Luận văn: Bội chi ngân sách nhà nước ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Luận văn thạc sĩ kinh tế phân tích thực trạng bội chi ngân sách Việt Nam. Đánh giá nguyên nhân và đề xuất các giải pháp hạn chế, kiểm soát hiệu quả.

Trường đại học

Học viện Ngân hàng

Chuyên ngành

Tài chính - Ngân hàng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ kinh tế

2018

87
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tầm Quan Trọng Của Bội Chi Ngân Sách Việt Nam Thực Trạng Giải Pháp Bền Vững

Trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu hóa và hội nhập sâu rộng, vấn đề bội chi ngân sách nhà nước luôn là một thách thức lớn đối với nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam. Bội chi ngân sách phản ánh sự mất cân đối giữa thu và chi của chính phủ, tiềm ẩn nhiều rủi ro về ổn định kinh tế vĩ mônợ công Việt Nam. Việc duy trì cân đối ngân sách nhà nước bền vững là yếu tố then chốt để đảm bảo tăng trưởng ổn định và phát triển lâu dài.

Luận văn Thạc sĩ Kinh tế của Nguyễn Thu Hà (2018) đã chỉ rõ, bội chi ngân sách kéo dài và liên tục tăng ở mức cao đe dọa tính bền vững của ngân sách nhà nước. Đặc biệt, sau Chiến tranh thế giới thứ II và các cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, vấn đề thâm hụt ngân sách đã nhận được sự quan tâm đặc biệt. Các quốc gia đều tìm cách hạn chế bội chi ngân sách trong thời kỳ kinh tế thuận lợi và chủ động đối phó khi suy thoái.

Việt Nam không nằm ngoài xu thế này. Nhiều cải cách tài chính đã được thực hiện nhằm lành mạnh hóa ngân sách nhà nước, tăng cường kỷ cương, kỷ luật tài chính – ngân sách và hạn chế sự gia tăng của bội chi ngân sách. Các sáng kiến như phân cấp ngân sách, cơ cấu lại ngân sách nhà nước, cải cách thuếquản lý thuế, hay quản lý chi ngân sách đều góp phần nâng cao hiệu quả và hiệu lực của ngân sách nhà nước, củng cố nền tài chính quốc gia. Tuy nhiên, tình trạng bội chi ngân sách triền miên, vượt ngưỡng cho phép, cùng với sự tăng tốc của nợ công và những bất ổn kinh tế vĩ mô đang đặt ra những đòi hỏi cấp bách về giải pháp giảm bội chi.

Phần này sẽ giới thiệu tổng quan về bội chi ngân sách, làm rõ khái niệm, cách tính và phân loại, đồng thời đặt vấn đề vào bối cảnh kinh tế vĩ mô Việt Nam để người đọc có cái nhìn toàn diện về tầm quan trọng của chủ đề. Mục tiêu là cung cấp một bức tranh cơ bản nhưng đầy đủ, giúp người đọc nắm bắt được những vấn đề cốt lõi trước khi đi sâu vào thực trạng và các giải pháp cụ thể. Việc hiểu rõ bản chất của bội chi ngân sách là nền tảng để đánh giá đúng mức độ nghiêm trọng và tìm kiếm các hướng xử lý phù hợp, hướng tới một nền tài chính công vững mạnh.

1.1. Bội chi ngân sách là gì Khái niệm cách tính và phân loại chính yếu

Bội chi ngân sách (hay thâm hụt ngân sách) được hiểu là khoản chênh lệch thiếu giữa tổng số thu so với tổng số chi của ngân sách nhà nước trong một khoảng thời gian nhất định, thường là một năm tài chính. Theo luận văn của Nguyễn Thu Hà (2018), thực chất đây là hiện tượng mất cân đối giữa lượng giá trị sản phẩm xã hội được nhà nước huy động và lượng tiền chi ra đã được phân phối, sử dụng trong năm. Công thức cơ bản để tính bội chi ngân sách theo chuẩn mực Thống kê tài chính Chính phủ (GFS) của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) là: Bội chi NSNN = Tổng thu NSNN (không bao gồm các khoản vay) - Tổng chi NSNN (không bao gồm chi trả nợ gốc, chỉ bao gồm chi trả lãi vay). Điều này phản ánh bản chất của thu, chi ngân sách nhà nước không phải là các nghĩa vụ hoàn trả trực tiếp.

Bội chi ngân sách được phân loại dựa trên nhiều tiêu chí. Theo tính chất các khoản thu, chi và mức độ bền vững, chủ động của ngân sách nhà nước, có thể kể đến bội chi ngân sách vãng lai (thường xuyên), bội chi ngân sách tổng thể, và bội chi ngân sách nghiệp vụ (đã loại bỏ tác động lạm phát). Mỗi loại phản ánh một góc độ khác nhau về sức khỏe tài chính của quốc gia. Ví dụ, bội chi ngân sách vãng lai đánh giá khả năng tích lũy của chính phủ cho đầu tư phát triển, trong khi bội chi ngân sách nghiệp vụ khắc phục tình trạng bội chi bị đánh giá quá cao do lạm phát. Ngoài ra, theo phạm vi ngân sách nhà nước, bội chi có thể là của khu vực công, của chính phủ, của ngân sách trung ương hay địa phương. Việc nắm rõ các khái niệm và cách tính này là cần thiết để phân tích bội chi một cách chính xác.

1.2. Xu hướng bội chi NSNN và bối cảnh kinh tế vĩ mô Việt Nam

Xu hướng bội chi ngân sách nhà nước ở Việt Nam trong giai đoạn gần đây chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ bối cảnh kinh tế vĩ mô Việt Nam và các yếu tố quốc tế. Theo luận văn của Nguyễn Thu Hà (2018), quá trình đổi mới đã giúp Việt Nam đạt được tăng trưởng kinh tế nhanh và thành tích xóa đói giảm nghèo ấn tượng. Tuy nhiên, điều này cũng đi kèm với thách thức gia tăng chi tiêu để mở rộng dịch vụ công, an sinh xã hội, và đầu tư phát triển hạ tầng. Hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng đã làm giảm nguồn thu từ hoạt động xuất nhập khẩu và khiến nền kinh tế dễ bị tổn thương trước các cú sốc bên ngoài. Các khoản thu từ tài nguyên, đất đai cũng có xu hướng chậm lại sau nhiều năm tăng cao, trong khi các chính sách ưu đãi thuế được áp dụng để khuyến khích đầu tư.

