phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, mục lục, luận văn chia ra thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về bồi dƣỡng công chức cho cơ quan hành chính Chƣơng 2: Thực trạng bồi dƣỡng công chức cho cơ quan hành chính trực thuộc Thành phố Hà Nội Chƣơng 3: Giải pháp bồi dƣỡng công chức cho cơ quan hành chính trực thuộc Thành phố Hà Nội đến năm 2025 10 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BỒI DƢỠNG CÔNG CHỨC CHO CƠ QUAN HÀNH CHÍNH 1. Bồi dƣỡng công chức 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm về công chức và cơ quan hành chính Hệ thống công chức bắt đầu hình thành và phát triển ở Châu Âu phong kiến.
Tuy nhiên, thuật ngữ công chức chính thức đƣợc ra đời thuộc nƣớc Anh trong thế kỷ XIX (năm 1847) [27]. Cho đến nay, các nhà nghiên cứu đã đƣa ra rất nhiều khái niệm về công chức với các cách tiếp cận khác nhau nhƣng đều tập trung vào những đặc điểm chung là thực hiện các hoạt động công vụ, thực thi pháp luật và hƣởng lƣơng từ ngân sách quốc gia. Tại Việt Nam, theo Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức sửa đổi 2019 chính thức có hiệu lực từ ngày 1/7/2020 quy định cán bộ, công chức, viên chức nhƣ sau: Cán bộ là công dân Việt Nam, đƣợc bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nƣớc, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ƣơng, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ƣơng (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc. Viên chức là công dân Việt Nam đƣợc tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc thuộc đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hƣởng lƣơng từ quỹ lƣơng của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật.
Công chức là công dân Việt Nam, đƣợc tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tƣơng ứng với vị trí việc làm trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nƣớc, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ƣơng, 11 cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an, trong biên chế và hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc”. Nhƣ vậy, so với quy định cũ: Đối tƣợng là ngƣời giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý trong đơn vị sự nghiệp công lập từ thời điểm 1/7/2020 không còn đƣợc xác định là công chức. Cơ quan hành chính, tên gọi đầy đủ là cơ quan hành chính Nhà nƣớc, Cơ quan hành chính nhà nƣớc là bộ phân hợp thành của bộ máy nhà nƣớc, đƣợc thành lập để thực hiện chức năng hành pháp (quản lý hành chính nhà nƣớc). Nghiên cứu địa vị pháp lý hành chính của cơ quan hành chính nhà nƣớc nhằm xác định vai trò của cơ quan hành chính nhà nƣớc với tƣ cách là chủ thể của pháp luật hành chính và chủ thể của quan hệ pháp luật hành chính trong quản lý hành chính nhà nƣớc.
Khi tham gia vào quan hệ pháp luật hành chính, tùy từng trƣờng hợp cụ thể mà cơ quan hành chính nhà nƣớc sẽ là chủ thể quản lý hành chính nhà nƣớc tức là chủ thể mang quyền lực nhà nƣớc hay là đối tƣợng quản lý hành chính nhà nƣớc tức chủ thể không mang quyền lực hành chính. Tuy nhiên, dù ở tƣ cách nào thì cơ quan hành chính nhà nƣớc cũng là chủ thể chủ yếu, quan trọng nhất trong quan hệ pháp luật hành chính. Căn cứ vào phạm vi lãnh thổ, cơ quan hành chính nhà nƣớc đƣợc chia thành hai loại là cơ quan hành chính nhà nƣớc ở Trung ƣơng và cơ quan hành chính nhà nƣớc ở địa phƣơng. Cơ quan hành chính nhà nƣớc ở Trung ƣơng bao gồm: Chính Phủ, các Bộ, cơ quan ngang bộ.
Đây là những cơ quan hành chính nhà nƣớc có chức năng quản lý hành chính nhà nƣớc trên lãnh thổ nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đóng vai trò quan trọng trong việc chỉ đạo, điều hành các cơ quan hành chính nhà nƣớc ở địa phƣơng. Phần lớn các văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan hành chính nhà nƣớc ở Trung ƣơng ban hành có hiệu lực trong cả nƣớc. Cơ quan hành chính nhà nƣớc ở địa 12 phƣơng, gồm: Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, ủy ban nhân dân cấp huyện, ủy ban nhân dân cấp xã. Những cơ quan hành chính nhà nƣớc ở địa phƣơng có chức năng quản lý hành chính nhà nƣớc trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trên phạm vi lãnh thổ tƣơng ứng đƣợc giới hạn bởi sự phân chia địa giới hành chính.
Các văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan hành chính nhà nƣớc ở địa phƣơng ban hành thƣờng chỉ có hiệu lực trong phạm vi lãnh thổ thuộc quyền quản lý hành chính nhà nƣớc của cơ quan hành chính nhà nƣớc địa phƣơng đó. Khái niệm về bồi dưỡng Thuật ngữ "bồi dƣỡng" hiện nay đƣợc sử dụng rộng rãi. Tuy nhiên, để hiểu thế nào là bồi dƣỡng nên đƣợc hiểu một cách nhất quán. Theo đại từ điển do Nguyễn Nhƣ Ý chủ biên (2011), Bồi dƣỡng- đó là làm cho (1) khỏe thêm, mạnh thêm và (2) tốt hơn, giỏi hơn.
