Tổng quan luận án

Đề tài "Bồi dưỡng năng lực nghề nghiệp cho người lao động đánh bắt hải sản tại tỉnh Phú Yên" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Nguyễn Trí, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Võ Thị Ngọc Lan, chuyên ngành Giáo dục học (mã số: 9140101) tại Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh, hoàn thành vào tháng 02 năm 2025.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Việt Nam có bờ biển dài với nguồn lợi hải sản phong phú. Nghị quyết Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII (2018) về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 xác định mục tiêu đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển, trong đó nhấn mạnh nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực biển chất lượng cao. Bên cạnh đó, hoạt động khai thác hải sản đòi hỏi phải tuân thủ Công ước Quốc tế về tiêu chuẩn đào tạo, chứng nhận và trực ca cho thuyền viên tàu cá (STCW-F, 1995) của Tổ chức Hàng hải Quốc tế (IMO) mà Việt Nam là thành viên từ năm 1991 (Tiếu Văn Kình, 2012).

Thực tế nghề cá Việt Nam mang quy mô nhỏ lẻ, là nghề nặng nhọc, nguy hiểm, làm việc trong điều kiện khắc nghiệt. Theo Tổ chức Nông lương Liên Hiệp Quốc (FAO) và các nghiên cứu quốc tế, đánh bắt hải sản là nghề nguy hiểm nhất, bình quân mỗi ngày có 70 ngư dân thiệt mạng, tương đương 24.000 người mỗi năm trên toàn thế giới. Tại Việt Nam, thống kê ghi nhận khoảng 600 vụ tai nạn xảy ra đối với ngư dân; điển hình bão Chanchu năm 2006 làm chết 246 ngư dân tại 4 tỉnh miền Trung từ Đà Nẵng đến Bình Định (Lê Hồng Minh, 2011; Nguyễn Văn Tâm, 2018). Tại Phú Yên, tính đến năm 2022 toàn tỉnh có 4.108 tàu cá với 31.038 lao động (Chi cục Thủy sản tỉnh Phú Yên, 2022). Báo cáo của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Phú Yên giai đoạn 2015 - 2019 ghi nhận 74 vụ tai nạn tàu cá làm chết 12 người (Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Phú Yên, 2020).

Phần lớn lao động hoạt động theo phương thức truyền nghề kinh nghiệm gia đình, trình độ chuyên môn thấp, thiếu kiến thức và kỹ năng bài bản (Lại, 2013; Lê, 2011). Công tác bồi dưỡng tại Phú Yên còn bất cập: nội dung nặng về lý thuyết, phương pháp thuyết trình một chiều, kiểm tra đánh giá chưa nghiêm túc (Lê, 2013; Chi cục Thủy sản Phú Yên, 2022). Các nghiên cứu trước đây tại địa phương chỉ tập trung vào kỹ thuật công nghệ đánh bắt, bảo quản sản phẩm hoặc vận hành máy tàu. Cho đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu hệ thống, chuyên sâu về việc xây dựng chương trình bồi dưỡng năng lực thực hành an toàn trên tàu cá cho người lao động đánh bắt hải sản tại tỉnh Phú Yên.

Mục tiêu nghiên cứu

Xây dựng chương trình bồi dưỡng năng lực thực hành an toàn trên tàu cá trong hệ thống năng lực nghề nghiệp của người lao động đánh bắt hải sản tại tỉnh Phú Yên.

Giả thuyết khoa học

Đội ngũ người lao động đánh bắt hải sản ở tỉnh Phú Yên còn yếu về năng lực thực hành an toàn trên tàu cá, chưa đủ khả năng thực hiện các yêu cầu nhiệm vụ khi gặp tình huống nguy hiểm hoặc tai nạn thương tích khi đánh bắt hải sản trên biển. Nếu xây dựng chương trình bồi dưỡng theo tiếp cận năng lực thì đội ngũ người lao động đánh bắt hải sản ở tỉnh Phú Yên sẽ có đủ năng lực thực hành an toàn trên tàu cá để hoàn thành yêu cầu, nhiệm vụ của mình khi đánh bắt hải sản trên biển.

