xã hội nói chung [2]. Theo tác giả Vũ Thị Bình (2016), có thể xem năng lực sử dụng ngôn ngữ là khả năng làm chủ những kiến thức, kĩ năng về ngôn ngữ để thực hiện hiệu quả các HĐ ngôn ngữ trong các bối cảnh cụ thể [3].
NNTH vừa có đặc điểm chung ca hệ thống ngôn ngữ (tiếng Việt) vừa có những tính chất chuyên biệt, đặc thù của NNKH. “Sử dụng NNTH” được hiểu là: Dùng NNTH làm phương tiện phục vụ cho việc giao tiếp, giảng dạy, học tập, làm việc và nghiên cứu Toán học [2]. Theo tác giả Vũ Thị Bình (2016), năng lực sử dụng NNTH của HS là khả năng làm chủ và vận dụng hiệu quả NNTH để thực hiện thành công các HĐ ngôn ngữ trong quá trình học tập và nghiên cứu toán học cũng như trong đời sống xã hội nói chung [2]. Năng lực sử dụng NNTH của HS bao gồm: 1.
Khả năng tiếp nhận và hiểu các kiến thức, kĩ năng về NNTH; 2. Khả năng tạo lập, vận dụng thực hành hiệu quả NNTH trong giao tiếp cũng như tư duy; 3. Khả năng lựa chọn, chuyển đổi ngôn ngữ trong học tập và trong thực tiễn [2]. Các quan niệm về NL sử dụng NNTH đó mặc dù chưa có sự thống nhất nhưng đều có điểm chung như sau: - Là NL cần thiết cho việc học tập và nghiên cứu Toán.
- Bao gồm NL giao tiếp, NL biểu diễn Toán học. Trên cơ sở đó, chúng tôi cho rằng “NL sử dụng NNTH là khả năng thu nhận và xử lý thông tin về NNTH, khả năng vận dụng NNTH trong học tập, trong giao tiếp toán học, trong biểu diễn toán học, trong nghiên cứu toán học và sử dụng linh hoạt NNTH trong đời sống thực tiễn” 10 1. Năng lực sử dụng NNTH của SVSP Toán. Xuất phát từ mục đích chính của đề tài là góp phần bồi dưỡng năng lực sử dụng NNTH cho SVSP, nên việc xác định các thành tố đặc trưng cho năng lực này là một nhiệm vụ quan trọng.
Những căn cứ để xác định về các thành tố đặc trưng của năng lực sử dụng NNTH của SV sư phạm toán. Để dẫn đến quan niệm, chúng tôi dựa vào một số căn cứ sau: - Chuẩn nghề nghiệp GV Trung học phổ thông ở Việt Nam; - Tham khảo một số quan điểm của các tác giả đề cập đến năng lực sử dụng NNTH của HS phổ thông. - Dựa trên cơ sở chuẩn đầu ra của SV tốt nghiệp ĐHSP Toán ở Việt nam. - Bối cảnh đổi mới GD, SGK Toán phổ thông và cách mạng công nghệ 4.
Một số thành tố của NL sử dụng NNTH của SVSP Toán Những tư tưởng quan điểm vừa trích dẫn ở trên và các khía cạnh tâm lí học của đối tượng là SVSP là những điểm tựa quan trọng, giúp chúng tôi xác định các thành tố cụ thể về năng lực sử dụng NNTH của SV Toán trong trường ĐHSP. Ngoài những quan điểm đã dẫn, chúng tôi cho rằng cốt lõi của năng lực sử dụng NNTH của SV Toán là khả năng sử dụng NNTH vào học tập và nghiên cứu Toán, khả năng phát hiện, dự đoán được những sai lầm và có biện pháp sửa chữa được những sai lầm về mặt logic trong lời giải các bài toán, khả năng đánh giá được mức độ sử dụng NNTH của bản thân và của HS. Đây cũng chính là một trong những năng lực cần có của GV Toán THPT. Chúng tôi cho rằng các thành tố NL sử dụng NNTH của SVSP Toán bao gồm các thành tố sau và đó cũng là những biểu hiện của NL sử dụng NNTH của SV: - Thành tố 1: Tiếp nhận kiến thức, hiểu và sử dụng chính xác những thuật ngữ, kí hiệu và các biểu diễn toán học trong học tập, dạy học và nghiên cứu Toán.