Hệ quả là dư địa tài khóa bị thu hẹp, dẫn đến bội chi ngân sách kéo dài và liên tục tăng ở mức cao, đe dọa tính bền vững của ngân sách nhà nước. Đặc biệt, các cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu và khu vực, như khủng hoảng năm 2008 và khủng hoảng nợ châu Âu, đã tác động đáng kể đến khả năng cân đối ngân sách nhà nước và gia tăng nợ công Việt Nam. Việc chính phủ Việt Nam phải đưa ra các gói kích cầu để đối phó với suy thoái kinh tế cũng là một nguyên nhân làm tăng bội chi ngân sách. Sự biến động của GDP Việt Nam, lạm phát Việt Nam và các chỉ số kinh tế khác trực tiếp ảnh hưởng đến thu chi ngân sách và mức độ thâm hụt ngân sách.

II. Phân Tích Thực Trạng Bội Chi Ngân Sách Tại Việt Nam Giai Đoạn 2001 2017

Để hiểu rõ hơn về thách thức bội chi ngân sách Việt Nam, việc phân tích bội chi trong giai đoạn cụ thể là cần thiết. Luận văn của Nguyễn Thu Hà (2018) đã tập trung vào giai đoạn 2001-2017, một thời kỳ đầy biến động với sự hội nhập sâu rộng, các cải cách tài chính và tác động của khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Thực trạng thu chi ngân sách trong giai đoạn này không chỉ phản ánh nỗ lực của chính phủ Việt Nam trong việc duy trì tăng trưởng mà còn bộc lộ những điểm yếu trong quản lý ngân sáchchính sách tài khóa.

Giai đoạn 2001-2005, mặc dù quy mô thu ngân sách nhà nước tăng liên tục, cơ cấu nguồn thu đã có sự dịch chuyển tích cực khi tỷ trọng thu nội địa tăng và thu từ dầu thô, xuất nhập khẩu giảm. Điều này cho thấy sự ổn định hơn của nguồn thu. Tuy nhiên, bước sang giai đoạn 2006-2010, dù tổng thu tiếp tục gia tăng, ảnh hưởng từ khủng hoảng kinh tế toàn cầu đã khiến nguồn thu có xu hướng sụt giảm. Đặc biệt, bội chi ngân sách đã có những biến động mạnh, như năm 2009 tăng lên tới 6,9% GDP Việt Nam do gói kích cầu.

Các yếu tố tác động đến bội chi ngân sách rất đa dạng, từ các nguyên nhân khách quan như chu kỳ kinh tế, thiên tai, dịch bệnh đến các nguyên nhân chủ quan liên quan đến chính sách chi tiêu, quản lý tài chính ngân sách và năng lực cán bộ. Việc phân tích bội chi toàn diện giúp nhận diện những vấn đề cốt lõi, từ đó đề xuất các giải pháp giảm bội chi hiệu quả. Phần này sẽ đi sâu vào diễn biến thu chi ngân sách, nguyên nhân bội chi cụ thể và những hậu quả bội chinền kinh tế Việt Nam đã và đang phải đối mặt. Đây là cơ sở quan trọng để xây dựng các chính sách tài khóacải cách tài chính trong tương lai, nhằm hướng tới ổn định kinh tế và phát triển bền vững.

2.1. Diễn biến thu chi ngân sách và tác động của các yếu tố kinh tế

Giai đoạn 2001-2017, thu chi ngân sách Việt Nam chứng kiến nhiều biến động đáng kể. Theo số liệu từ Tổng cục Thống kê và Bộ Tài chính được trích dẫn trong luận văn của Nguyễn Thu Hà (2018), quy mô tổng thu ngân sách nhà nước liên tục tăng qua các năm. Ví dụ, tỷ trọng động viên vào NSNN so với GDP Việt Nam tăng từ 20,6% năm 2001 lên khoảng 29,08% giai đoạn 2006-2010. Cơ cấu nguồn thu cũng có sự dịch chuyển tích cực, với tỷ trọng thu nội địa tăng từ 50,7% năm 2001 lên 57,5% năm 2005 và tiếp tục tăng lên 58,9% giai đoạn 2006-2010, cho thấy sự phụ thuộc vào các nguồn thu ổn định hơn như thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập cá nhân.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả tích cực, các cú sốc kinh tế bên ngoài như khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 hay khủng hoảng nợ công châu Âu giai đoạn 2010-2011 đã tác động mạnh mẽ. Tốc độ tăng trưởng kinh tế giảm sút, lạm phát Việt Nam gia tăng đáng kể (đạt 19,89% năm 2008 và 18,1% năm 2011), ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng thu ngân sách và gia tăng áp lực chi tiêu. Chính phủ Việt Nam buộc phải áp dụng các gói kích cầu, dẫn đến bội chi ngân sách tăng vọt, như năm 2009 lên 6,9% GDP Việt Nam. Chi ngân sách cũng tăng mạnh để đáp ứng nhu cầu đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, an sinh xã hội và trả nợ.

2.2. Nguyên nhân bội chi chính yếu Từ chính sách đến năng lực cán bộ

Nguyên nhân bội chi ngân sách nhà nước ở Việt Nam được phân tích từ hai nhóm chính: khách quan và chủ quan. Về khách quan, luận văn của Nguyễn Thu Hà (2018) chỉ ra chu kỳ kinh tế là yếu tố hàng đầu. Trong thời kỳ khủng hoảng, thu nhập nhà nước giảm trong khi nhu cầu chi tiêu để giải quyết khó khăn kinh tế – xã hội lại tăng, đẩy bội chi ngân sách gia tăng. Điển hình là gói kích cầu năm 2009 để đối phó khủng hoảng tài chính toàn cầu. Các yếu tố khác như thiên tai, dịch bệnh cũng có thể buộc nhà nước tăng chi đột xuất, vượt dự phòng.

