Đặt vấn đề Cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính toàn cầu 2008 đã gây ra tổn thất vô cùng to lớn đối với nền kinh tế thế giới nói chung và kinh tế Việt Nam nói riêng: GDP toàn cầu sụt giảm mạnh, tình hình thất nghiệp gia tăng dẫn đến nhiều vấn nạn xã hội xuất hiện. Trước tình hình đó, nhiều quốc gia đã tung ra các gói kích cầu nhằm cứu nguy cho nền kinh tế: Gói kích cầu 170 tỷ USD của chính phủ Mỹ năm 2008 và gói kích cầu thứ hai vào năm 2009 dưới thời kỳ Tổng thống Barack Obama trị giá 787 tỷ USD; Trung Quốc cũng tung ra gói kích cầu 4000 tỷ Nhân dân tệ (586 tỷ USD) vào năm 2009; Việt Nam cũng thực hiện hai gói kích cầu vào đầu năm 2009 trị giá 9 tỷ USD và gói kích cầu thứ hai vào cuối năm. Tuy nhiên sau những hành động này của Chính phủ thì việc thâm hụt ngân sách gia tăng điều không thể tránh khỏi. Theo báo cáo của Văn phòng ngân sách Quốc hội Mỹ công bố ngày cho thấy, mức thâm hụt ngân sách trong năm tài chính 2009, kết thúc vào ngày 30-9 là 1400 tỷ USD, tương đương với 9,9% GDP.
Vào năm 2008, thâm hụt ngân sách của Mỹ đạt 459 tỷ USD. Đây là mức thâm hụt lớn nhất kể từ năm 1945. Ở Việt Nam, thâm hụt ngân sách sau khi phát hành các gói kích cầu cũng ở mức báo động, nếu thâm hụt ngân sách năm 2008 là 3,8% so với GDP thì năm 2009, 2010 đã vượt lên mức 10% và 7,8% (theo số liệu của IMF). Sự tăng lên trong thâm hụt ngân sách chính phủ không những sẽ làm cho tình hình nợ quốc gia trở nên trầm trọng hơn mà còn tác động đến các yếu tố vĩ mô quan trọng khác như cán cân TKVL, lãi suất thực hay tỉ giá hối đoái thực.
Liên quan đến TKVL, các nhà nghiên cứu đều cho rằng thâm hụt TKVL xuất phát từ sự mất cân bằng trong kinh tế vĩ mô và điều này có ảnh hưởng lớn đến phát triển kinh tế trong dài hạn. Một trong các biện pháp mà các nhà hoạch định chính sách kiểm soát thâm hụt TKVL là thông qua chính sách tài khoá. Tuy nhiên theo mô hình lý thuyết Keynes 1936, mối quan hệ giữa thâm hụt TKVL và thâm hụt NSNN là cùng chiều, tức là thâm hụt ngân sách và thâm hụt TKVL xuất hiện đồng thời. Hiện tượng này có tên là TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.viet 4 “Thâm hụt kép”, xuất hiện lần đầu tiên ở Hoa Kỳ vào những năm 1980, lúc này đồng USD được đánh giá cao và sự thay đổi bất thường trong TKVL cũng như thâm hụt ngân sách ở Mỹ.
Các nước ở Châu Âu như Đức, Thuỵ Điển cũng đối mặt với vấn đề tương tự trong những năm đầu của thập niên 90. Lý thuyết thâm hụt kép cho rằng một sự gia tăng trong thâm hụt ngân sách sẽ gây ra một sự gia tăng trong thâm hụt TKVL thông qua sự gia tăng giá trị đồng nội tệ và ngược lại. Mối liên hệ của tình trạng này có thể được lý giải khi quốc gia đó trải qua sự bùng nổ đầu tư, thâm hụt TKVL có thể làm giảm tốc độ tăng trưởng của đất nước hoặc tăng vay nợ nước ngoài, bán các tài sản cố định, tài sản tài chính… Vì vậy, thâm hụt TKVL liên tục làm cho quốc gia tăng nợ nước ngoài và kết quả là tăng thâm hụt ngân sách. Về mặt lý thuyết, các cơ chế đằng sau tình trạng thâm hụt kép có thể được giải thích thông qua học thuyết Keynes.
