Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC CẤP XÃ 1. Cấp xã và công chức cấp xã 1. Cấp xã Các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước được thực hiện thông qua hệ thống tổ chức bộ máy nhà nước. Các cơ quan nhà nước chính là một bộ phận quan trọng cấu thành của bộ máy nhà nước.
Ở Việt Nam, cơ quan quản lý nhà nước bao gồm: + Cơ quan quyền lực nhà nước: bao gồm Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp ở địa phương; + Cơ quan hành chính nhà nước: bao gồm Chính phủ, bộ, các cơ quan ngang bộ và Uỷ ban nhân dân các cấp, cơ quan chuyên môn thuộc UBND. + Toà án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân các cấp. Ngoài bộ máy thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước ở Trung ương, bộ máy hành chính địa phương ở nước ta chia thành 3 cấp: cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã. Cấp xã hiện nay là tên gọi chung của đơn vị hành chính địa phương trong hệ thống các đơn vị hành chính ở Việt Nam, bao gồm cả xã, phường và thị trấn.
Cấp xã là cấp chính quyền Nhà nước ở cơ sở, có vị trí đặc biệt quan trọng, là cầu nối trực tiếp của hệ thống chính quyền với nhân dân, thực hiện hoạt động quản lý nhà nước trên các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh trật tự ở cơ sở. Đây là cấp quan trọng nhất, đồng thời là cấp gần dân nhất, trực tiếp triển khai, thực thi các chính sách của Đảng và nhà nước, nội dung văn bản pháp luật tới người dân dựa trên sự chỉ đạo, kiểm tra của cấp trên trực tiếp và thực hiện theo những chương trình, kế hoạch do cấp trên trực tiếp xây dựng nên. Trong việc thực hiện các nhiệm vụ quản lý của chính quyền thì cấp xã đảm nhận nhiều nhiệm vụ, quyền hạn quan trọng. 8 Luan van + Trong việc thực thi các nhiệm vụ theo sự phân công, phân cấp thì đối với ủy ban nhân dân xã thực hiện nhiệm vụ quyền hạn sau: “Xây dựng, trình Hội đồng nhân dân xã quyết định các nội dung quy định tại các khoản 1, 2 và 4 Điều 33 của Luật chính quyền địa phương 2015 và tổ chức thực hiện các nghị quyết của Hội đồng nhân dân xã; Tổ chức thực hiện ngân sách địa phương; Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do cơ quan nhà nước cấp trên phân cấp, ủy quyền cho Ủy ban nhân dân xã” [13].
+ Đối với ủy ban nhân dân phường, nhiệm vụ, quyền hạn: “Xây dựng, trình Hội đồng nhân dân phường quyết định các nội dung quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 61 của Luật này và tổ chức thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân phường; Tổ chức thực hiện ngân sách địa phương; Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do cơ quan nhà nước cấp trên phân cấp, ủy quyền”. [13] + Đối với thị trấn thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn: “Xây dựng, trình Hội đồng nhân dân thị trấn quyết định các nội dung quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 68 của Luật này và tổ chức thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân thị trấn; Tổ chức thực hiện ngân sách địa phương; Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do cơ quan nhà nước cấp trên phân cấp, ủy quyền”. Từ vị trí, chức năng của chính quyền cấp xã như trên cũng đặt ra những yêu cầu về trình độ chuyên môn nghiệp vụ tương ứng của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã, phường, thị trấn. Họ phải là những người am hiểu các vấn đề kinh tế - xã hội, khả năng nhận thức đúng và hiểu đúng các chính sách của Đảng và nhà nước, các văn bản quy phạm pháp luật để thực thi một cách có hiệu quả nhất.
Như vậy, có thể thấy ở mỗi cấp chính quyền, tuỳ vào nhiệm vụ và quyền hạn đòi hỏi đội ngũ cán bộ, công chức phải đáp ứng được những yêu cầu nhất định về năng lực chuyên môn, tư tưởng chính trị, đạo đức công chức. Đây cũng là yếu tố ảnh hưởng cần được xét đến trong hoạt động đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, phù hợp với đặc 9 Luan van thù từng cấp chính quyền. Đối với từng cấp, từng đối tượng đào tạo, bồi dưỡng cần phải xây dựng nội dung, chương trình đào tạo, bồi dưỡng cho phù hợp, đáp ứng yêu cầu công việc trong hiện tại và cả tương lai. Xét ở góc độ tổng thể thì đội ngũ cán bộ, công chức ở địa phương có vai trò đặc biệt quan trọng.
