Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của tổ chức thực hiện pháp luật về bồi dưỡng công chức. Khái niệm công chức và bồi dưỡng công chức. *Công chức Công chức là một thuật ngữ mang tính lịch sử - xã hội.
Quan niệm về công chức ở mỗi quốc gia, mỗi thời kỳ khác nhau phụ thuộc vào đặc thù của hệ thống chính trị, cách thức tổ chức bộ máy và lịch sử, văn hóa dân tộc mỗi quốc gia. Ở Việt Nam, khái niệm công chức được hình thành và hoàn thiện gắn liền với sự phát triển của nền hành chính nhà nước. Theo Từ điển tiếng Việt, “Công chức là người được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong cơ quan nhà nước, hưởng lương từ ngân sách nhà nước" [25, tr. Công chức có nghĩa vụ chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thừa hành công vụ của mình và có trách nhiệm liên quan đến việc thi hành công vụ của cấp dưới quyền.
Luật Cán bộ, công chức năm 2008 đã đưa ra khái niệm cụ thể về công chức “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được đảm bảo từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật” [26, tr1-2]. Đến Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật 10 Cán bộ, công chức và Luật viên chức năm 2019, có hiệu lực từ ngày 01/7/2020 thì khái niệm Công chức được hiểu thống nhất như sau: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước” [28, tr. Từ định nghĩa trên, có thể thấy một số đặc điểm của công chức, đó là: Thứ nhất, về tính chất công việc của công chức: Công chức là người làm việc thường xuyên trong các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội nhất định và có tính chuyên môn nghiệp vụ rõ rệt. Tính thường xuyên thể hiện ở việc tuyển dụng là không giới hạn về thời gian.
Khi đã được tuyển dụng vào một ngạch, chức danh, chức vụ thì một người là công chức sẽ làm việc thường xuyên, liên tục. Tính chuyên môn, nghiệp vụ được thể hiện là công chức được xếp vào một ngạch. Ngạch là tên gọi thể hiện thứ bậc về năng lực và trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của công chức. Ngạch công chức bao gồm: Chuyên viên cao cấp và tương đương; chuyên viên chính và tương đương; chuyên viên và tương đương; cán sự và tương đương; nhân viên.
Thứ hai, về con đường hình thành công chức Có hai con đường hình thành công chức là thông qua tuyển dụng và bổ nhiệm. Việc tuyển dụng công chức do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền tiến hành căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ, vị trí việc làm và chỉ tiêu biên chế được giao. Cơ quan thực hiện việc tuyển dụng công chức bao gồm những cơ quan được quy định tại Khoản 6 Điều 1 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật cán bộ, công chức và Luật viên chức. Đó là: Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán nhà nước; Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Chủ tịch nước; Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc chính phủ, tổ chức do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ 11 thành lập mà không phải là đơn vị sự nghiệp công lập; Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh; Cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, cơ quan trung ương của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, của tổ chức chính trị - xã hội.
Các cơ quan này đều tiến hành tuyển dụng công chức trong cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc quyền quản lý. Ngoài ra, công chức được bổ nhiệm để giữ một chức vụ lãnh đạo, quản lý cũng là một con đường trực tiếp hình thành công chức. Việc bổ nhiệm công chức giữ một chức vụ lãnh đạo, quản lý phải căn cứ vào nhu cầu, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, đơn vị; tiêu chuẩn, điều kiện của chức vụ lãnh đạo, quản lý. Thẩm quyền, trình tự, thủ tục bổ nhiệm công chức lãnh đạo, quản lý được thực hiện theo quy định của pháp luật và của cơ quan có thẩm quyền.
Thứ ba, về nơi làm việc Nơi làm việc của công chức rất đa dạng, trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước, Tổ chức chính trị – xã hội ở Trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, ở huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh, các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân, Công an nhân dân. Thứ tư, về thời gian công tác Công chức đảm nhiệm công tác từ khi được bổ nhiệm, tuyển dụng cho tới khi nghỉ hưu theo quy định của Bộ luật Lao động. Thứ năm, về chế độ lao động Công chức được biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước (Điều 12 – Luật cán bộ, công chức năm 2008). Khoản 1 Điều 1 Luật sửa đổi Luật Cán bộ, công chức năm 2019 xác định: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước trong: Cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an”.
