Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ "Quản lý chất thải nhựa sinh hoạt theo cách tiếp cận kinh tế tuần hoàn tại thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Trịnh Thị Tuyết Dung, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Tài Tuệ và TS. Nguyễn Thị Hạnh Tiên, tại Trường Khoa học Liên ngành và Nghệ thuật, Đại học Quốc gia Hà Nội. Công trình thuộc chuyên ngành Biến đổi khí hậu và phát triển bền vững, mã số đào tạo 9900201.01QTD, hoàn thành vào năm 2025.

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, văn bản luận án nêu rõ sự gia tăng chất thải nhựa (CTN) đang gây áp lực nghiêm trọng lên môi trường và hệ sinh thái toàn cầu. Ngành sản xuất nhựa phát thải khoảng 390 triệu tấn CO2 tương đương (tCO2tđ) vào năm 2018 (Barra và cộng sự, 2018), đồng thời lượng rác nhựa tích tụ trong đại dương ước tính khoảng 78,4 nghìn tấn, bao phủ diện tích 1,6 triệu km2 (Lebreton và cộng sự, 2017). Trong đó, khoảng 80% rác nhựa đại dương bắt nguồn từ chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH) trên đất liền (McKinsey & Company và Ocean Conservancy, 2015). Khoảng 58-62% CTN toàn cầu bị chôn lấp trực tiếp hoặc thải bỏ ra môi trường (Geyer và cộng sự, 2017), chỉ 22% được xử lý bằng thiêu đốt thu hồi nhiệt (Jakrawatana và cộng sự, 2023). Tại Việt Nam, quốc gia đứng thứ 7 thế giới về lượng CTN thải ra đại dương (Meijer và cộng sự, 2021), mức tiêu thụ nhựa bình quân đạt 41 kg/người/năm (VPAS, 2021), nhưng tỷ lệ tái chế năm 2019 chỉ đạt khoảng 33%, dẫn đến khoảng 2,62 triệu tấn nhựa bị thải bỏ mỗi năm mà không qua tái chế (Ngân hàng Thế giới, 2022b).

Thành phố Tuy Hòa là đô thị loại II ven biển thuộc tỉnh Phú Yên, mang đặc trưng của các đô thị nhỏ khu vực duyên hải miền Trung. Địa phương đã ban hành Quyết định số 2179/QĐ-UBND ngày 28/12/2020 phê duyệt Kế hoạch hành động quản lý rác thải nhựa đại dương đến năm 2030 với mục tiêu đến năm 2025 giảm 30% lượng chất thải nhựa thải ra môi trường. Tuy nhiên, hoạt động quản lý tại đây vẫn vận hành theo mô hình kinh tế tuyến tính, tập trung xử lý cuối đường ống tại các bãi chôn lấp, gây nguy cơ rò rỉ rác nhựa ra môi trường biển. Khoảng trống nghiên cứu thực tế tại Việt Nam là các nghiên cứu về kinh tế tuần hoàn (KTTH) cho chất thải nhựa sinh hoạt (CTNSH) quy mô hộ gia đình tại các đô thị ven biển còn thiếu hụt, đặc biệt là dữ liệu kiểm toán chi tiết từng dòng nhựa và định lượng rò rỉ ra môi trường nước.

Luận án xác định 03 mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  • MT1: Xây dựng được khung lý thuyết về quản lý CTNSH theo khung R từ cách tiếp cận KTTH.
  • MT2: Đánh giá được hiện trạng phát sinh và quản lý CTNSH theo cách tiếp cận KTTH tại thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.
  • MT3: Đề xuất được một số giải pháp nhằm tăng tính tuần hoàn trong quản lý CTNSH tại thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.

Hệ thống câu hỏi nghiên cứu tương ứng bao gồm:

  • CH1: Quản lý CTNSH theo KTTH có đạt được tính bền vững và hiệu quả không?
  • CH2: Hiện trạng phát sinh và quản lý CTNSH theo KTTH tại thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên như thế nào?
  • CH3: Giải pháp nào góp phần hỗ trợ quá trình quản lý CTNSH theo cách tiếp cận KTTH tại thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên?