Điều này đã được xác định rõ trong Quyết định số 163/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ về phê duyệt kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức giai đoạn 2016-2025 “Tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về chất lượng và hiệu quả đào tạo, bồi dưỡng, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức chuyên nghiệp có đủ phẩm chất, trình độ và năng lực, đáp ứng yêu cầu phục vụ nhân dân, sự nghiệp phát triển của đất nước và hội nhập quốc tế” [17]. Do đó, tập trung đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, nhất là đối với công chức cấp xã sẽ góp phần đưa nền hành chính cơ sở nước ta ngày một vững mạnh hơn. Công chức cấp xã 1. Khái niệm, chức danh công chức cấp xã Theo quy định tại khoản 3 điều 4, Luật cán bộ, công chức số 22/2008/QH12 quy định: “Công chức xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước” [11,tr.
Cụ thể hoá Luật cán bộ, công chức năm 2008, khoản 2, điều 3, Nghị định 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính phủ về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã. Công chức cấp xã gồm các chức danh sau: - Trưởng Công an; - Chỉ huy trưởng Quân sự; 10 Luan van - Văn phòng - Thống kê; - Địa chính - Xây dựng - Đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc Địa chính - Nông nghiệp - Xây dựng và môi trường (đối với xã); - Tài chính - kế toán; - Tư pháp - hộ tịch; - Văn hoá - xã hội [6; tr. Tiêu chuẩn chung của công chức cấp xã được quy định tại điều 3 nghị định 112/2011/NĐ-CP ngày 05/12/2011 của Chính phủ quy định đối với các công chức Văn phòng - thống kê, Địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc Địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường (đối với xã), Tài chính - kế toán, Tư pháp - hộ tịch, Văn hóa – xã hội phải: “Hiểu biết về lý luận chính trị, nắm vững quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; Có năng lực tổ chức vận động nhân dân ở địa phương thực hiện có hiệu quả chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; Có trình độ văn hóa và trình độ chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp yêu cầu nhiệm vụ, vị trí việc làm, có đủ năng lực và sức khỏe để hoàn thành nhiệm vụ được giao; Am hiểu và tôn trọng phong tục, tập quán của cộng đồng dân cư trên địa bàn công tác”. Riêng đối với công chức Chỉ huy trưởng Quân sự cấp xã và Trưởng Công an xã: ngoài những tiêu chuẩn nêu trên còn phải có khả năng phối hợp với các đơn vị Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và lực lượng khác trên địa bàn tham gia xây dựng nền quốc phòng toàn dân và thực hiện một số nhiệm vụ giữ gìn an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ Đảng, chính quyền, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân, tài sản của Nhà nước” [8; tr.
Từ sự phân tích nêu trên, ta có thể hiểu: “Công chức cấp xã là một bộ phận của công chức Nhà nước và là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một trong bảy chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp 11 Luan van xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước, được xác định cụ thể về số lượng, tên gọi, tiêu chuẩn, chức năng hoạt động gắn với từng vị trí việc làm nhằm thực hiện nhiệm vụ của bộ máy chính quyền ở cơ sở”. Đặc điểm, vai trò của công chức cấp xã - Đặc điểm công chức cấp xã Công chức cấp xã có những đặc điểm cơ bản của đội ngũ cán bộ, công chức trong nền công vụ Việt Nam. Tuy nhiên, đội ngũ công chức cấp xã có những đặc điểm mang tính đặc thù. Thứ nhất, công chức cấp xã là người trực tiếp giải quyết các yêu cầu chính đáng của người dân, là lực lượng tuyên truyền, phổ biến, triển khai đường lối, chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước để Nhân dân hiểu rõ và thi hành.
Thứ hai, công chức cấp xã phần lớn bị chi phối và ảnh hưởng bởi mối quan hệ trong cộng đồng dân cư: họ hàng, láng giềng,… phong tục tập quán làng quê, văn hoá đặc thù vùng miền làm ảnh hưởng đến hiệu quả thực thi công vụ. Thứ ba, thường thì mỗi chức danh công chức cấp xã phải kiêm nhiệm nhiều công việc nên tính chuyên môn hoá thấp hơn công chức cấp trên: Địa chính – xây dựng; Văn phòng – thống kê v. kiến thức về chuyên môn chưa được cập nhật kịp thời, kỹ năng giải quyết, xử lý công việc chưa được tốt. Do đó khi đứng trước vấn đề quản lý xã hội phức tạp nảy sinh họ thường khó nắm bắt, chưa đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp đổi mới.
Từ những đặc thù của công chức cấp xã như đã nêu trên, đòi hỏi về mặt bồi dưỡng đối với công chức cấp xã phải phù hợp nhằm xây dựng đội ngũ công chức cấp xã đáp ứng với yêu cầu công việc. - Vai trò của công chức cấp xã 12 Luan van Công chức cấp xã là những người gần dân nhất, sát dân nhất, mọi chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và nhà nước có đến được với nhân dân hay không đều thông qua đội ngũ công chức cấp xã. Hiệu lực, hiệu quả của bộ máy chính quyền cấp xã nói riêng và hệ thống chính trị nói chung, xét đến cùng được quyết định bởi phẩm chất, năng lực và hiệu quả công tác của đội ngũ công chức cấp xã.