Nhóm nguyên nhân chủ quan bao gồm các vấn đề liên quan đến chính sách chi tiêu, quản lý tài chính ngân sách và năng lực cán bộ. Chính sách chi tiêu dựa nhiều vào đầu tư công khiến quy mô chi tăng nhanh nhưng hiệu quả thấp. Trong quản lý ngân sách, việc lập dự toán theo kiểu tăng dần, ít quan tâm đánh giá hiệu quả, hay quá tập trung vào khoản mục đầu vào mà thiếu kết quả đầu ra, đều làm giảm trách nhiệm và hiệu quả. Tình trạng thất thu thuế, nợ đọng thuế, chi quá tiêu chuẩn, chế độ còn phổ biến. Năng lực cán bộ hạn chế trong phân tích bội chi, quản lý ngân sách hoặc rủi ro đạo đức cũng góp phần gây thất thoát, lãng phí ngân sách nhà nước. Cuối cùng, việc chính phủ Việt Nam chủ động điều hành bội chi ngân sách nhằm hỗ trợ nền kinh tế trong thời kỳ suy thoái cũng là một nguyên nhân được chấp nhận.

2.3. Hậu quả của thâm hụt ngân sách kéo dài đối với nền kinh tế Việt Nam

Khi thâm hụt ngân sách ở mức cao và kéo dài, nền kinh tế Việt Nam phải đối mặt với nhiều hệ lụy tiêu cực. Hậu quả đầu tiên và rõ rệt nhất là gia tăng nợ công Việt Nam và gánh nặng trả nợ. Bội chi ngân sách thường được bù đắp bằng việc vay nợ, cả trong và ngoài nước, khiến tổng dư nợ công tích lũy qua thời gian tăng cao. Điều này không chỉ gây áp lực trả nợ trong tương lai mà còn thu hẹp đáng kể khả năng điều hành chính sách tài khóa của chính phủ Việt Nam.

Ngoài ra, thâm hụt ngân sách có thể dẫn đến lạm phát Việt Nam nếu được tài trợ bằng cách tăng cung tiền. Khi chính phủ tăng chi tiêu mà không có nguồn thu tương xứng, việc in thêm tiền có thể làm mất cân đối tiền hàng, đẩy giá cả lên cao, gây bất ổn kinh tế vĩ mô. Hiệu ứng lấn át đầu tư tư nhân cũng là một vấn đề nghiêm trọng. Khi bội chi ngân sách làm giảm tiết kiệm quốc gia và tăng nhu cầu vay của chính phủ, lãi suất trên thị trường vốn vay có xu hướng tăng, làm giảm khả năng tiếp cận vốn và đầu tư của khu vực tư nhân. Cuối cùng, thâm hụt ngân sách có thể gây ra thâm hụt thương mại và ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái, khiến Việt Nam trở thành nước nhập khẩu ròng tài sản và gia tăng áp lực lên cán cân thanh toán.

III. Cách Giảm Bội Chi Ngân Sách Việt Nam Nhóm Giải Pháp Tăng Cường Nguồn Thu

Để kiểm soát và giảm bội chi ngân sách hiệu quả, chính phủ Việt Nam cần tập trung vào các giải pháp toàn diện, đặc biệt là việc tăng cường nguồn thu. Nguồn thu vững chắc là nền tảng để đảm bảo cân đối ngân sách nhà nước và giảm áp lực lên nợ công Việt Nam. Luận văn của Nguyễn Thu Hà (2018) đã đề xuất nhiều giải pháp trọng tâm, xoay quanh việc cải cách chính sách thuế, mở rộng cơ sở thu và nâng cao hiệu quả quản lý thu ngân sách.

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, nguồn thu từ thuế xuất nhập khẩu có xu hướng giảm. Do đó, việc tái cơ cấu nguồn thu trở nên cấp thiết. Tập trung vào thu nội địa, đa dạng hóa các hình thức huy động vốn, và khai thác hiệu quả các nguồn lực từ đất đai, tài nguyên là những hướng đi quan trọng. Một chính sách tài khóa linh hoạt, có tầm nhìn dài hạn sẽ giúp ngân sách nhà nước trở nên bền vững hơn trước các cú sốc kinh tế.

Việc tăng cường nguồn thu không chỉ đơn thuần là tăng thuế mà còn là tối ưu hóa hệ thống thuế để khuyến khích sản xuất, kinh doanh, đồng thời đảm bảo công bằng xã hội. Cải cách thể chế, hiện đại hóa công tác thu, và chống thất thu hiệu quả là những yếu tố then chốt. Sự phối hợp đồng bộ giữa Bộ Tài chính và các cơ quan liên quan, cùng với việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý ngân sách, sẽ góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả của các giải pháp này. Phần này sẽ đi sâu vào các cách thức cụ thể để tăng cường nguồn thu, từ đó tạo nền tảng vững chắc cho việc giảm bội chi ngân sách và thúc đẩy ổn định kinh tế.

Việc thực hiện các giải pháp này cần sự quyết tâm chính trị, minh bạch trong quản lý và sự đồng thuận của toàn xã hội. Chỉ khi nguồn thu được quản lý chặt chẽ và tăng trưởng bền vững, chúng ta mới có thể giảm thiểu nguy cơ thâm hụt ngân sách và đảm bảo an toàn cho nền tài chính quốc gia. Đây là một trong những trụ cột quan trọng để duy trì cân đối ngân sách nhà nước và đảm bảo các mục tiêu phát triển kinh tế vĩ mô Việt Nam.

3.1. Cải cách chính sách thuế và mở rộng cơ sở thu ngân sách

Cải cách chính sách thuế là một trong những giải pháp giảm bội chi ngân sách hàng đầu. Luận văn của Nguyễn Thu Hà (2018) nhấn mạnh sự cần thiết phải rà soát, sửa đổi các luật thuế, phí, lệ phí để phù hợp với thông lệ quốc tế, khuyến khích sản xuất kinh doanh, đồng thời đảm bảo công bằng xã hội và mở rộng cơ sở thu ngân sách. Việc cắt giảm thuế quá mức để kích thích kinh tế trong ngắn hạn có thể dẫn đến thâm hụt ngân sách nghiêm trọng về dài hạn. Do đó, cần có sự cân nhắc kỹ lưỡng để tối ưu hóa nguồn thu mà không gây gánh nặng quá lớn cho doanh nghiệp và người dân.