Nhiệm vụ nghiên cứu

  1. Nghiên cứu tổng quan về bồi dưỡng năng lực nghề nghiệp cho người lao động đánh bắt hải sản.
  2. Nghiên cứu cơ sở lý luận về bồi dưỡng năng lực nghề nghiệp cho người lao động đánh bắt hải sản.
  3. Xác định thực trạng bồi dưỡng năng lực thực hành an toàn trên tàu cá cho người lao động đánh bắt hải sản tại tỉnh Phú Yên.
  4. Xây dựng chương trình bồi dưỡng năng lực thực hành an toàn trên tàu cá cho người lao động đánh bắt hải sản tại tỉnh Phú Yên và đánh giá tính cấp thiết, khả thi của chương trình bồi dưỡng này.

Đối tượng và khách thể nghiên cứu

  • Khách thể nghiên cứu: Bồi dưỡng năng lực nghề nghiệp cho người lao động đánh bắt hải sản.
  • Đối tượng nghiên cứu: Chương trình bồi dưỡng năng lực thực hành an toàn trên tàu cá trong hệ thống năng lực nghề nghiệp của người lao động đánh bắt hải sản tại tỉnh Phú Yên.

Phạm vi nghiên cứu

  • Phạm vi nội dung: Giới hạn tập trung vào năng lực thực hành an toàn trên tàu cá (là 1 trong 62 năng lực thuộc hệ thống năng lực nghề nghiệp của người lao động đánh bắt hải sản).
  • Phạm vi địa bàn khảo sát: 04 địa phương ven biển tỉnh Phú Yên gồm Thành phố Tuy Hòa, Thị xã Đông Hòa, Huyện Tuy An và Thị xã Sông Cầu.
  • Phạm vi thời gian: Thu thập và xử lý các số liệu khảo sát từ năm 2018 đến năm 2023.
  • Phạm vi thực nghiệm: Lựa chọn và thực hiện thực nghiệm sư phạm (thực nghiệm gần đúng - quasi-experiment) đối với 02 mô đun của chương trình tại Phường Phú Đông, Thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã tổng thuật chi tiết các hướng nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài:

Các hướng nghiên cứu về năng lực nghề nghiệp của người lao động đánh bắt hải sản

  • Về vai trò và cấu trúc năng lực: Các tổ chức quốc tế như FAO và IMO khẳng định năng lực người lao động là yếu tố quyết định sự an toàn và hiệu quả chuyến biển. Công ước STCW (1978, sửa đổi 2010, hiệu lực 2012) quy định cụ thể chuẩn năng lực cho từng chức danh (Tiếu Văn Kình, 2012). Nguyễn Hữu Lý (1991) chỉ rõ thuyền viên cần kiến thức vỏ tàu, cẩu hàng, neo đậu, chữa cháy và cấp cứu biển. Sang Cheol Lee và Hyo Heon Won (2015) khảo sát 65 ngư dân ven biển, phân loại năng lực nghề cá thành 6 nhóm yếu tố (đạo đức nghề nghiệp, thông tin hàng hải, kiến thức hàng hải cơ bản, quản lý an toàn hàng hải, ý thức về biển...), mỗi nhóm gồm từ 2 đến 9 năng lực thành phần.

Các hướng nghiên cứu về hoạt động bồi dưỡng năng lực nghề nghiệp

  • Về nhu cầu và chất lượng đào tạo: Ben-Yami và Anderson (1985) nhấn mạnh phải phân tích nhu cầu kỹ thuật trước khi đào tạo tại các trung tâm cộng đồng. Đại học Sohar (2013) điều tra bờ biển Al-Batinah (Oman) cho thấy ngư dân trẻ thiếu đào tạo chuyên biệt. Nguyễn Văn Cường (2005) nghiên cứu tại Hải Phòng nhận định tỷ lệ thuyền viên qua đào tạo rất thấp, đề xuất đào tạo sát thực tế. FAO (2008) đưa ra quy trình hỗ trợ kỹ thuật và khung huấn luyện an toàn cho nghề cá quy mô nhỏ tại châu Phi. Nguyễn Thanh Long (2012) tại Sóc Trăng đề xuất ưu tiên đào tạo con em ngư dân. Phạm Hồng Mạnh và Phan Vĩnh An (2014) khảo sát tại Ninh Thuận ghi nhận chủ hộ ngư dân có học vấn thấp, thiếu đào tạo bài bản. Rakesh và cộng sự (2015) chỉ ra tại Oman ngư dân từ 21 đến 50 tuổi chủ yếu dựa vào kinh nghiệm, thiếu tin tưởng vào các khóa học hiện có. Trần Văn Thạch (2015) khảo sát miền Trung chỉ ra 51,9% học nghề bằng tự học, 31,1% cha truyền con nối và chỉ 17% qua trường lớp. Lê Vinh Liên Trang và Nguyễn Thuần Anh (2015) phỏng vấn 384 ngư dân tàu trên 90 CV tại Khánh Hòa, ghi nhận dù 53,6% có trên 10 năm kinh nghiệm nhưng kiến thức an toàn thực phẩm và bảo vệ sức khỏe rất thấp. Đào Quang Dân (2016) xây dựng tiêu chí đánh giá thuyền viên xuất khẩu.
  • Về nội dung, hình thức và phương pháp: Su-Chang Chen (2004) điều tra 270 ngư dân Đài Loan, chỉ 12,6% biết vi tính, từ đó kiến nghị đào tạo trực tuyến qua radio và di động. Nguyễn Thế Tràm (2005) đề xuất bồi dưỡng định kỳ 1-2 tuần vào mùa biển động cho ngư dân miền Trung. Sohar University (2013) khảo sát 1.934 ngư dân Oman, đề xuất ràng buộc pháp lý khi tham gia đào tạo an toàn. Chương trình SFMP (2014) tại Ghana huấn luyện 2 ngày cho 50 ngư dân từ 11 cộng đồng bằng phương pháp thảo luận tương tác. Báo cáo số 574/BC-BDN (2013) của Ban Dân nguyện Quốc hội phản ánh lao động nghề cá thiếu hiểu biết pháp luật hàng hải quốc tế.