- Thành tố 2: Suy luận logic chính xác và chặt chẽ trong học, dạy và nghiên cứu Toán. - Thành tố 3: Sử dụng các biểu diễn Toán học để giải toán, dạy học giải toán và nghiên cứu Toán. - Thành tố 4: Hướng dẫn HS phổ thông sử dụng NNTH và bồi dưỡng tư duy logic cho HS trong quá trình dạy học Toán. - Thành tố 5: Phát hiện được các sai lầm sử dụng logic trong giải toán mà HS thường gặp và biện pháp khắc phục sửa chữa.
Các thành tố trên có thể có những điểm chung, sự phân chia chỉ mang tính tương đối, bổ sung và hỗ trợ cho nhau. Những biểu hiện của các thành tố của năng lực sử dụng NNTH của SVSP Toán 11 SVSP Toán thực hiện vai trò vừa là người học Toán, vừa là người nghiên cứu khoa học cơ bản hoặc khoa học giáo dục về Toán và vừa là người thực hành giảng dạy về Toán để trở thành GV dạy Toán trong tương lai. Do đó, các biểu hiện về năng lực sử dụng NNTH được chúng tôi xem xét ở SVSP Toán trong quá trình học thực hiện cả ba vai trò đó. Sau đây, chúng tôi phân tích rõ hơn những biểu hiện cụ thể của các thành tố của năng lực sử dụng NNTH của SVSP Toán như sau: a) Thành tố 1: Tiếp nhận kiến thức, hiểu, sử dụng chính xác những thuật ngữ và kí hiệu toán học, biểu diễn của toán học trong học, dạy và nghiên cứu Toán.
Khả năng tiếp nhận kiến thức, hiểu và sử dụng chính xác những thuật ngữ, kí hiệu, biểu diễn toán học của SVSP toán thể hiện qua một số đặc điểm sau: - Khả năng nghe hiểu được nội dung của các giảng giải, lập luận, yêu cầu của giảng viên, các nội dung các bạn trình bày khi thảo luận hoặc báo cáo chuyên đề, dự án. - Khả năng ghi chép bài giảng, ghi chép thông tin theo ý hiểu, có khả năng biểu diễn các kiến thức theo cách hiểu riêng của mình (có cách ghi chép riêng, sáng tạo bằng các thuật ngữ, kí hiệu, biểu diễn Toán học). - Khả năng dùng ngôn ngữ toán học (thuật ngữ, kí hiệu, biểu diễn, phép suy luận logic,.) khi nói để lập luận, giảng giải, giải thích, trình bày các vấn đề khi được hỏi, khi thảo luận hoặc báo cáo chuyên đề, dự án hoặc khi thực hành giảng dạy. - Khả năng diễn đạt các tình huống toán học bằng NNTN và NNTH ngắn gọn, chính xác và bằng các cách khác nhau.
- Khả năng sử dụng chính xác những thuật ngữ, kí hiệu, biểu diễn toán học để giải quyết các vấn đề toán học trong học tập, nghiên cứu khoa học và thực hành giảng dạy. SV cần tích lũy vốn kiến thức về NNTH, nắm vững cả về phương diện cú pháp và ngữ nghĩa của các thuật ngữ, kí hiệu, công thức toán học. Việc chú trọng về mặt ngữ nghĩa của các thuật ngữ, kí hiệu sẽ giúp SV không mắc sai lầm mà còn nâng cao khả năng sử dụng chúng.3: Khi dạy khái niệm giao của hai tập hợp, sinh viên cần nắm vững hai phương diện: - Phương diện ngữ nghĩa: Cho hai tập hợp Avà B ta gọi tập hợp gồm tất cả các phần tử thuộc A và cũng thuộc B gọi là giao của hai tập hợp Avà B, kí hiệu là A ∩ B. - Phương diện cú pháp: x ∈ A ∩ B ⇔ x ∈ A và x ∈ B.
- Sơ đồ ven biểu diễn giao 2 tập hợp: 12 Hình 1. Sơ đồ ven biểu diễn giao 2 tập hợp Ví dụ 1.4: Xét bài toán quỹ tích trong hình học, thực chất của việc chứng minh bài toán này gồm hai phần thuận và đảo. Sinh viên cần nắm được các thuật ngữ ''quĩ tĩch'', "thuận "và "đảo". Nếu nhìn theo quan điểm của lý thuyết tập hợp cần làm cho SV hiểu như sau: Khi nói đường thẳng ∆ là quĩ tích những điểm có tính chất α, điều đó có nghĩa là tập các điểm nằm trên đường thẳng ∆ bằng tập hợp các điểm có tính chất α.