Tác giả đặt ra các giả thuyết nghiên cứu:

  • GT1: Tiếp cận KTTH là cách thức để giải quyết vấn đề quản lý CTNSH.
  • GT2.1: Mức độ phát sinh CTNSH tại địa bàn ở mức thấp.
  • GT2.2: Người dân đã thực hiện quản lý CTNSH theo KTTH ở mức độ thấp.
  • GT2.3: Yếu tố giới tính, tuổi, số năm đi học trung bình, thu nhập trung bình, nhận thức, tài chính, tâm lý đổ lỗi trách nhiệm có ảnh hưởng đến ý định thực hiện quản lý CTN theo khung R.
  • GT2.4: Hộ gia đình có vai trò quan trọng nhất trong việc thực hiện quản lý CTNSH theo KTTH.
  • GT3: Cần thực hiện đồng bộ các giải pháp về chính sách, tăng cường nhận thức của các bên liên quan.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động quản lý CTRSH phát sinh từ hộ gia đình. Phạm vi không gian nghiên cứu là thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên; trong đó nội dung kiểm toán CTNSH thực hiện trực tiếp tại 03 đơn vị hành chính cấp xã gồm phường 7, xã Bình Ngọc và xã Hòa Kiến. Phạm vi thời gian nghiên cứu kéo dài từ năm 2021 đến tháng 4 năm 2024. Phạm vi nội dung tập trung vào CTNSH phát sinh từ hộ gia đình (không phân tích chất thải từ y tế, công nghiệp, nông nghiệp, trường học hay bệnh viện) và xem xét dưới góc độ thực hiện khung R theo nguyên tắc của KTTH.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã thực hiện tổng quan hệ thống kết hợp phương pháp phân tích thư mục trắc lượng khoa học thông qua phần mềm VOSviewer. Bộ dữ liệu tổng quan gồm 555 công trình công bố trên các tạp chí quốc tế tính đến tháng 2/2024 (bao gồm 195 bài tổng quan và 360 bài báo nghiên cứu). Kết quả mạng lưới từ khóa xác lập 04 cụm chủ đề trung tâm gồm: kinh tế tuần hoàn (circular economy), quản lý chất thải (waste management), chất thải nhựa (plastic waste) và hộ gia đình (household). Tiếp theo đó là các nhóm từ khóa về ô nhiễm nhựa (plastic pollution), tính bền vững (sustainability), tái chế (recycle) và phân hủy sinh học (biodegradation).

Các hướng nghiên cứu trước đây được luận án điểm lại và phân loại theo các chủ đề:

  • Hướng nghiên cứu về KTTH cho vật liệu nhựa và biến đổi khí hậu: Các báo cáo của Quỹ Ellen MacArthur (EMF, 2012, 2015, 2018, 2019, 2021), Cơ quan Môi trường Châu Âu (EEA, 2021), The Pew Charitable Trusts và Systemiq (2020), cùng nghiên cứu của Trung tâm Luật Môi trường Quốc tế (Hamilton và Feit, 2019) đã chứng minh chuỗi giá trị nhựa làm tăng phát thải khí nhà kính (KNK). Ford và cộng sự (2022) làm rõ ba mối liên hệ giữa biến đổi khí hậu và ô nhiễm nhựa. King và Locock (2022) phân tích 391 bài báo chỉ ra xu hướng nghiên cứu KTTH tập trung mạnh vào khâu tái chế, tương đồng với nhận định của Johansen và cộng sự (2022) khi phân loại vòng đời nhựa thành 5 nhóm công đoạn.
  • Hướng nghiên cứu về mô hình kỹ thuật và rào cản KTTH: Ramli và cộng sự (2024) tổng hợp 16 bài viết về các chiến lược KTTH gồm phân tích dòng vật liệu (MFA), trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR), đánh giá vòng đời sản phẩm (LCA), phân tích mạng lưới (NET) và khung mô hình khái niệm (CMF). Hsu và cộng sự (2021) nghiên cứu các khâu tuần hoàn nhựa tại Liên minh Châu Âu; Dijkstra và cộng sự (2020) chỉ ra mô hình kinh doanh tuần hoàn giải quyết 55% mức độ tái chế nhưng gặp rào cản về chi phí; Almadhi và cộng sự (2023) so sánh các phương án chôn lấp, đốt thu hồi năng lượng, tái chế cơ học và nhiệt phân. Các nghiên cứu đánh giá rào cản chuyển đổi sang KTTH còn có Centobelli và cộng sự (2021), de Jesus và Mendonça (2018), van Langen và cộng sự (2021), Hossain và cộng sự (2022) tại Úc, Hidalgo-Crespo và cộng sự (2020) tại Ấn Độ.
  • Hướng nghiên cứu hành vi phân loại và các bên liên quan: Satriyono và Ramadhani (2023) ứng dụng lý thuyết hành vi có kế hoạch phân tích ý định tuần hoàn nhựa; các công trình của Zheng và cộng sự (2023), Babazadeh và cộng sự (2023), Ao và cộng sự (2022), Ma và cộng sự (2020), Thakur và Onwubu (2024) áp dụng mô hình phương trình cấu trúc (SEM) để giải thích hành vi phân loại chất thải tại nguồn ở các khu vực địa lý khác nhau.
  • Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam: Báo cáo hiện trạng phát sinh CTN năm 2022 của Nguyễn Tài Tuệ và cộng sự (2023); chuỗi báo cáo về ô nhiễm nhựa và lộ trình giảm thiểu của Ngân hàng Thế giới (El-Arini và cộng sự, 2022; WB, 2022a, 2022b); nghiên cứu sản phẩm thay thế của Nguyễn Võ Châu Ngân (2017); nghiên cứu tiềm năng KTTH ngành nhựa của Bùi Lê Thanh Khiết và cộng sự (2023), Nguyễn Minh Khoa (2023), Trịnh Thị Tuyết Dung và Nguyễn Thị Đào (2020); mô hình 7R của Trần Văn Học (2021); nghiên cứu dòng rò rỉ nhựa tại Hà Tĩnh của Nguyễn Quỳnh Hương và cộng sự (2023), Dương Thị Quỳnh Hoa và cộng sự (2023); kiểm toán chất thải tại Đà Nẵng của Pham Phu Song Toan và cộng sự (2019).

Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định là: Hầu hết các nghiên cứu trước đây chỉ khảo sát hành vi phân loại chất thải nói chung hoặc hành vi tiêu dùng sản phẩm thay thế túi ni lông, chưa đánh giá mức độ thực hành một cách toàn diện theo các cấp độ của khung R tại hộ gia đình. Mặt khác, các mô hình giải thích hành vi chưa kết hợp đồng thời nhận thức rủi ro ô nhiễm, tâm lý đổ lỗi trách nhiệm và biến số thị trường sản phẩm nhựa. Tại thành phố Tuy Hòa, chưa có nghiên cứu nào thực hiện kiểm toán trực tiếp tại hộ gia đình để phân loại chi tiết các dòng nhựa có giá trị tái chế cao và thấp, cũng như chưa lượng hóa mức độ rò rỉ CTN ra môi trường nước và tiềm năng giảm phát thải KNK theo các kịch bản tuần hoàn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Về cơ sở lý thuyết, luận án kế thừa khái niệm KTTH của Quỹ Ellen MacArthur (EMF, 2012, 2015), định nghĩa tại Luật Bảo vệ môi trường Việt Nam năm 2020, cùng hệ thống nguyên tắc vận hành từ lý thuyết sinh thái học công nghiệp. Ba nhóm nguyên tắc nòng cốt được tổng hợp gồm: nguyên tắc tuần hoàn vật chất, nguyên tắc hệ thống và nguyên tắc khung R. Trên cơ sở khung 10R của Potting và cộng sự (2017), tác giả tinh chỉnh và xác lập khung R áp dụng riêng cho cấp độ hộ gia đình gồm 05 chiến lược:

  • Từ chối (R0 - Refuse): Chủ động không tiêu dùng hoặc từ chối sản phẩm nhựa dùng một lần.
  • Giảm thiểu (R2 - Reduce): Cắt giảm số lượng sản phẩm nhựa sử dụng hàng ngày.
  • Tái sử dụng (R3 - Reuse): Chuyển giao sản phẩm nhựa đã qua sử dụng nhưng còn nguyên công năng cho cá nhân khác tiếp tục sử dụng.
  • Sử dụng lại với mục đích khác (R7 - Repurpose): Cải biến hình thức vật lý của sản phẩm nhựa thải bỏ để phục vụ công năng mới.
  • Hoạt động hỗ trợ tái chế (R8 - Supporting recycle): Phân loại tại nguồn, làm sạch, thu gom và lưu trữ chất thải nhựa có thể tái chế nhằm cung cấp nguyên liệu cho các cơ sở tái chế.

Khái niệm quản lý được luận án tiếp cận theo định nghĩa của Vũ Dũng và Nguyễn Thị Mai Anh (2013), xem quản lý là sự tác động có chủ đích, có định hướng của chủ thể đến khách thể.

Về cách tiếp cận nghiên cứu, đề tài vận dụng: tiếp cận liên ngành (kết hợp khoa học môi trường, quản lý học, kinh tế học và xã hội học), tiếp cận phát triển bền vững, tiếp cận kinh tế tuần hoàn, tiếp cận phân tích dòng vật liệu (MFA) và tiếp cận các bên liên quan.

Hệ thống phương pháp thu thập dữ liệu gồm có:

  • Phương pháp tổng hợp, kế thừa tài liệu: Kế thừa dữ liệu từ đề tài hợp tác quốc tế giữa Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ Quốc gia (NAFOSTED) và Quỹ Khoa học Quốc gia Thụy Sỹ (SNSF), mã số IZVSZ2.203313 mang tên “Nhân rộng các giải pháp thu hồi chất thải, hướng tới một xã hội tuần hoàn”.
  • Phương pháp quan sát: Khảo sát thực địa hệ thống thu gom, các điểm tập kết rác, bãi chôn lấp và các cơ sở phế liệu trên địa bàn.
  • Phương pháp kiểm toán CTRSH tại hộ gia đình: Thực hiện theo quy trình chuẩn của UN-Habitat (2021) tại 03 địa bàn đại diện (phường 7 đại diện nội thành, xã Bình Ngọc đại diện ven biển/nông nghiệp, xã Hòa Kiến đại diện bán sơn địa), tiến hành thu gom và phân loại, cân đo mẫu rác thải hàng ngày của các hộ dân.
  • Phương pháp điều tra xã hội học: Khảo sát bảng hỏi người dân về kiến thức, nhận thức, thái độ, ý định và thực hành các chiến lược R.
  • Phương pháp tham vấn và phỏng vấn sâu chuyên gia: Phỏng vấn lãnh đạo Sở Tài nguyên và Môi trường Phú Yên, Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố Tuy Hòa, đại diện Hội phụ nữ, đơn vị thu gom chính thức, chủ vựa ve chai và người thu gom phi chính thức.

Hệ thống phương pháp phân tích dữ liệu bao gồm:

  • Phương pháp thống kê mô tả: Xử lý dữ liệu định lượng về khối lượng và thành phần chất thải.
  • Phương pháp tính điểm thực hành Sr: Lượng hóa mức độ đáp ứng các chiến lược R0, R2, R3, R7, R8 của từng hộ gia đình.
  • Phương pháp mô hình hóa dòng thải ước tính rò rỉ: Áp dụng mô hình dòng chảy chất thải để tính lượng nhựa thất thoát ra môi trường nước theo phương pháp của Nguyễn Tài Tuệ và cộng sự (2023).
  • Phương pháp tính toán phát thải KNK tương đương: Sử dụng phương pháp hệ số phát thải quy đổi tCO2tđ theo nguồn nguyên liệu sản xuất nhựa nguyên sinh và nhựa tái chế.
  • Phương pháp phân tích nhân tố khám phá (EFA) và mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM): Kiểm định độ tin cậy thang đo qua hệ số Cronbach's Alpha, phân tích nhân tố và xác định mức độ tác động của các biến hiểu biết (hb), nhận thức rủi ro (Dr), mối quan tâm môi trường (Dc), đổ lỗi trách nhiệm (Dbr), thị trường nhựa (Dma) đến ý định (yd) và hành vi thực hành khung R.
  • Phương pháp phân tích thứ bậc (AHP): Xây dựng ma trận so sánh cặp để xác định trọng số vai trò của các nhóm bên liên quan trong hệ thống quản lý.
  • Phương pháp phân tích ma trận SWOT: Đánh giá điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của hệ thống quản lý CTNSH tại địa phương.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu, cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý chất thải nhựa sinh hoạt theo cách tiếp cận kinh tế tuần hoàn

Chương này tập trung hệ thống hóa 555 công trình nghiên cứu trong và ngoài nước bằng công cụ VOSviewer, chỉ ra các khoảng trống khoa học về quản lý CTN cấp độ hộ gia đình. Tác giả luận giải cơ sở lý luận của KTTH đối với vật liệu nhựa, đối chiếu sự khác biệt bản chất giữa kinh tế tuyến tính (khai thác - sản xuất - tiêu dùng - thải bỏ) và kinh tế tuần hoàn (khép kín chu trình, giảm quy mô dòng vật liệu). Chương 1 chuẩn hóa khung R hộ gia đình gồm 05 chiến lược (R0, R2, R3, R7, R8), khẳng định vai trò của việc phân định khái niệm "hoạt động hỗ trợ tái chế" của người dân với quy trình "tái chế công nghiệp" của nhà máy. Chương này cũng phân tích vai trò của quản lý nhựa theo KTTH trong việc giảm phát thải KNK và đóng góp vào các Mục tiêu Phát triển Bền vững (SDG 6, SDG 7, SDG 8, SDG 12, SDG 15), đồng thời tổng hợp kinh nghiệm quản lý rác nhựa, chính sách EPR tại một số quốc gia như Hàn Quốc, các nước EU và bài học áp dụng cho Việt Nam.

Chương 2: Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 mô tả thiết kế nghiên cứu liên ngành dựa trên 05 cách tiếp cận: liên ngành, phát triển bền vững, kinh tế tuần hoàn, phân tích dòng vật liệu và các bên liên quan. Địa bàn nghiên cứu được làm rõ về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của thành phố Tuy Hòa - một đô thị ven biển đang trong quá trình đô thị hóa nhanh nhưng hạ tầng kỹ thuật môi trường còn hạn chế. Tác giả trình bày chi tiết quy trình thu thập số liệu sơ cấp thông qua kiểm toán chất thải hộ gia đình (phối hợp số liệu đề tài NAFOSTED/SNSF mã số IZVSZ2.203313 tại phường 7, xã Bình Ngọc, xã Hòa Kiến), phương pháp phát phiếu điều tra xã hội học và phỏng vấn bán cấu trúc các bên liên quan. Các công cụ xử lý số liệu được chuẩn hóa gồm: phương pháp ước lượng dòng rò rỉ rác nhựa ra môi trường nước; công thức tính điểm thực hành Sr; quy trình xây dựng thang đo EFA, mô hình SEM; cấu trúc cây phân rã và ma trận so sánh cặp trong phân tích thứ bậc AHP; và ma trận phân tích SWOT.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu về quản lý chất thải nhựa sinh hoạt theo cách tiếp cận kinh tế tuần hoàn tại thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên

Chương 3 trình bày các kết quả thực nghiệm đạt được từ các phân tích định lượng và định tính tại thành phố Tuy Hòa:

  1. Hiện trạng phát sinh và rò rỉ CTNSH: Khối lượng CTNSH phát sinh bình quân tại hộ gia đình thành phố Tuy Hòa đạt mức 0,033 kg/người/ngày. Cơ cấu thành phần chất thải nhựa cho thấy tỷ lệ nhựa có giá trị tái chế thấp chiếm đa số với 54,8%, trong khi nhựa có giá trị tái chế cao chiếm 26,4% tổng lượng CTNSH. Khối lượng chất thải nhựa rò rỉ ra môi trường nước được ước tính ở mức trung bình 0,08 kg/người/năm.
Chỉ tiêu nghiên cứu thực nghiệm Giá trị ghi nhận Đơn vị tính
Lượng phát sinh CTNSH bình quân đầu người 0,033 kg/người/ngày
Tỷ lệ nhựa có giá trị tái chế thấp trong CTNSH 54,8 %
Tỷ lệ nhựa có giá trị tái chế cao trong CTNSH 26,4 %
Lượng CTNSH rò rỉ ra môi trường nước bình quân 0,08 kg/người/năm
Mức giảm phát thải KNK tiềm năng khi tăng tái chế 768,9 - 2676,6 tCO2tđ/năm
  1. Mức độ giảm phát thải khí nhà kính tương đương: Tính toán theo hệ số phát thải cho thấy việc tăng cường thu gom và tái chế toàn bộ lượng CTNSH phát sinh tại thành phố Tuy Hòa giúp cắt giảm lượng phát thải KNK từ 768,9 đến 2676,6 tấn CO2 tương đương mỗi năm so với phương án sản xuất nhựa mới từ nguồn nguyên liệu hóa thạch nguyên sinh.

  2. Mức độ đáp ứng khung R và mô hình cấu trúc SEM: Điểm thực hành quản lý chất thải nhựa theo khung R (Sr) của người dân Tuy Hòa ở mức thấp đến trung bình. Mô hình SEM chỉ ra rằng ý định hành vi (yd) chịu sự tác động cùng chiều của các nhóm biến: hiểu biết về ô nhiễm nhựa và môi trường (hb), nhận thức về nguy cơ đối với sức khỏe và môi trường (Dr), mối quan tâm đến môi trường (Dc), và thị trường sản phẩm nhựa (Dma). Ngược lại, tâm lý đổ lỗi trách nhiệm (Dbr) có tác động tiêu cực đến ý định và hành vi thực hiện các chiến lược R tại hộ gia đình.

  3. Vai trò của các bên liên quan (kết quả AHP): Phân tích thứ bậc AHP xác định hộ gia đình giữ vị trí quan trọng nhất trong việc thực hiện phân loại, giảm thiểu và hỗ trợ tái chế nhựa tại nguồn. Tiếp theo là vai trò điều phối, ban hành chính sách của chính quyền địa phương, vai trò thu gom của doanh nghiệp môi trường đô thị chính thức, và sự đóng góp của lực lượng thu gom phi chính thức (người thu mua phế liệu, vựa ve chai) trong việc chuyển hướng dòng nhựa tái chế.

  4. Nhóm giải pháp đề xuất: Luận án đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ gồm: truyền thông nâng cao nhận thức dựa trên thay đổi tâm lý đổ lỗi; phát triển mô hình quản lý chất thải rắn tổng hợp gắn kết chặt chẽ mạng lưới thu gom chính thức và phi chính thức; hoàn thiện cơ chế thực thi chính sách phân loại rác tại nguồn; và ban hành sổ tay hướng dẫn thực hành 5 chiến lược R (R0, R2, R3, R7, R8) cho các hộ gia đình.