*Bồi dưỡng công chức 12 Nghị định số 18/2010/NĐ-CP ngày 05/03/2010 của Chính phủ đưa ra khái niệm: “Bồi dưỡng là hoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng làm việc”[4]. Theo Từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên (2010), Bồi dưỡng: “Làm cho tăng thêm sức của cơ thể bằng chất bổ. Làm cho tăng thêm trình độ, năng lực hoặc phẩm chất”. Như vậy, có thể hiểu bồi dưỡng là hoạt động bổ sung, gia tăng, cập nhật thêm những kiến thức mới, phẩm chất nghề nghiệp, kinh nghiệm thực tiễn nhằm giúp người học hoàn thành tốt hơn nhiệm vụ được giao.
Bồi dưỡng là quá trình làm cho người học cập nhật, bổ sung thêm năng lực, phẩm chất. Điều 5 nghị định số 89/2021/NĐ-CP ngày 18 tháng 10 năm 2021 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 101/2017/NĐ-CP ngày 01 tháng 9 năm 2017 của Chính phủ về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức quy định hình thức bồi dưỡng: “1. Bồi dưỡng theo tiêu chuẩn ngạch công chức, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức. Bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức vụ, chức danh lãnh đạo, quản lý.
Bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức vụ, chức danh cán bộ, công chức cấp xã. Bồi dưỡng theo yêu cầu vị trí việc làm”[8]. Và quy định nội dung bồi dưỡng: 1. Lý luận chính trị.
Kiến thức quốc phòng và an ninh. Kiến thức, kỹ năng quản lý nhà nước. Kiến thức, kỹ năng theo yêu cầu vị trí việc làm”. Mục tiêu của bồi dưỡng công chức là trang bị kiến thức về: (1) Lý luận chính trị, (2) Kiến thức quốc phòng và an ninh, (3) Kiến thức, kỹ năng quản lý nhà nước (4) Kiến thức, kỹ năng theo yêu cầu vị trí việc làm [8].
Từ những quan niệm trên, có thể hiểu: Bồi dưỡng công chức là quá trình tổ chức học tập cho đội ngũ công chức nhằm trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng, thái độ làm việc giúp họ thực hiện tốt hơn nhiệm vụ được giao. Tổ chức thực hiện pháp luật về bồi dưỡng công chức *Khái niệm pháp luật về bồi dưỡng công chức Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin cho rằng, cũng như nhà nước, pháp luật là sản phẩm của sự phát triển xã hội. Pháp luật và nhà nước luôn có mối quan hệ khăng khít, cùng xuất hiện, cùng tồn tại và phát triển. Nhà nước là một tổ chức đặc 13 biệt của quyền lực chính trị, nhưng quyền lực đó chỉ có thể được triển khai và phát huy có hiệu lực trên cơ sở của pháp luật.
Bởi, pháp luật là “hệ thống quy tắc xử sự chung do nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận và bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội theo mục đích, định hướng của nhà nước” [29, tr. Vì vậy, nhà nước không thể tồn tại và phát huy quyền lực khi thiếu pháp luật; ngược lại pháp luật chỉ phát sinh, tồn tại và có hiệu lực khi dựa trên cơ sở sức mạnh của quyền lực nhà nước. Nhà nước với tư cách là chủ thể quản lý xã hội, tác động tới xã hội bằng phương tiện đặc thù, đó là pháp luật. Pháp luật là ý chí của nhân dân được thể hiện dưới dạng các văn bản quy phạm.
Đối với các quá trình quản lý, pháp luật không chỉ điều chỉnh, tác động mang tính pháp lý lên các quan hệ xã hội, mà còn là một phương tiện quan trọng để hoàn thiện tổ chức quá trình đó. “Xưa nay, pháp luật bao giờ cũng là một trong những biện pháp để khẳng định một chuẩn mực đạo đức và biến nó thành thói quen. Chuẩn mực càng khó bao nhiêu thì vai trò của pháp luật càng quan trọng bấy nhiêu. Vì vậy, không thể buông lỏng pháp luật nếu việc này chưa được chuẩn bị bằng sự tiến bộ đạo đức” [18, tr.