Các hướng nghiên cứu về bồi dưỡng năng lực thực hành an toàn trên tàu cá

  • Tầm quan trọng của phòng chống tai nạn: Tài liệu của Công ty Vận tải và Thuê tàu biển Việt Nam (1988) và Viện Nguồn lợi Thủy sản (1996) hướng dẫn xử lý va chạm, cháy nổ, người rơi xuống biển. Tomaszunas và cộng sự (1997) điều tra 1.103 thuyền viên Ba Lan ghi nhận 7,8% phàn nàn về điều kiện an toàn, sức khỏe. Laursen và cộng sự (2008) tại Đan Mạch phân tích 114 ca tử vong (1989 - 2005) do chìm tàu, lật tàu, thời tiết. Phan Trọng Huyến và Vũ Kế Nghiệp (2008) nghiên cứu nghề câu cá ngừ tại Khánh Hòa nhận thấy ngư dân học vấn tiểu học trở xuống có nguy cơ tai nạn rất cao, chứng chỉ thuyền viên bị bỏ trống. Phùng Thị Thanh Tú và cộng sự (2014) nghiên cứu tai nạn lặn biển tại miền Trung. Laura và cộng sự (2016) tại Alaska chỉ ra lao động trên boong tàu chịu thương tích nặng nhất. Lê Hồng Minh (2011) yêu cầu đưa thực hành cứu nạn vào chương trình bồi dưỡng. Srinath và Rajeev (1995) tại Ấn Độ; Grimsmo và cộng sự (2010) tại Anh chỉ ra nhu cầu cấp bách về sơ cứu chấn thương.
  • Các khung chương trình an toàn: Công ước STCW-F (1995) quy định 4 năng lực cốt lõi: cứu sinh khi bỏ tàu, phòng cháy chữa cháy, sơ cứu cơ bản, an toàn cá nhân và trách nhiệm xã hội. FAO, ILO, IMO (thông qua tài liệu SEAFDEC, 2013) quy định chuẩn huấn luyện an toàn cho tàu cá dưới 12 mét và tàu không boong. Nguyễn Văn Tâm (2018) thực nghiệm bồi dưỡng lý thuyết kết hợp thực hành tại chỗ cho 100 ngư dân và 100 thuyền viên tại Hải Phòng. Todd Miner và cộng sự (2019) tại Hoa Kỳ thiết kế khóa huấn luyện 16 giờ trong 2 ngày kết hợp bài giảng và tình huống thực hành.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Các công trình trước đây chủ yếu dừng lại ở mức khảo sát thực trạng, nêu tầm quan trọng hoặc đề xuất giải pháp chung mang tính kỹ thuật. Thiếu vắng các công trình nghiên cứu hệ thống, chuyên sâu dưới góc độ khoa học giáo dục để xây dựng khung lý thuyết, xác định chuẩn cấu trúc năng lực và quy trình thiết kế chương trình bồi dưỡng năng lực thực hành an toàn trên tàu cá theo tiếp cận năng lực cho người lao động đánh bắt hải sản tại một địa bàn cụ thể như tỉnh Phú Yên.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và các khái niệm sử dụng

Luận án kế thừa và chuẩn hóa hệ thống khái niệm công cụ:

  • Người lao động đánh bắt hải sản: Là những thuyền viên làm việc trên tàu cá, làm nhiệm vụ khai thác nguồn lợi hải sản trên biển thông qua các công cụ chuyên dùng (kết hợp quy định Luật Thủy sản 2017, Thông tư 22/2018/TT-BNNPTNT và Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê, 2003).
  • Năng lực và Năng lực nghề nghiệp: Kế thừa quan điểm của UNESCO (1998), Hoàng Tuấn Anh và Nguyễn Đắc Bắc (2015), Đào Thị Oanh (2016), Nguyễn Xuân Hải (2016), Epstein và Hunder (2002), Nguyễn Thị Tình (2015), Nguyễn Trọng Khanh (2011). Luận án xác định năng lực nghề nghiệp của người lao động đánh bắt hải sản là khả năng thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ, công việc theo yêu cầu, tiêu chuẩn của nghề đánh bắt hải sản thông qua sự kết hợp kiến thức, kỹ năng, thái độ.
  • Bồi dưỡng: Kế thừa quan điểm của Hoàng Phê (2003), Trương Đại Đức (2011), Nguyễn Lộc (2010), Tạ Văn Sỹ (2008). Bồi dưỡng là quá trình huấn luyện, bổ sung kiến thức, kỹ năng, thái độ cho người lao động nhằm thực hiện hiệu quả công việc theo tiêu chuẩn nghề.
  • Năng lực thực hành an toàn trên tàu cá: Dựa trên Luật An toàn Vệ sinh lao động năm 2015, là khả năng phòng, chống tác động của các yếu tố nguy hiểm nhằm bảo đảm không xảy ra thương tật, tử vong đối với con người trong quá trình lao động.
  • Khung năng lực nghề nghiệp: Căn cứ Tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia nghề khai thác thủy sản biển (Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, 2021) áp dụng cho 22 vị trí việc làm trên 3 nhóm tàu (dưới 15m, từ 15m đến dưới 24m, từ 24m trở lên) với 4 nghề chính (lưới kéo, lưới vây, lưới rê, câu vàng). Cấu trúc gồm 3 nhóm năng lực:
    1. Nhóm năng lực cơ bản: 06 năng lực;
    2. Nhóm năng lực chung: 04 năng lực (năng lực bơi lội; năng lực chịu đựng sóng gió; năng lực thực hiện các quy định liên quan đến tàu cá; năng lực thực hành an toàn trên tàu cá);
    3. Nhóm năng lực chuyên môn: 62 năng lực.
  • Đặc điểm nghề nghiệp: Hoạt động tuân thủ quy trình 8 bước (Hội nghề cá Việt Nam, 2007): 1) Chuẩn bị chuyến biển; 2) Điều động tàu đến ngư trường; 3) Chuẩn bị lưới, dụng cụ; 4) Thả lưới; 5) Dắt lưới; 6) Thu lưới; 7) Lấy cá và xử lý; 8) Chuẩn bị mẻ sau. Chức danh thuyền viên xác định theo Thông tư số 22/2018/TT-BNNPTNT.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án phối hợp đồng bộ các phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng:

Phương pháp Quy mô / Cỡ mẫu Đối tượng khảo sát Mục đích và công cụ thực hiện
Nghiên cứu lý luận Văn bản pháp luật, tài liệu STCW-F, FAO, IMO, các công trình khoa học Văn kiện, nghị quyết, đề tài khoa học trong và ngoài nước Phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa xây dựng khung lý thuyết và khái niệm
Khảo sát bằng phiếu hỏi 400 người Người lao động đánh bắt hải sản tại 4 địa phương: TP Tuy Hòa, TX Đông Hòa, Huyện Tuy An, TX Sông Cầu Đánh giá thực trạng năng lực an toàn và thực trạng bồi dưỡng; dùng thang đo Likert 4 mức độ
Phỏng vấn sâu 15 người (7 CBQL, 8 thuyền trưởng) Cán bộ quản lý và thuyền trưởng có kinh nghiệm đi biển tại Phú Yên Làm rõ nguyên nhân, thực trạng công tác bồi dưỡng và tính khả thi của giải pháp
Phương pháp chuyên gia 26 người Gồm 3 nhóm: Giảng viên ĐH Nha Trang; CBQL Sở LĐTBXH và Chi cục Thủy sản; Thuyền trưởng là Chủ tịch/Phó Chủ tịch Nghiệp đoàn nghề cá Đánh giá mục tiêu, nội dung, thời lượng, tính khả thi của chương trình bồi dưỡng đề xuất
Thực nghiệm sư phạm 30 người Ngư dân tại Phường Phú Đông, Thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên Thực nghiệm gần đúng (quasi-experiment) 02 mô đun; kiểm tra đầu vào và đầu ra
Xử lý số liệu Toàn bộ dữ liệu khảo sát và thực nghiệm Dữ liệu định lượng và định tính Thống kê mô tả, so sánh điểm trung bình qua phần mềm SPSS phiên bản 20