Một mặt, cần tiếp tục hoàn thiện các sắc thuế hiện hành như thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân theo hướng đơn giản, minh bạch và hiệu quả. Mặt khác, cần nghiên cứu bổ sung các sắc thuế mới (nếu cần thiết và phù hợp với điều kiện kinh tế vĩ mô Việt Nam) hoặc tăng cường thu từ tài sản, tài nguyên để đa dạng hóa nguồn thu. Việc đẩy mạnh cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước và thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp kém hiệu quả cũng là một cách để tăng nguồn thu không thường xuyên, giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước. Đặc biệt, cần tập trung vào việc tạo lập môi trường kinh doanh thuận lợi để khuyến khích đầu tư, từ đó tăng nguồn thu từ thuế trên cơ sở mở rộng quy mô kinh tế.

3.2. Nâng cao hiệu quả quản lý ngân sách và chống thất thu thuế

Nâng cao hiệu quả quản lý ngân sách và chống thất thu thuế là giải pháp then chốt để tăng cường nguồn thu ngân sách mà không cần tăng gánh nặng thuế. Theo luận văn của Nguyễn Thu Hà (2018), thất thu thuế và nợ đọng thuế vẫn là hiện tượng khá phổ biến ở Việt Nam. Để khắc phục tình trạng này, cần đẩy mạnh hiện đại hóa công tác quản lý thuế, ứng dụng công nghệ thông tin trong kê khai, nộp thuế và thanh tra, kiểm tra. Việc xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về thuế, kết nối thông tin giữa các cơ quan quản lý nhà nước sẽ giúp phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi trốn thuế, gian lận thuế.

Bên cạnh đó, cần tăng cường năng lực cho đội ngũ cán bộ ngành thuế, nâng cao tính chuyên nghiệp, minh bạch và liêm chính. Các chỉ số tài chính công cần được công khai, minh bạch để tăng cường giám sát của người dân và xã hội. Việc xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm, thiếu trách nhiệm trong công tác quản lý thu ngân sách cũng là yếu tố quan trọng để lập lại kỷ cương tài chính. Ngoài ra, cần rà soát và đơn giản hóa các thủ tục hành chính liên quan đến thu thuế, phí, lệ phí để tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp và người dân, đồng thời giảm chi phí tuân thủ, từ đó khuyến khích sự tự giác của các chủ thể kinh tế.

IV. Phương Pháp Kiểm Soát Bội Chi Ngân Sách Tối Ưu Hóa Chi Tiêu Công Quốc Gia

Bên cạnh việc tăng cường nguồn thu, tối ưu hóa chi tiêu công quốc gia là một phương pháp kiểm soát bội chi ngân sách không kém phần quan trọng. Chính phủ Việt Nam cần rà soát lại cơ cấu chi ngân sách, đảm bảo các khoản chi được sử dụng hiệu quả, đúng mục đích và mang lại giá trị cao nhất cho xã hội. Luận văn của Nguyễn Thu Hà (2018) đã chỉ ra rằng việc chi tiêu kém hiệu quả, lãng phí là một trong những nguyên nhân bội chi chính yếu. Do đó, việc tái cơ cấu chi ngân sách và nâng cao hiệu quả đầu tư công là cần thiết để giảm bội chi ngân sách.

Việc lập ngân sách nhà nước theo phương pháp hiện hành thường dựa vào số thực hiện của năm trước, ít quan tâm đến đánh giá hiệu quả đạt được, dẫn đến tình trạng tăng chi dần mà không tối ưu hóa nguồn lực. Cần chuyển đổi sang phương pháp lập ngân sách dựa trên kết quả đầu ra, gắn trách nhiệm cụ thể cho các đơn vị sử dụng ngân sách. Điều này không chỉ giúp kiểm soát chi ngân sách chặt chẽ hơn mà còn nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm giải trình.

Thắt chặt chi thường xuyên, chống lãng phí, tham nhũng trong mọi hoạt động của ngân sách nhà nước là nhiệm vụ cấp bách. Các biện pháp này đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan, ban ngành và sự giám sát chặt chẽ của toàn xã hội. Việc công khai chỉ số tài chính công và các báo cáo tài chính sẽ tạo áp lực để các cơ quan quản lý chi tiêu hiệu quả hơn. Phần này sẽ đi sâu vào các giải pháp cụ thể để tối ưu hóa chi tiêu công, từ việc cơ cấu lại đầu tư công đến thắt chặt chi thường xuyên, nhằm đạt được cân đối ngân sách nhà nước bền vững và góp phần vào ổn định kinh tế vĩ mô Việt Nam.

Việc quản lý chi ngân sách hiệu quả sẽ không chỉ trực tiếp giảm bội chi ngân sách mà còn giải phóng nguồn lực cho các lĩnh vực ưu tiên, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững. Đây là một yếu tố quan trọng trong việc đạt được các mục tiêu của chính sách tài khóa và đảm bảo sức khỏe tài chính quốc gia.

4.1. Cơ cấu lại chi ngân sách và ưu tiên đầu tư công hiệu quả

Cơ cấu lại chi ngân sáchgiải pháp quan trọng để tối ưu hóa nguồn lực và giảm bội chi ngân sách. Theo luận văn của Nguyễn Thu Hà (2018), cần ưu tiên các khoản chi đầu tư phát triển có hiệu quả cao, đặc biệt là đầu tư công vào cơ sở hạ tầng thiết yếu, giáo dục, y tế, khoa học công nghệ – những lĩnh vực tạo động lực cho tăng trưởng kinh tế dài hạn. Đồng thời, cần rà soát, cắt giảm hoặc đình hoãn các dự án đầu tư công kém hiệu quả, dàn trải, hoặc không cấp bách để tránh lãng phí nguồn lực và gia tăng nợ công Việt Nam.

Việc xây dựng khung chi tiêu trung hạn là một phương pháp quản lý ngân sách nhà nước tiên tiến mà nhiều quốc gia đã áp dụng. Khuôn khổ này giúp cân đối chi ngân sách với khả năng nguồn lực, nâng cao hiệu quả quản lý chi và khắc phục các vấn đề ngân sách mang tính chu kỳ. Cần tăng cường công tác thẩm định, giám sát hiệu quả đầu tư công, đảm bảo các dự án được triển khai đúng tiến độ, chất lượng và tiết kiệm. Sự minh bạch trong quy trình đầu tư công sẽ giúp hạn chế tiêu cực và nâng cao trách nhiệm của các bên liên quan, góp phần quan trọng vào việc giảm bội chi ngân sách và thúc đẩy ổn định kinh tế.

