Chương 1: Cơ sở khoa học và kinh nghiệm thực tiễn bồi dƣỡng công chức cấp xã. Chương 2: ồi dƣỡng công chức cấp xã trên địa bàn huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai. Chương 3: Định hƣớng và giải pháp nâng cao chất lƣợng bồi dƣỡng công chức cấp xã trên địa bàn huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai. 9 Chƣơng 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN BỒI DƢỠNG CÔNG CHỨC CẤP XÃ 1.
Cấp xã và công chức cấp xã 1. Cấp xã Các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nƣớc đƣợc thực hiện thông qua hệ thống tổ chức bộ máy Nhà nƣớc. Các cơ quan Nhà nƣớc chính là một bộ phận quan trọng cấu thành của bộ máy Nhà nƣớc. Ở Việt Nam, cơ quan quản lý Nhà nƣớc bao gồm: + Cơ quan quyền lực Nhà nƣớc: bao gồm Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp ở địa phƣơng; + Cơ quan hành chính Nhà nƣớc (gồm Chính phủ, bộ, các cơ quan ngang bộ và Ủy ban nhân dân các cấp, cơ quan chuyên môn thuộc UBND.
+ Toà án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân các cấp. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả tập trung đi vào loại cơ quan hành chính Nhà nƣớc. Một đặc điểm nổi bật của cơ quan hành chính Nhà nƣớc đó là có quan hệ trực thuộc dọc, ngang tạo thành một hệ thống thống nhất, theo thứ bậc chặt chẽ. Hoạt động của cơ quan hành chính Nhà nƣớc đƣợc thực hiện thƣờng xuyên, liên tục nhằm duy trì trật tự xã hội và thúc đẩy sự phát triển của xã hội.
Ngoài bộ máy thực hiện chức năng quản lý hành chính Nhà nƣớc ở Trung ƣơng, bộ máy hành chính địa phƣơng ở nƣớc ta chia thành 3 cấp: cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã. Hệ thống tổ chức hành chính Nhà nƣớc ở địa phƣơng có vị trí, vai trò, chức năng rất quan trọng, đó là chức năng quản lý Nhà nƣớc trong phạm vi lãnh thổ. Và trong mỗi cấp hành chính, nhiệm vụ và quyền hạn đƣợc quy định cụ thể trong pháp luật. Có thể nhận thấy, sự khác 10 biệt tƣơng đối rõ nét ở ba cấp chính quyền trong tổ chức hành chính Nhà nƣớc ở địa phƣơng nƣớc ta.
Cụ thể là: Chính quyền cấp tỉnh: thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình chủ yếu thông qua hoạt động hoạch định, xây dựng quy hoạch tổng thể, chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội cho toàn tỉnh, chỉ đạo thực hiện và kiểm tra các hoạt động diễn ra trong từng lĩnh vực. Điều này đƣợc thể hiện rất rõ trong luật Tổ chức chính quyền địa phƣơng 2015. Ví dụ: trong các lĩnh vực quản lý Nhà nƣớc của chính quyền cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân tỉnh thực hiện một trong những nhiệm vụ, quyền hạn: “Tổ chức thực hiện ngân sách tỉnh, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, phát triển công nghiệp, xây dựng, thƣơng mại, dịch vụ, du lịch, nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, mạng lƣới giao thông, thủy lợi; thực hiện các biện pháp quản lý, sử dụng đất đai, rừng núi, sông hồ, tài nguyên nƣớc, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác; thực hiện các biện pháp phòng, chống thiên tai, bảo vệ môi trƣờng trên địa bàn tỉnh trong phạm vi đƣợc phân quyền. Trong lĩnh vực của địa phƣơng, Ủy ban nhân dân tỉnh: “Xây dựng và tổ chức thực hiện các chƣơng trình, dự án, đề án của tỉnh đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; Thực hiện các biện pháp xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân trên địa bàn tỉnh; chỉ đạo thực hiện kế hoạch xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc trên địa bàn tỉnh; tổ chức giáo dục quốc phòng, an ninh và công tác quân sự địa phƣơng; xây dựng và hoạt động tác chiến của bộ đội địa phƣơng, dân quân tự vệ; xây dựng lực lƣợng dự bị động viên và huy động lực lƣợng bảo đảm yêu cầu nhiệm vụ theo quy định của pháp luật; xây dựng phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc ở địa phƣơng”.
Đối với chính quyền cấp huyện: việc thực thi nhiệm vụ, quyền hạn thông qua cả hoạt động hoạch định và thực thi các chính sách. Đây là cấp trung gian trong hệ thống tổ chức hành chính Nhà nƣớc địa phƣơng, là cầu 11 nối giữa cấp tỉnh và cấp xã. Do vậy, có thể thấy đội ngũ cán bộ, công chức cấp huyện vừa là những ngƣời trực tiếp triển khai, hƣớng dẫn thực hiện chủ trƣơng, chính sách của Đảng và Nhà nƣớc về quản lý kinh tế - xã hội trên địa bàn huyện, vừa là những ngƣời xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hàng năm cho địa phƣơng mình. Chẳng hạn, trong việc thực hiện các nhiệm vụ quản lý Nhà nƣớc tại địa phƣơng, Ủy ban nhân dân huyện có nhiệm vụ, quyền hạn: “Tổ chức thực hiện ngân sách huyện; thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, phát triển công nghiệp, xây dựng, thƣơng mại, dịch vụ, du lịch, nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, mạng lƣới giao thông, thủy lợi, xây dựng điểm dân cƣ nông thôn; quản lý và sử dụng đất đai, rừng núi, sông hồ, tài nguyên nƣớc, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, tài nguyên thiên nhiên khác; bảo vệ môi trƣờng trên địa bàn huyện theo quy định của pháp luật.