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu về bồi dưỡng năng lực nghề nghiệp cho người lao động đánh bắt hải sản

Chương 1 hệ thống hóa các nghiên cứu trong nước và quốc tế theo 3 nhóm trục chính: nghiên cứu về năng lực nghề nghiệp người lao động đánh bắt hải sản; nghiên cứu về công tác bồi dưỡng năng lực nghề nghiệp; nghiên cứu chuyên sâu về bồi dưỡng năng lực thực hành an toàn trên tàu cá.

Tác giả luận án đúc kết 3 vấn đề cốt lõi cần giải quyết:

  1. Tiếp thu và chuẩn hóa hệ thống khái niệm chuyên biệt phù hợp với đối tượng thuyền viên tàu cá Việt Nam.
  2. Thiết lập khung lý thuyết hoàn chỉnh làm căn cứ khoa học cho việc phát triển chương trình bồi dưỡng năng lực thực hành an toàn trên tàu cá theo tiếp cận năng lực.
  3. Giải quyết bài toán thực tiễn tại tỉnh Phú Yên thông qua việc thiết kế chương trình bồi dưỡng có cấu trúc mô đun linh hoạt, khắc phục triệt để lối truyền thụ lý thuyết thụ động trước đây.

Chương 2: Cơ sở lý luận về bồi dưỡng năng lực nghề nghiệp cho người lao động đánh bắt hải sản

Chương 2 tập trung phân tích bản chất tâm lý - giáo dục của hoạt động bồi dưỡng người lớn đối với đối tượng lao động biển. Tác giả phân tích các đặc trưng lao động: môi trường làm việc cô lập, sóng gió khắc nghiệt, thời gian kéo dài từ 10 ngày đến nhiều tháng, đối mặt với nguy cơ tai nạn cơ học, ngạt khí hầm cá, cháy nổ buồng máy và biến động thời tiết.

Trên cơ sở Tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia (2021), tác giả xác định năng lực thực hành an toàn trên tàu cá thuộc nhóm năng lực chung bắt buộc. Luận án xây dựng cấu trúc năng lực thực hành an toàn trên tàu cá gồm các năng lực thành phần cốt lõi và tiêu chí đánh giá tương ứng:

  • Cấu trúc năng lực thành phần: Năng lực xử lý khi có người rơi xuống biển; Năng lực xử lý khi bị thủng tàu; Năng lực xử lý khi có cháy trên tàu; Năng lực sơ cứu khi có người bị thương tích; Năng lực sống sót trên biển; Năng lực phát hiện và theo dõi bão trên biển; Năng lực phòng tránh mất liên lạc.
  • Thiết lập quy trình xây dựng chương trình bồi dưỡng năng lực thực hành an toàn trên tàu cá (Hình 2.3 trong văn bản) dựa trên phương pháp phân tích nghề và kỹ thuật DACUM (Developing a Curriculum), chuyển hóa các nhiệm vụ an toàn trên tàu cá thành các mô đun học tập theo tiếp cận năng lực thực hiện.

Chương 3: Thực trạng về bồi dưỡng năng lực thực hành an toàn trên tàu cá cho người lao động đánh bắt hải sản ở tỉnh Phú Yên

Chương 3 trình bày kết quả khảo sát thực địa đối với 400 người lao động tại 4 vùng biển trọng điểm của tỉnh Phú Yên (Tuy Hòa, Đông Hòa, Tuy An, Sông Cầu), kết hợp phỏng vấn sâu 7 cán bộ quản lý và 8 thuyền trưởng.