4.2. Thắt chặt chi thường xuyên và chống lãng phí trong quản lý ngân sách

Thắt chặt chi thường xuyên và chống lãng phí là giải pháp cấp bách để cải thiện tình hình bội chi ngân sách. Luận văn của Nguyễn Thu Hà (2018) chỉ rõ rằng việc chi quá tiêu chuẩn, chế độ, định mức vẫn diễn ra ở mọi cấp ngân sách nhà nước, gây ra sự lãng phí lớn. Cần rà soát và ban hành các quy định chặt chẽ hơn về định mức, tiêu chuẩn chi tiêu công, đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện.

Để chống lãng phí trong quản lý ngân sách, cần đẩy mạnh cải cách hành chính, tinh gọn bộ máy nhà nước, giảm biên chế không cần thiết, và tối ưu hóa chi phí hoạt động của các cơ quan công quyền. Ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý hành chính sẽ giúp tiết kiệm chi phí, nâng cao hiệu quả và giảm thiểu các thủ tục rườm rà. Quan trọng hơn, cần tăng cường công tác phòng chống tham nhũng, xử lý nghiêm các hành vi tiêu cực, tham ô, biển thủ nguồn ngân sách nhà nước, gây thất thoát tài sản công. Việc công khai, minh bạch các khoản chi ngân sách sẽ tạo điều kiện để người dân và các tổ chức xã hội tham gia giám sát, góp phần xây dựng một nền tài chính công lành mạnh, từ đó trực tiếp giảm bội chi ngân sách và củng cố ổn định kinh tế.

V. Kinh Nghiệm Quốc Tế Về Hạn Chế Bội Chi Ngân Sách Bài Học Cho Việt Nam

Việc học hỏi kinh nghiệm quốc tế về hạn chế bội chi ngân sách là vô cùng cần thiết để chính phủ Việt Nam xây dựng các giải pháp hiệu quả và bền vững. Các quốc gia trên thế giới đã áp dụng nhiều phương pháp khác nhau để kiểm soát thâm hụt ngân sách, từ việc quy định giới hạn bội chi ngân sách đến đổi mới quản lý ngân sách theo khung chi tiêu trung hạn. Luận văn của Nguyễn Thu Hà (2018) đã tổng hợp và phân tích những kinh nghiệm quý báu này, từ đó rút ra những bài học phù hợp với điều kiện kinh tế vĩ mô Việt Nam.

Một trong những kinh nghiệm phổ biến là đặt ra giới hạn đối với bội chi ngân sách (ví dụ: chuẩn Châu Âu quy định bội chi ngân sách thấp hơn 3% GDP Việt Nam và nợ không quá 60% GDP Việt Nam). Các quốc gia cũng chú trọng hạn chế hoạt động vay nợ của chính quyền địa phương thông qua các quy định cụ thể trong hiến pháp hoặc luật pháp, nhằm duy trì kỷ luật tài chính tổng thể. Ngoài ra, việc đổi mới quản lý ngân sách theo khung chi tiêu trung hạn (MTEF) đã được trên một trăm quốc gia áp dụng, giúp cân đối chi ngân sách với khả năng nguồn lực và nâng cao hiệu quả quản lý chi.

Tuy nhiên, luận văn cũng chỉ ra rằng không phải tất cả các kinh nghiệm quốc tế đều có thể áp dụng rập khuôn. Thành công của các phương pháp này phụ thuộc vào nhiều yếu tố như sự đồng thuận chính trị, năng lực phân tích và dự báo kinh tế, cũng như khung pháp lý đầy đủ. Chính phủ Việt Nam cần chọn lọc, điều chỉnh các giải pháp để phù hợp với đặc thù của mình. Phần này sẽ đi sâu vào các phương pháp xử lý thâm hụt ngân sách từ các quốc gia, phân tích những điểm thành công và hạn chế, từ đó rút ra những bài học thực tiễn để Việt Nam có thể duy trì ổn định kinh tế và hướng tới cân đối ngân sách nhà nước bền vững.

Việc áp dụng linh hoạt các bài học này sẽ giúp chính phủ Việt Nam đưa ra những chính sách tài khóa phù hợp, không chỉ giảm bội chi ngân sách trong ngắn hạn mà còn xây dựng một nền tài chính quốc gia vững mạnh, có khả năng chống chịu tốt hơn trước các biến động của kinh tế vĩ mô.

5.1. Các phương pháp xử lý thâm hụt ngân sách từ các quốc gia

Các quốc gia trên thế giới đã áp dụng nhiều phương pháp đa dạng để xử lý thâm hụt ngân sách. Theo luận văn của Nguyễn Thu Hà (2018), một nguyên tắc chung là chỉ cho phép bội chi ngân sách cho các mục đích chi đầu tư, không cho phép thâm hụt thường xuyên (thu không đủ bù chi thường xuyên). Điều này giúp đảm bảo sự tích lũy cho phát triển. Nhiều nước còn đặt ra giới hạn cứng đối với bội chi ngân sách so với GDP Việt Nam (ví dụ: 3% GDP Việt Nam theo chuẩn EU) và giới hạn dư nợ công (60% GDP Việt Nam), nhằm duy trì kỷ luật tài khóa và tránh nguy cơ khủng hoảng nợ.

Một phương pháp quan trọng khác là đổi mới quản lý ngân sách theo khung chi tiêu trung hạn (MTEF). Khuôn khổ này cho phép lập kế hoạch thu chi ngân sách trong 3-5 năm, giúp các khoản chi được cân đối với khả năng nguồn lực, nâng cao hiệu quả quản lý chi và khắc phục các vấn đề ngân sách mang tính chu kỳ. Ngoài ra, việc hạn chế hoạt động vay nợ của chính quyền địa phương thông qua các quy định chặt chẽ cũng là một cách để kiểm soát thâm hụt ngân sách toàn diện. Các nước như Mỹ, Tây Ban Nha hay Hàn Quốc đã áp dụng thành công các biện pháp này, từ việc quy định phạm vi khoản chi được vay nợ đến tỷ lệ dịch vụ nợ tối đa, góp phần vào ổn định kinh tế.