Kết quả và những đóng góp mới

Về mặt lý luận, luận án đã làm rõ cơ sở khoa học về quản lý CTNSH theo cách tiếp cận KTTH ở cấp độ vi mô. Tác giả chuẩn hóa khung R cho hộ gia đình bao gồm: từ chối (R0), giảm thiểu (R2), tái sử dụng (R3), sử dụng lại với mục đích khác (R7) và hoạt động hỗ trợ tái chế (R8). Việc định danh rõ ràng chiến lược "hoạt động hỗ trợ tái chế" (gồm thu gom, phân loại, làm sạch, lưu giữ tại hộ gia đình) thay cho khái niệm tái chế nói chung giúp phản ánh chính xác vai trò chức năng của hộ gia đình, tránh nhầm lẫn với hoạt động tái chế cơ khí/hóa học của khu vực công nghiệp. Mô hình SEM của luận án bổ sung bằng chứng lý thuyết về mối quan hệ giữa nhận thức rủi ro môi trường, trách nhiệm xả thải, tâm lý đổ lỗi trách nhiệm với ý định và hành vi thực hành kinh tế tuần hoàn.

Về mặt thực tiễn, luận án cung cấp bộ số liệu kiểm toán thực nghiệm về CTNSH tại thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên: khối lượng phát sinh bình quân 0,033 kg/người/ngày; tỷ lệ nhựa giá trị tái chế thấp chiếm 54,8%, nhựa giá trị tái chế cao chiếm 26,4%; lượng rò rỉ rác nhựa ra môi trường nước là 0,08 kg/người/năm. Luận án đã lượng hóa lợi ích môi trường của việc quản lý nhựa theo KTTH tại địa bàn, chứng minh khả năng giảm thiểu từ 768,9 đến 2676,6 tCO2tđ mỗi năm nếu tối ưu hóa tái chế thay thế hạt nhựa nguyên sinh. Đồng thời, kết quả AHP đã xác định thứ bậc ưu tiên và vai trò trọng tâm của hộ gia đình và lực lượng phi chính thức trong việc khép kín vòng tuần hoàn vật liệu tại địa phương.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế, văn bản luận án cho thấy:

  • Phạm vi kiểm toán chất thải nhựa tại hộ gia đình mới chỉ thực hiện tại 03 đơn vị hành chính cấp xã (phường 7, xã Bình Ngọc, xã Hòa Kiến) trên địa bàn thành phố Tuy Hòa, chưa bao phủ toàn bộ các xã phường còn lại.
  • Đối tượng nghiên cứu chỉ giới hạn trong chất thải nhựa sinh hoạt phát sinh từ hộ gia đình; chưa đo lường và tính toán dòng chất thải nhựa phát sinh từ các nguồn kinh tế - xã hội quan trọng khác như du lịch ven biển, chợ dân sinh, công viên, nhà hàng khách sạn, trường học, bệnh viện, cơ sở sản xuất công nghiệp và tàu bè nông - ngư nghiệp.
  • Phương pháp tính toán mức giảm phát thải khí nhà kính tương đương mới dừng lại ở việc áp dụng phương pháp hệ số phát thải quy đổi thứ cấp, chưa tiến hành đo đạc thực địa hoặc phân tích đánh giá vòng đời sản phẩm (LCA) chi tiết cho từng cơ sở xử lý và tái chế nhựa trên địa bàn.

Hướng nghiên cứu tiếp theo cần mở rộng kiểm toán rác thải nhựa ở các nguồn phát thải phi sinh hoạt (đặc biệt là dịch vụ du lịch biển và khai thác thủy hải sản), đồng thời ứng dụng kỹ thuật LCA chuyên sâu để đánh giá toàn diện chuỗi cung ứng nhựa tuần hoàn tại vùng duyên hải miền Trung.

Giá trị tham khảo

Kết quả nghiên cứu của luận án cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng và phương pháp luận hữu ích cho các nhóm đối tượng:

  • Cơ quan quản lý nhà nước và chính quyền địa phương: Là tài liệu tham khảo cho Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Phú Yên, Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố Tuy Hòa trong việc điều chỉnh Kế hoạch hành động quản lý rác thải nhựa đại dương đến năm 2030, xây dựng phương án thực thi phân loại rác tại nguồn theo Luật Bảo vệ môi trường 2020.
  • Các nhà nghiên cứu và nghiên cứu sinh: Cung cấp khung lý thuyết 5R cấp hộ gia đình, thang đo kiểm định SEM về các nhân tố tâm lý - nhận thức đối với hành vi tuần hoàn rác nhựa, và quy trình kiểm toán rác thải đô thị ven biển theo chuẩn UN-Habitat.
  • Đơn vị dịch vụ môi trường và tái chế phế liệu: Cung cấp số liệu cơ cấu thành phần nhựa (tỷ lệ nhựa giá trị thấp 54,8% và giá trị cao 26,4%), hỗ trợ tính toán phương án công nghệ thu gom, kết nối mạng lưới ve chai phi chính thức vào chuỗi giá trị thu hồi tài nguyên thứ cấp.