Hay có nhiệm vụ: “Thực hiện các nhiệm vụ về tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật, xây dựng chính quyền và địa giới hành chính, giáo dục, đào tạo, khoa học, công nghệ, văn hóa, thông tin, thể dục, thể thao, y tế, lao động, chính sách xã hội, dân tộc, tôn giáo, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, hành chính tƣ pháp, bổ trợ tƣ pháp và các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật”. Điều này đặt ra những yêu cầu về trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ, công chức cấp huyện phải có kiến thức tổng hợp, có kinh nghiệm thực tiễn và nắm chắc nghiệp vụ công tác. Có nhƣ vậy, chức năng vừa hoạch định, vừa thực thi nhiệm vụ mới đảm bảo có hiệu quả. Chính quyền cấp xã (xã, phường, thị trấn): Là cấp cơ sở trong cơ cấu tổ chức hành chính Nhà nƣớc địa phƣơng ở nƣớc ta.
Đây là cấp quan trọng nhất, đồng thời là cấp gần dân nhất, trực tiếp triển khai, thực thi các chính sách của Đảng và Nhà nƣớc, nội dung văn bản pháp luật tới ngƣời dân dựa trên sự chỉ đạo, kiểm tra của cấp trên trực tiếp và thực hiện theo những chƣơng trình, kế hoạch do cấp trên trực tiếp xây dựng nên. Trong việc thực hiện các nhiệm vụ 12 quản lý của chính quyền thì cấp xã đảm nhận nhiều nhiệm vụ, quyền hạn quan trọng. Trong việc thực thi các nhiệm vụ theo sự phân công, phân cấp thì đối với ủy ban nhân dân xã thực hiện nhiệm vụ quyền hạn sau: “Xây dựng, trình Hội đồng nhân dân xã quyết định các nội dung quy định tại các khoản 1, 2 và 4 Điều 33 của Luật Chính quyền địa phƣơng năm 2015 và tổ chức thực hiện các nghị quyết của Hội đồng nhân dân xã; Tổ chức thực hiện ngân sách địa phƣơng; Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do cơ quan Nhà nƣớc cấp trên phân cấp, ủy quyền cho Ủy ban nhân dân xã” [40, Điều 35]. Đối với ủy ban nhân dân phƣờng, nhiệm vụ, quyền hạn: “Xây dựng, trình Hội đồng nhân dân phƣờng quyết định các nội dung quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 61 của luật này và tổ chức thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân phƣờng; Tổ chức thực hiện ngân sách địa phƣơng; Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do cơ quan Nhà nƣớc cấp trên phân cấp, ủy quyền.
Đối với thị trấn thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn: “Xây dựng, trình Hội đồng nhân dân thị trấn quyết định các nội dung quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 68 của luật này và tổ chức thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân thị trấn; Tổ chức thực hiện ngân sách địa phƣơng; Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do cơ quan Nhà nƣớc cấp trên phân cấp, ủy quyền. Từ vị trí, chức năng của chính quyền cấp xã nhƣ trên cũng đặt ra những yêu cầu về trình độ chuyên môn nghiệp vụ tƣơng ứng của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã, phƣờng, thị trấn. Họ phải là những ngƣời am hiểu các vấn đề kinh tế - xã hội, khả năng nhận thức đúng và hiểu đúng các chính sách của Đảng và Nhà nƣớc, các văn bản quy phạm pháp luật để thực thi một cách có hiệu quả nhất. Nhƣ vậy, có thể thấy ở mỗi cấp chính quyền, tuỳ vào nhiệm vụ và quyền hạn đòi hỏi đội ngũ cán bộ, công chức - những ngƣời có nghĩa vụ, trách 13 nhiệm thực hiện những nhiệm vụ ấy cần phải đáp ứng đƣợc những yêu cầu nhất định về năng lực chuyên môn, tƣ tƣởng chính trị, đạo đức công chức.
Đây cũng là yếu tố ảnh hƣởng cần đƣợc xét đến trong hoạt động đào tạo, bồi dƣỡng để nâng cao chất lƣợng đội ngũ cán bộ, công chức, phù hợp với đặc thù từng cấp chính quyền. Đối với từng cấp, từng đối tƣợng đào tạo, bồi dƣỡng cần phải xây dựng nội dung, chƣơng trình đào tạo, bồi dƣỡng cho phù hợp, đáp ứng yêu cầu công việc trong hiện tại và cả tƣơng lai. Xét ở góc độ tổng thể thì đội ngũ cán bộ, công chức ở địa phƣơng có vai trò đặc biệt quan trọng. Điều này đã đƣợc xác định rõ trong Quyết định số 163/QĐ-TTg của Thủ tƣớng chính phủ về phê duyệt kế hoạch đào tạo, bồi dƣỡng cán bộ, công chức, viên chức giai đoạn 2016-2025 “Tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về chất lƣợng và hiệu quả đào tạo, bồi dƣỡng, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức chuyên nghiệp có đủ phẩm chất, trình độ và năng lực, đáp ứng yêu cầu phục vụ nhân dân, sự nghiệp phát triển của đất nƣớc và hội nhập quốc tế” [48].
Do đó, tập trung đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dƣỡng cán bộ, công chức, nhất là đối với công chức cấp xã sẽ góp phần đƣa nền hành chính cơ sở nƣớc ta ngày một vững mạnh hơn. Công chức cấp xã 1. Khái niệm, chức danh công chức cấp xã Tại Điều 4 Luật Cán bộ, công chức năm 2008 quy định: “Công chức xã là công dân Việt Nam đƣợc tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hƣởng lƣơng từ ngân sách Nhà nƣớc” [39; tr.