5.2. Bài học quan trọng rút ra cho chính phủ Việt Nam từ thực tiễn

Từ những kinh nghiệm quốc tế về hạn chế bội chi ngân sách, luận văn của Nguyễn Thu Hà (2018) đã rút ra nhiều bài học quan trọng cho chính phủ Việt Nam. Thứ nhất, bội chi ngân sách là vấn đề phổ biến, nhưng điều quan trọng là không để mức bội chi cao triền miên dẫn đến nợ công lớn. Mức bội chi vừa phải có thể tác động tích cực, nhưng kéo dài sẽ gây ra các hậu quả bội chi như lấn át đầu tư, lạm phát Việt Nam, và bất ổn kinh tế vĩ mô.

Thứ hai, không có một giới hạn cố định cho mức độ bội chi ngân sách hợp lý; nó tùy thuộc vào điều kiện cụ thể của mỗi nước và từng giai đoạn. Việt Nam cần xác định ngưỡng an toàn phù hợp với bối cảnh kinh tế của mình. Thứ ba, hạn chế bội chi ngân sách là vấn đề thường xuyên, liên tục, đòi hỏi các biện pháp tổng thể về thu, chi và quản lý ngân sách. Thứ tư, giới hạn bội chi và giới hạn dư nợ công là biện pháp phổ biến, nhưng cần đảm bảo tính thực thi nghiêm túc. Thứ năm, các nội dung quản lý ngân sách đang ngày càng được coi trọng vì tác động trực tiếp đến kỷ luật, kỷ cương tài chính và hiệu quả thu chi ngân sách, góp phần giảm bội chi ngân sách trong cả ngắn hạn và dài hạn. Cuối cùng, tự chủ trong các quyết định ngân sách nhà nước phải đi kèm với vấn đề minh bạch và trách nhiệm giải trình để tránh rủi ro tiêu cực.

VI. Triển Vọng Kiến Nghị Cho Bội Chi Ngân Sách Bền Vững Của Việt Nam

Để đạt được mục tiêu bội chi ngân sách bền vững và duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, Việt Nam cần có một tầm nhìn dài hạn và các kiến nghị chính sách đồng bộ. Triển vọng bội chi ngân sách trong tương lai phụ thuộc lớn vào khả năng thực hiện các giải pháp cải cách tài chínhquản lý ngân sách một cách quyết liệt và hiệu quả. Luận văn của Nguyễn Thu Hà (2018) đã đặt ra những khuyến nghị cụ thể, tập trung vào việc củng cố nền tài chính quốc gia và đảm bảo cân đối ngân sách nhà nước trong mọi điều kiện.

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, chính phủ Việt Nam cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, nâng cao năng lực dự báo và phân tích bội chi, đồng thời tăng cường kỷ luật tài chính. Việc xây dựng một chính sách tài khóa chủ động, linh hoạt sẽ giúp Việt Nam ứng phó tốt hơn với các cú sốc kinh tế bên ngoài và duy trì quỹ đạo phát triển ổn định. Đồng thời, cần khuyến khích sự tham gia của khu vực tư nhân vào các hoạt động đầu tư và cung cấp dịch vụ công, giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước.

Các kiến nghị không chỉ dừng lại ở các giải pháp kỹ thuật về thu và chi mà còn bao gồm các yếu tố cấu trúc, thể chế và con người. Việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong lĩnh vực tài chính, ứng dụng công nghệ thông tin và tăng cường minh bạch sẽ là những yếu tố quyết định sự thành công. Mục tiêu cuối cùng là xây dựng một nền tài chính công vững mạnh, có khả năng hỗ trợ đắc lực cho sự phát triển bền vững của kinh tế vĩ mô Việt Nam, không để bội chi ngân sách trở thành rào cản. Phần này sẽ tổng kết các vấn đề đã nêu và đưa ra những khuyến nghị chính sách cụ thể, hướng tới một tương lai tài chính ổn định cho Việt Nam.

Việc thực hiện các kiến nghị này đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa Bộ Tài chính, các bộ, ngành liên quan và chính quyền địa phương, cùng với sự đồng thuận và giám sát của Quốc hội và toàn xã hội. Chỉ khi đó, Việt Nam mới có thể đạt được mục tiêu cân đối ngân sách nhà nước và đảm bảo ổn định kinh tế dài hạn.

6.1. Tầm nhìn và mục tiêu dài hạn cho cân đối ngân sách nhà nước

Để đạt được cân đối ngân sách nhà nước bền vững, chính phủ Việt Nam cần thiết lập một tầm nhìn và các mục tiêu dài hạn rõ ràng. Theo luận văn của Nguyễn Thu Hà (2018), mục tiêu này không chỉ là kiểm soát bội chi ngân sách trong giới hạn an toàn mà còn là xây dựng một nền tài chính công vững mạnh, có khả năng tự chủ và chống chịu tốt trước các biến động của kinh tế vĩ mô. Điều này đòi hỏi một chính sách tài khóa nhất quán, tránh những quyết sách ngắn hạn có thể gây áp lực lên ngân sách nhà nước về lâu dài.

Tầm nhìn dài hạn cần tập trung vào việc đa dạng hóa nguồn thu, giảm phụ thuộc vào các nguồn thu không bền vững như tài nguyên, đất đai. Đồng thời, cơ cấu lại chi ngân sách theo hướng ưu tiên đầu tư công hiệu quả, vào các lĩnh vực tạo động lực tăng trưởng và nâng cao chất lượng cuộc sống. Việc giảm dần tỷ lệ nợ công Việt Nam so với GDP Việt Nam và đảm bảo khả năng trả nợ là mục tiêu quan trọng để duy trì niềm tin của nhà đầu tư và xếp hạng tín nhiệm quốc gia. Mục tiêu cụ thể nên được định lượng và công khai, có lộ trình thực hiện rõ ràng, và thường xuyên được rà soát, đánh giá để điều chỉnh kịp thời, hướng tới ổn định kinh tế.

6.2. Các khuyến nghị chính sách để đảm bảo ổn định kinh tế

Để đảm bảo ổn định kinh tế và đạt được mục tiêu cân đối ngân sách nhà nước, luận văn của Nguyễn Thu Hà (2018) đưa ra một số khuyến nghị chính sách cụ thể. Thứ nhất, cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống Luật ngân sách nhà nước và các văn bản hướng dẫn, đảm bảo tính chặt chẽ, minh bạch và hiệu quả trong quản lý ngân sách. Việc phân định rõ ràng chức năng, nhiệm vụ và trách nhiệm giải trình giữa các cấp ngân sách, giữa trung ương và địa phương là rất quan trọng để tránh chồng chéo và lãng phí.