Câu hỏi thường gặp

Khối lượng phát sinh chất thải nhựa sinh hoạt bình quân đầu người tại thành phố Tuy Hòa là bao nhiêu?
Kết quả kiểm toán chất thải tại hộ gia đình cho thấy khối lượng phát sinh CTNSH bình quân đầu người tại thành phố Tuy Hòa đạt trung bình 0,033 kg/người/ngày.

Cơ cấu thành phần chất thải nhựa sinh hoạt tại địa bàn nghiên cứu phân bổ như thế nào?
Trong tổng khối lượng CTNSH phát sinh tại hộ gia đình, loại nhựa có giá trị tái chế thấp chiếm tỷ trọng áp đảo là 54,8%, trong khi nhóm nhựa có giá trị tái chế cao chiếm 26,4%, phần còn lại là các thành phần nhựa khác.

Lượng chất thải nhựa sinh hoạt thất thoát ra môi trường nước tại Tuy Hòa được ước tính là bao nhiêu?
Dựa trên mô hình phân tích dòng chảy chất thải, khối lượng CTNSH từ hộ gia đình bị rò rỉ ra môi trường nước trên địa bàn thành phố Tuy Hòa được ước tính trung bình là 0,08 kg/người/năm.

Việc áp dụng giải pháp tái chế theo kinh tế tuần hoàn tại Tuy Hòa có thể cắt giảm bao nhiêu phát thải khí nhà kính?
Nếu tăng cường thu gom và tái chế CTNSH phát sinh tại thành phố Tuy Hòa thay vì sản xuất từ hạt nhựa thô nguyên sinh, địa phương có thể tiết kiệm được từ 768,9 tấn CO2tđ đến 2676,6 tấn CO2tđ mỗi năm.

Những yếu tố nào tác động đến ý định thực hiện khung R của người dân trong mô hình SEM?
Mô hình cấu trúc SEM chỉ ra các yếu tố tác động tích cực gồm: hiểu biết về ô nhiễm nhựa và môi trường (hb), nhận thức về nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe/môi trường (Dr), mối quan tâm đến môi trường (Dc) và điều kiện thị trường sản phẩm nhựa (Dma); trong khi yếu tố đổ lỗi trách nhiệm (Dbr) có tác động tiêu cực đến ý định hành vi.

Kết luận

Luận án của nghiên cứu sinh Trịnh Thị Tuyết Dung đã hoàn thành việc thiết lập khung lý thuyết quản lý CTNSH theo 05 chiến lược R (R0, R2, R3, R7, R8) phù hợp với cấp độ hộ gia đình trong nền kinh tế tuần hoàn. Nghiên cứu cung cấp hệ thống số liệu kiểm toán thực nghiệm đầu tiên về khối lượng phát sinh (0,033 kg/người/ngày), cơ cấu phân loại giá trị tái chế và tỷ lệ rò rỉ rác nhựa ra môi trường nước (0,08 kg/người/năm) tại thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên. Kết quả mô hình SEM và AHP đã làm rõ tác động của các nhân tố nhận thức, tâm lý đổ lỗi cũng như xác định vai trò hạt nhân của hộ gia đình cùng mạng lưới thu gom phế liệu. Công trình mang lại luận cứ khoa học thực tiễn phục vụ hoạch định chính sách môi trường đô thị ven biển và lượng hóa tiềm năng giảm phát thải khí nhà kính thích ứng với biến đổi khí hậu.