Các phát hiện thực trạng chính:

  • Về năng lực thực hành an toàn: Kết quả khảo sát năng lực thành phần của ngư dân đều ở mức trung bình và yếu. Cụ thể: năng lực xử lý khi có người rơi xuống biển, xử lý khi thủng tàu, xử lý cháy trên tàu, sơ cứu chấn thương, sống sót trên biển, theo dõi bão và phòng tránh mất liên lạc đều bộc lộ nhiều lúng túng. Ngư dân thao tác cứu sinh chủ yếu bằng phản xạ tự nhiên và kinh nghiệm tích lũy, chưa nắm vững các bước kỹ thuật chuẩn quốc tế.
  • Về công tác tổ chức bồi dưỡng: Tỷ lệ người lao động tham gia các khóa huấn luyện bài bản rất thấp. Phương thức bồi dưỡng tồn tại nhiều hạn chế: mục tiêu chủ yếu trang bị kiến thức ghi nhớ; nội dung chưa cập nhật kỹ thuật xử lý tình huống khẩn cấp hiện đại; phương pháp giảng dạy nặng về thuyết trình lý thuyết một chiều trên bờ, thiếu trang thiết bị và mô hình thực hành mô phỏng; công tác kiểm tra đánh giá kết thúc khóa học mang tính hình thức, chưa dựa trên chuẩn đầu ra năng lực thực hiện.
  • Nguyên nhân của hạn chế: Do ngư dân bận rộn với các chuyến biển, trình độ văn hóa không đồng đều; kinh phí đào tạo nghề cho ngư dân hạn chế; thiếu chương trình bồi dưỡng chuẩn hóa được thiết kế riêng theo tiếp cận năng lực phù hợp với khung giờ và tập quán lao động biển của địa phương.

Chương 4: Xây dựng chương trình bồi dưỡng năng lực thực hành an toàn trên tàu cá cho người lao động đánh bắt hải sản ở tỉnh Phú Yên

Dựa trên kết quả khảo sát và khung lý luận DACUM, chương 4 tiến hành thiết kế hoàn chỉnh chương trình bồi dưỡng theo tiếp cận năng lực:

Cấu trúc chương trình đề xuất

Chương trình được thiết kế theo cấu trúc mô đun tích hợp lý thuyết và thực hành, tập trung vào các tình huống hiểm nguy điển hình trên biển:

Mô đun bồi dưỡng Mục tiêu năng lực thực hiện chính
Mô đun 1: Năng lực xử lý khi có người rơi xuống biển Nhận biết tín hiệu khẩn cấp, ném phao cứu sinh, thao tác điều động tàu vớt nạn nhân
Mô đun 2: Năng lực xử lý khi bị thủng tàu Xác định vị trí thủng, sử dụng vật liệu chống chìm, bịt lỗ rò, vận hành bơm la-gông
Mô đun 3: Năng lực xử lý khi có cháy trên tàu Phân loại đám cháy trên tàu cá, vận hành bình chữa cháy xách tay, sử dụng vòi phun dập lửa
Mô đun 4: Năng lực sơ cứu ban đầu khi có người bị thương tích Kỹ thuật hô hấp nhân tạo, ép tim ngoài lồng ngực, băng bó vết thương, cố định gãy xương
Mô đun 5: Năng lực sống sót trên biển Kỹ thuật sử dụng áo phao, bè cứu sinh, chống hạ thân nhiệt, kỹ năng sinh tồn chờ cứu hộ
Mô đun 6: Năng lực phát hiện và theo dõi bão trên biển Đọc bản tin dự báo thời tiết hàng hải, quan sát dấu hiệu khí tượng, điều hướng tránh tâm bão
Mô đun 7: Năng lực phòng tránh mất liên lạc Vận hành thiết bị giám sát hành trình (VMS), máy Icom, phát tín hiệu cấp cứu SOS

Đánh giá chuyên gia và thực nghiệm sư phạm

  • Đánh giá chuyên gia: 26 chuyên gia đã thẩm định chương trình qua phiếu hỏi. Kết quả đánh giá về mục tiêu, kết cấu nội dung, phân bổ thời lượng các mô đun và tính khả thi của chương trình đều đạt điểm số đồng thuận cao.
  • Tổ chức thực nghiệm gần đúng (quasi-experiment): Tác giả triển khai thực nghiệm 02 mô đun: "Năng lực xử lý khi có cháy trên tàu" và "Năng lực sơ cứu ban đầu khi có người bị thương tích" cho 30 ngư dân tại Phường Phú Đông, Thành phố Tuy Hòa.
  • Kết quả thực nghiệm: Đo lường kiểm tra đầu vào và đầu ra qua thang điểm đánh giá năng lực thực hiện:
    • Năng lực xử lý khi có cháy trên tàu: Điểm kiểm tra trung bình sau bồi dưỡng tăng rõ rệt so với trước bồi dưỡng; tỷ lệ ngư dân đạt mức độ yếu giảm mạnh, tỷ lệ đạt mức độ khá và tốt tăng cao trên phân phối tần số điểm kiểm tra.
    • Năng lực sơ cứu ban đầu khi có người bị thương tích: Kỹ năng băng bó, cố định xương và hô hấp nhân tạo được thao tác đúng quy trình kỹ thuật. Sự khác biệt về điểm kiểm tra trung bình trước và sau bồi dưỡng có ý nghĩa thống kê trong phân tích xử lý dữ liệu qua phần mềm SPSS phiên bản 20.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận

  1. Hệ thống hóa và làm sáng tỏ cơ sở lý luận về năng lực nghề nghiệp, năng lực thực hành an toàn trên tàu cá và bồi dưỡng năng lực an toàn trên tàu cá cho người lao động đánh bắt hải sản phù hợp với bối cảnh nghề cá quy mô nhỏ tại Việt Nam.
  2. Xác định cấu trúc chuẩn hóa và bộ tiêu chí đánh giá năng lực thực hành an toàn trên tàu cá cho thuyền viên tàu cá.
  3. Xây dựng quy trình khoa học thiết kế chương trình bồi dưỡng năng lực thực hành an toàn trên tàu cá theo tiếp cận năng lực (kết hợp phân tích công việc DACUM), làm phong phú thêm lý luận giáo dục nghề nghiệp cho lao động đặc thù.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn

  1. Cung cấp bức tranh toàn diện và số liệu cập nhật (giai đoạn 2018 - 2023) về thực trạng năng lực thực hành an toàn và công tác bồi dưỡng an toàn trên tàu cá tại 4 vùng biển trọng điểm của tỉnh Phú Yên.
  2. Xây dựng hoàn chỉnh chương trình bồi dưỡng năng lực thực hành an toàn trên tàu cá theo hệ thống mô đun tích hợp, phù hợp với đặc điểm nhận thức và lịch trình đi biển của ngư dân.
  3. Kiểm chứng hiệu quả thực nghiệm của 02 mô đun trọng điểm ("Xử lý khi có cháy trên tàu" và "Sơ cứu ban đầu khi có người bị thương tích"), chứng minh chương trình có tính khả thi và nâng cao kỹ năng xử lý tai nạn của thuyền viên.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  • Đối với Sở Lao động - Thương binh và Xã hội và Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Phú Yên: Cần phối hợp đưa chương trình bồi dưỡng theo tiếp cận năng lực vào kế hoạch đào tạo nghề thường xuyên hàng năm; hỗ trợ trang thiết bị thực hành cứu sinh, phòng cháy chữa cháy tại các cảng cá.
  • Đối với chính quyền địa phương và Nghiệp đoàn nghề cá: Tổ chức các lớp bồi dưỡng linh hoạt theo mùa vụ, tập trung vào thời gian biển động khi tàu thuyền nằm bờ; gắn việc cấp chứng chỉ an toàn với thủ tục xuất bến kiểm soát tàu cá.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế về phạm vi nghiên cứu: Luận án chỉ tập trung nghiên cứu 01 năng lực (năng lực thực hành an toàn trên tàu cá) trong tổng số 62 năng lực chuyên môn của người lao động đánh bắt hải sản theo danh mục Tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia; địa bàn khảo sát giới hạn tại 04 huyện/thị xã/thành phố ven biển thuộc tỉnh Phú Yên trong khung thời gian 2018 - 2023.
  • Hạn chế về thực nghiệm: Do điều kiện thời gian và nguồn lực tổ chức huấn luyện ngư dân đi biển, luận án mới chỉ tiến hành thực nghiệm gần đúng đối với 02 mô đun (chữa cháy và sơ cứu thương tích) trên quy mô mẫu thực nghiệm là 30 ngư dân tại một địa bàn (Phường Phú Đông, Thành phố Tuy Hòa).
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục mở rộng hoàn thiện và thực nghiệm đầy đủ tất cả 7 mô đun còn lại của chương trình; mở rộng nghiên cứu sang các năng lực chuyên môn kỹ thuật khai thác khác; thử nghiệm áp dụng mô hình bồi dưỡng này cho các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ và các vùng biển khác trên cả nước.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn đối với:

  • Cơ sở giáo dục nghề nghiệp và trường đào tạo thuyền viên: Cung cấp khung chương trình mô đun mẫu, giáo án thực nghiệm và ngân hàng tiêu chí đánh giá năng lực thực hành an toàn trên tàu cá theo tiếp cận năng lực.
  • Cơ quan quản lý nhà nước (Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Chi cục Thủy sản): Cung cấp cơ sở khoa học và số liệu thực chứng phục vụ công tác quy hoạch, xây dựng chính sách bồi dưỡng nguồn nhân lực nghề cá, giảm thiểu rủi ro tai nạn thương tích trên biển.
  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học ngành Giáo dục học, Quản lý giáo dục: Tham khảo về phương pháp luận kết hợp khảo sát thực địa Likert 4 mức độ, phương pháp chuyên gia và mô hình thực nghiệm gần đúng (quasi-experiment) có hỗ trợ của phần mềm SPSS 20.

Câu hỏi thường gặp

1. Tại sao luận án lại chọn tiếp cận năng lực để xây dựng chương trình bồi dưỡng?

Phương thức bồi dưỡng truyền thống tại Phú Yên chủ yếu dạy lý thuyết một chiều, học viên thụ động nghe giảng với sĩ số đông, kiểm tra hình thức nên khi gặp sự cố trên biển ngư dân không biết thao tác. Tiếp cận năng lực (Competency-Based Training) lấy việc thực hiện công việc thực tế làm chuẩn, cấu trúc nội dung thành các mô đun kỹ năng cụ thể, tích hợp thực hành mô phỏng giúp ngư dân hình thành phản xạ xử lý chính xác tình huống hiểm nguy.

2. Năng lực thực hành an toàn trên tàu cá nằm ở vị trí nào trong chuẩn nghề quốc gia?

Theo Tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia nghề khai thác thủy sản biển (Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, 2021), cấu trúc nghề gồm 3 nhóm: nhóm cơ bản (6 năng lực), nhóm chung (4 năng lực) và nhóm chuyên môn (62 năng lực). Năng lực thực hành an toàn trên tàu cá là 1 trong 4 năng lực thuộc nhóm năng lực chung bắt buộc đối với mọi chức danh lao động trên tàu cá (bên cạnh bơi lội, chịu đựng sóng gió và thực hiện quy định tàu cá).

3. Quy mô khảo sát thực trạng và thực nghiệm của luận án được thực hiện ra sao?

Khảo sát thực trạng được thực hiện trên mẫu 400 người lao động đánh bắt hải sản tại 04 địa phương ven biển tỉnh Phú Yên (Thành phố Tuy Hòa, Thị xã Đông Hòa, Huyện Tuy An, Thị xã Sông Cầu) bằng phiếu hỏi theo thang đo Likert 4 mức độ, kết hợp phỏng vấn sâu 7 cán bộ quản lý và 8 thuyền trưởng. Quá trình thực nghiệm gần đúng được tiến hành trên 30 ngư dân tại Phường Phú Đông (Thành phố Tuy Hòa) đối với 2 mô đun: xử lý cháy trên tàu và sơ cứu thương tích.

4. Kết quả thực nghiệm gần đúng 02 mô đun cho thấy điều gì?

Dữ liệu kiểm tra đầu vào và đầu ra được phân tích qua SPSS phiên bản 20 cho thấy sự chuyển biến rõ rệt. Điểm trung bình đánh giá kỹ năng của 30 ngư dân ở cả 2 nội dung (thao tác dập lửa bằng bình cứu hỏa/vòi phun và quy trình sơ cứu vết thương, cố định xương, hô hấp nhân tạo) sau bồi dưỡng đều tăng cao so với trước bồi dưỡng, tỷ lệ thực hiện ở mức yếu giảm mạnh và chuyển dịch sang mức khá, tốt.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Trí đã giải quyết trọn vẹn mục tiêu nghiên cứu thông qua việc thiết lập cơ sở lý thuyết và xây dựng chương trình bồi dưỡng năng lực thực hành an toàn trên tàu cá cho người lao động đánh bắt hải sản tại tỉnh Phú Yên. Kết quả nghiên cứu đã chỉ rõ thực trạng hạn chế về kỹ năng an toàn của ngư dân địa phương cũng như những bất cập của chương trình bồi dưỡng truyền thống. Thông qua phương pháp chuyên gia và thực nghiệm gần đúng 02 mô đun trọng điểm, luận án khẳng định tính khả thi và hiệu quả của chương trình đào tạo theo tiếp cận năng lực. Công trình đóng góp thiết thực vào việc bảo vệ an toàn tính mạng cho người lao động biển và phục vụ chiến lược phát triển kinh tế biển bền vững của đất nước.