Thứ hai, cần nâng cao năng lực dự báo và phân tích bội chi của các cơ quan chức năng, đặc biệt là Bộ Tài chính. Sự chính xác trong dự báo các chỉ số tài chính côngxu hướng bội chi sẽ giúp chính phủ Việt Nam đưa ra các quyết sách kịp thời và phù hợp. Thứ ba, tăng cường sự phối hợp đồng bộ giữa chính sách tài khóachính sách tiền tệ để kiểm soát lạm phát Việt Nam và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Cuối cùng, cần tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, tinh gọn bộ máy nhà nước, chống lãng phí và tham nhũng để giảm áp lực chi thường xuyên và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực ngân sách nhà nước, từ đó trực tiếp giải pháp giảm bội chi và củng cố ổn định kinh tế vĩ mô Việt Nam.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

01/10/2025
012 bội chi ngân sách nhà nước ở việt nam thực trạng và giải pháp luận văn thạc sỹ kinh tế

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÈ BỘI CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 1. NHỮNG VẤN ĐÈ CƠ BẢN VÈ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 1. Khái niệm ngân sách nhà nước Ngân sách nhà nước (NSNN) ra đời là một tất yếu khách quan, gắn liền với sự ra đời, tồn tại của Nhà nước. Nhà nước tạo lập, phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ quốc gia để thực hiện mục tiêu chính sách tiền tệ quốc gia.

Khái niệm NSNN ra đời, hình thành và phát triển từ hai cơ sở khách quan: nhà nước và kinh tế hàng hóa - tiền tệ. Cho đến nay, khái niệm về NSNN trên thế giới vẫn luôn có nhiều ý kiến khác nhau. Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu kinh tế cổ điển, thì: Ngân sách nhà nước là một văn kiện tài chính, mô tả các khoản thu, chi của Chính phủ, được thiết lập hàng năm. Các nhà kinh tế học hiện đại cũng đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về NSNN.

Theo các nhà kinh tế phương Tây, NSNN là quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước, là kế hoạch tài chính cơ bản của Nhà nước. Các nhà kinh tế Trung Quốc cho rằng, NSNN là kế hoạch thu, chi tài chính hàng năm của Nhà nước được xét duyệt theo trình tự pháp luật quy định. Các nhà kinh tế Nga cũng cho rằng, NSNN là bảng liệt kê các khoản thu, chi bằng tiền trong một giai đoạn nhất định của Nhà nước. Tại Việt Nam, Luật ngân sách nhà nước đã được Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam thông qua vào các năm 1996, 2002 và mới nhất là năm 2015 quy định khái niệm NSNN với nội dung cơ bản như sau: “NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước” [11].

Nội dung hoạt động của ngân sách nhà nước 1. Thu ngân sách nhà nước Thu NSNN là các khoản tiền, hiện vật (nếu có) mà nhà nước nhận được từ việc đánh thuế, phí, lệ phí và các hình thức huy động khác để đáp ứng nhu cầu chi, thực hiện chức năng, nhiệm vụ của nhà nước trong một khoảng thời gian nhất định [16]. Thu NSNN thường được phân loại theo các tiêu chí sau: Căn cứ vào phạm vi phát sinh, các khoản thu NSNN được chia thành 02 loại lớn là thu trong nước và thu ngoài nước. Căn cứ vào tính chất phát sinh và nội dung kinh tế, thu NSNN bao gồm: - Các khoản thu thường xuyên là các khoản thu phát sinh tương đối đều đặn, ổn định về mặt thời gian và số lượng như các khoản thu về thuế, phí, lệ phí, lợi tức cổ phần.

- Các khoản thu không thường xuyên là những khoản thu không ổn định về mặt thời gian phát sinh cũng như số lượng tiền thu được như thu nhận viện trợ nước ngoài, thu từ bán tài sản, tiền phạt. Căn cứ vào hình thức động viên, thu NSNN bao gồm: - Các khoản thu có tính chất bắt buộc như các khoản thu về thuế, phí, lệ phí. Trong đó, thuế là một hình thực động viên bắt buộc của Nhà nước, thuộc phạm trù phân phối, nhằm tập trung một bộ phận thu nhập của các thể nhân và pháp nhân vào NSNN để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước và phục vụ cho lợi ch công cộng. Thuế là khoản thu không hoàn trả trực tiếp.

Thuế không gắn trực tiếp với lợi í ch cụ thể mà người nộp thuế được hưởng từ hàng hóa công cộng do Nhà nước cung cấp. Phí, lệ phí là các khoản thu gắn liền với việc cung cấp các dịch vụ hành chính pháp lý của Nhà nước cho các tổ chức, cá nhân nhằm phục vụ cho công việc quản lý nhà nước theo quy định của pháp luật. Ph thuộc NSNN và lệ ph là các khoản thu bắt buộc có điều 8 kiện, phát sinh thường xuyên, mang tính chất hoàn trả gắn trực tiếp với việc hưởng thụ các hàng hóa dịch vụ công cộng do Nhà nước đầu tư cung cấp có thu phí hoặc lệ phí theo quy định của pháp luật. - Các khoản thu có tính chất tự nguyện như viện trợ, quà tặng.

Các khoản huy động thường chia ra vay nợ trong nước và vay nợ nước ngoài; vay thương mại và vay ODA. Thu khác như thu từ bán tài sản và cho thuê tài sản nhà nước, các khoản thu đối với doanh nghiệp nhà nước. Chi ngân sách nhà nước Chi NSNN là việc sử dụng tiền ngân sách của các cấp chính quyền, các tổ chức cung cấp dịch vụ công và các tổ chức khác nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước trong một khoảng thời gian nhất định [16]. Căn cứ và chức năng của Nhà nước, chi NSNN được chia thành: - Chi xây dựng cơ sở hạ tầng; - Chi hệ thống quản lý hành chính; - Chi cho quốc phòng, an ninh; - Chi toàn án và viện kiểm sát; - Chi hệ thống giáo dục; - Chi hệ thống an sinh xã hội; - Chi hỗ trợ các doanh nghiệp; - Chi các chính sách đặc biệt (Viện trợ nước ngoài, ngoại giao.