Ngoài ra, bồi dƣỡng là thể hiện một quá trình trải qua việc đào tạo, giáo dục nhằm nâng cao đƣợc kiến thức mới cho công chức đƣợc giữ chức vụ hoặc đang thực thi công tác của một bậc, ngạch nào đó nhất định để có thể sát hạch và đạt yêu cầu. Lúc này công chức nào hoàn thành khóa học bồi dƣỡng sẽ nhận đƣợc chứng chỉ để minh chứng cũng nhƣ ghi nhận kết quả đó. Ở một khía cạnh khác thì bồi dƣỡng còn đƣợc hiểu là một quá trình mà một ai đó sẽ cập nhật kiến thức cùng với kỹ năng để nâng cao nghề nghiệp và quá trình này sẽ chỉ đƣợc thực hiện khi cá nhân đó hoặc tổ chức có nhu cầu nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trƣờng lao động. Theo Từ điển Tiếng Việt của Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn Quốc gia, 2005: “Bồi dƣỡng: làm cho năng lực hoặc phẩm chất tăng thêm”.
Bồi dƣỡng là quá trình bổ sung, cập nhật, nâng cao kiến thức và kỹ năng làm việc cho ngƣời đƣợc bồi dƣỡng. Bồi dƣỡng là công việc thƣờng đƣợc tiến hành sau đào tạo, nó bổ sung thêm kiến thức chuyên môn cho ngƣời lao động trong quá trình làm việc trên nền tảng kiến thức đã đƣợc đào tạo. 13 Theo quy định thuộc Khoản 2 Điều 3 Quy chế đào tạo, bồi dƣỡng công chức, viên chức Bộ Tƣ pháp ban hành kèm theo Quyết định 273/QĐ-BTP năm 2018 thì: “Bồi dƣỡng” là hoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng làm việc. Đối tƣợng bồi dƣỡng công chức là tất cả công chức làm việc trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nƣớc, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ƣơng, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an, trong biên chế và hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc.
Từ các cách tiếp cận trên, có thể đƣa ra một quan niệm về bồi dƣỡng nhƣ sau: bồi dƣỡng đƣợc hiểu là giai đoạn nâng cao kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp trên cơ sở của mặt bằng kiến thức đã đƣợc đào tạo trƣớc đó. Bồi dƣỡng có mục đích chung là làm cho ngƣời lao động có năng lực công tác. Bồi dƣỡng chính là việc tổ chức những cơ hội cho ngƣời học đƣợc học tập, nhằm giúp cho tổ chức đạt đƣợc mục tiêu của mình bằng việc tăng năng lực, làm gia tăng giá trị của nguồn lực cơ bản quan trọng nhất là con ngƣời, là cán bộ, công chức trong tổ chức. Bồi dƣỡng tác động đến con ngƣời trong tổ chức, làm cho họ có thể làm việc tốt hơn, cho phép họ sử dụng tốt hơn các khả năng, tiềm năng vốn có của họ, phát huy hết năng lực làm việc của họ.
Yêu cầu đối với bồi dưỡng công chức Mục tiêu của việc bồi dƣỡng công chức nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng, phƣơng pháp thực hiện nhiệm vụ trong hoạt động công vụ của công chức, góp phần xây dựng đội ngũ công chức chuyên nghiệp, có phẩm chất đạo đức tốt, có bản lĩnh chính trị vững vàng và năng lực, đáp ứng yêu cầu phục vụ nhân dân, sự nghiệp phát triển của Thủ đô. 14 Với mục tiêu đó, việc bồi dƣỡng công chức phải đặt ra yêu cầu đối với cơ quan quản lý và đối với công chức tham gia các khóa bồi dƣỡng: Bồi dƣỡng phải căn cứ vào tiêu chuẩn ngạch công chức gắn với công tác sử dụng, quản lý công chức phù hợp với kế hoạch bồi dƣỡng và nhu cầu xây dựng, phát triển nguồn nhân lực của cơ quan, đơn vị. Thực hiện phân công, phân cấp trong tổ chức bồi dƣỡng theo tiêu chuẩn ngạch công chức; kết hợp phân công và cạnh tranh trong tổ chức bồi dƣỡng theo yêu cầu của vị trí việc làm. Việc lựa chọn chƣơng trình bồi dƣỡng theo yêu cầu vị trí việc làm của công chức.
Nghị định số 101/2017/NĐ-CP ngày 1 tháng 9 năm 2017 của Chính phủ về đào tạo, bồi dƣỡng cán bộ, công chức, viên chức: Điều 4. Yêu cầu: “Việc đào tạo cán bộ, công chức, viên chức thực hiện theo quy định của pháp luật về giáo dục và đào tạo, phù hợp với kế hoạch đào tạo, bồi dƣỡng, đáp ứng quy hoạch nguồn nhân lực của cơ quan, đơn vị”. Đây là yêu cầu chung về đào tạo, bồi dƣỡng cán bộ, công chức, viên chức. Yêu cầu bồi dƣỡng ở nƣớc ngoài bằng nguồn ngân sách nhà nƣớc nhƣ sau: “1.
Quốc gia đƣợc chọn để cử cán bộ, công chức, viên chức đến học tập phải đáp ứng những yêu cầu sau: a) Có nền hành chính hiện đại, có kinh nghiệm quản lý về lĩnh vực cần học tập, nghiên cứu và có thể áp dụng ở Việt Nam; b) Cơ sở đào tạo, bồi dƣỡng có các điều kiện học tập, nghiên cứu, phƣơng pháp giảng dạy đáp ứng đƣợc mục đích, nội dung, chƣơng trình của khóa bồi dƣỡng.