Cách phân loại này giúp Chính phủ thiết lập những chương trình hoạt động một cách hợp lý theo những lợi ích hoặc mục đích muốn đạt tới. Căn cứ vào tính chất kinh tế, chi NSNN được chia thành chi thường xuyên và chi đầu tư phát triển. Đây là các phân loại phổ biến vì qua đây Nhà nước s biết những thông tin hữu ch về sự ảnh hưởng của ch nh sách chi tiêu 9 công đối với mọi hoạt động kinh tế xã hội, qua đó giúp Chính phủ thiết lập các chương trình chi tiêu nhằm nâng cao hiệu quả chi tiêu công. * Chi thường xuyên là quá trình phân phối, sử dụng quỹ ngân sách nhà nước để đáp ứng nhu cầu chi gắn với việc thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên của nhà nước về quản lý kinh tế, xã hội.

Chi thường xuyên thường được phân loại như sau: Theo lĩnh vực chi, chi thường xuyên bao gồm: chi giáo dục - đào tạo, chi y tế, chi văn hóa, chi khoa học và công nghệ, chi bảo vệ môi trường, chi quản lý nhà nước, chi an ninh quốc phòng. Theo đối tượng sử dụng kinh ph , chi thường xuyên bao gồm: - Các khoản chi thanh toán cá nhân gồm: tiền lương; phụ cấp lương; học bổng học sinh, sinh viên; phúc lợi tập thể; chi về công tác người có công với cách mạng và xã hội; chi lương hưu và trợ cấp bảo hiểm xã hội; các khoản thanh toán khác cho cá nhân. - Các khoản chi nghiệp vụ chuyên môn gồm: thanh toán dịch vụ công cộng; vật tư văn phòng; thông tin tuyên truyền liên lạc; hội nghị; công tác phí; chi phí thuê mướn; chi sửa chữa thường xuyên; chi phí nghiệp vụ chuyên môn của từng ngành. - Các khoản chi mua sắm, sửa chữa lớn tài sản cố định và xây dựng nhỏ gồm: sửa chữa lớn tài sản cố định phục vụ chuyên môn và các công trình cơ sở hạ tầng; chi mua tài sản vô hình; mua sắm tài sản dùng cho công tác chuyên môn.

- Các khoản chi thường xuyên khác. Theo cấp quản lý, có thể phân thành chi thường xuyên của trung ương, chi thường xuyên của các cấp chính quyền địa phương. * Chi đầu tư phát triển thực chất là việc sử dụng NSNN cho xây dựng cơ bản, điển hình là xây dựng, phát triển hệ thống đường giao thông, bến 10 cảng, các công trình thủy lợi, công trình thủy điện, trụ sở cơ quan hành chính.; sử dụng NSNN vào xây dựng, phát triển hạ tầng xã hội như chi phát triển nguồn nhân lực, chi nghiên cứu, ứng dụng khoa học kỹ thuật công nghệ.; sử dụng NSNN để phát triển các hoạt động kinh tế quan trọng của đất nước. Đây là các khoản chi tạo dựng, phát triển hệ thống cơ sở vật chất, kỹ thuật, năng lực sản xuất lâu dài của nền kinh tế, nên được coi là các khoản chi tích lũy.

Thông qua việc tạo dựng, phát tiển hệ thống cơ sở vật chất, kỹ thuật, năng lực sản xuất, chi đầu tư phát triển góp phần quan trọng vào việc tăng tổng sản phẩm quốc nội, tạo công ăn việc làm trong nền kinh tế. Theo lĩnh vực kinh tế, chi đầu tư phát triển bao gồm: - Chi đầu tư xây dựng cơ bản cho các chương trình, dự án theo quy định của pháp luật; - Chi đầu tư và hỗ trợ cho các doanh nghiệp cung cấp sản phẩm, dịch vụ công í ch do nhà nước đặt hàng; các tổ chức kinh tế, tài chính; đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp theo quy định của pháp luật; - Các khoản chi đầu tư phát triển khác. Theo cấp quản lý, bao gồm chi đầu tư từ ngân sách trung ương, chi đầu tư từ ngân sách địa phương. Đặc điểm của ngân sách nhà nước NSNN có những đặc điểm chính sau: - Thứ nhất, việc tạo lập và sử dụng quỹ NSNN luôn gắn liền với quyền lực kinh tế - ch nh trị của Nhà nước, được Nhà nước tiến hành trên cơ sở những luật lệ nhất định.

NSNN là một bộ luật tài ch nh đặc biệt, bởi l trong NSNN, các chủ thể của nó được thiết lập dựa vào hệ thống các pháp luật có liên quan như hiến pháp, các luật thuế,. nhưng mặt khác, bản thân NSNN cũng là một bộ luật do Quốc hội quyết định và thông qua hằng năm, mang 11 tính chất áp đặt và bắt buộc các chủ thể kinh tế - xã hội có liên quan phải tuân thủ. - Thứ hai, NSNN luôn gắn chặt với sở hữu Nhà nuớc và luôn chứa đựng lợi í ch chung, lợi í ch công cộng. Nhà nuớc là chủ thể duy nhất có quyền quyết định đến các khoản thu - chi của NSNN và hoạt động thu - chi này nhằm mục tiêu giúp Nhà nuớc giải quyết các quan hệ lợi ích trong xã hội khi Nhà nuớc tham gia phân phối các nguồn tài chính quốc gia giữa Nhà nuớc với các tổ chức kinh tế - xã hội, các tầng lớp dân cu.

- Thứ ba, NSNN là một bản dự toán thu chi. Các cơ quan, đơn vị có trách nhiệm lập NSNN và đề ra các thông số quan trọng có liên quan đến chính sách mà Chính phủ phải thực hiện trong năm tài khóa tiếp theo. Thu, chi NSNN là cơ sở để thực hiện các ch nh sách của Ch nh phủ. Ch nh sách nào mà không đuợc dự kiến trong NSNN thì s ẽ không đuợc thực hiện.

Chính vì nhu vậy mà, việc thông qua NSNN là một sự kiện chính trị quan trọng, nó biểu hiện sự nhất trí trong Quốc hội về chính sách của Nhà nuớc.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