Ông xem xét sự thay đổi ngân sách Chính phủ là yếu tố chính làm thay đổi các biến số kinh tế. Khi thâm hụt NSNN tăng lên do việc giảm thuế hay tăng chi tiêu là nguyên nhân chính làm tăng tổng chi tiêu của nền kinh tế, kéo theo sự tăng lên của lạm phát và lãi suất. Lãi suất tăng ảnh hưởng đến nền kinh tế trong nước và dòng vốn nước ngoài vào tăng cao. Điều này dẫn đến giá trị đồng nội tệ tăng cao, kích thích nhập khẩu nhưng hạn chế xuất khẩu.
Chính ảnh hưởng này làm cho thâm hụt TKVL tăng cao. Sự xuất hiện đồng thời giữa thâm hụt ngân sách và thâm hụt TKVL ở rất nhiều nước đã thu hút sự chú ý ngày càng tăng của nhiều nhà nghiên cứu về vấn đề thâm hụt kép và đã có nhiều bài nghiên cứu lý thuyết cũng như thực nghiệm của nhiều tác giả để kiểm định giả thuyết này. Tuy nhiên, theo bài nghiên cứu gần đây của hai tác giả Soyoung Kim, Nouriel Roubini 2008 ở Mỹ từ năm 1973 – 2004 cho rằng có sự biến động trái chiều giữa thâm hụt NSNN và thâm hụt TKVL, tức là khi thâm hụt NSNN tăng lên thì TKVL được cải thiện. Trong dữ liệu thu thập được từ Quý 1–1994 đến Quý 1-2014 ở Việt Nam, tác giải nhận thấy có một số thời kỳ có sự biến động trái chiều giữa thâm hụt NSNN và thâm hụt TKVL.
Dù vậy, đó chỉ là một số nhận định ban đầu, còn mối quan hệ thật sự giữa hai đại lượng này như thế TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.viet 5 nào, chúng ta phải tiến hành nghiên cứu chi tiết dựa theo bài nghiên cứu của hai tác giả trên. Với mục đích làm rõ mối quan hệ đó, tác giả đi sâu vào nghiên cứu thực nghiệm tác động của các cú sốc tài khóa lên TKVL và lấy tên đề tài là “Bộ đôi thâm hụt hay biến động trái chiều – Ngân sách Nhà nước, Tài khoản vãng lai và Tỷ giá hối đoái thực ở Việt Nam”.2 Mục tiêu nghiên cứu Bài nghiên cứu nhằm mục tiêu trả lời mối quan hệ giữa thâm hụt NSNN và thâm hụt TKVL ở Việt Nam. Giúp các nhà hoạch định kinh tế có được cái nhìn rõ ràng hơn về hai đại lượng này và đưa ra những chính sách vĩ mô phù hợp để phát triển kinh tế đất nước một cách bền vững.3 Câu hỏi nghiên cứu Dựa trên quá trình nghiên cứu, tìm hiểu tác động giữa chính sách tài khoá mở rộng đến cán cân TKVL và tỷ giá hối đoái thực ở Việt Nam. Với mong muốn hoàn thành được mục tiêu nghiên cứu của đề tài, bài nghiên cứu tập trung giải quyết các vấn đề sau: - Tồn tại bộ đôi thâm hụt hay bộ đôi đối nghịch giữa NSNN và TKVL? - Các cú sốc thâm hụt NSNN tác động như thế nào đến từng thành phần của TKVL và tỷ giá hối đoái thực? 1.4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài là NSNN, TKVL, tỷ giá hối đoái thực và mối quan hệ giữa ba yếu tố này.
Trong đó đặc biệt quan tâm đến tác động giữa NSNN và TKVL tuân theo lý thuyết Bộ đôi thâm hụt hay Bộ đôi đối nghịch. Bên cạnh đó, tác giả còn xem xét đến tác động của sản lượng, lãi suất, các thành phần của NSNN và TKVL với nhau. Phạm vi nghiên cứu được thể hiện qua không gian và thời gian nghiên cứu sau: TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.viet 6 - Không gian nghiên cứu: mối quan hệ giữa NSNN và TKVL trên lãnh thổ Việt Nam. - Thời gian nghiên cứu: xem xét tương quan này từ Quý 1-1994 đến hết Quý 1-2014.5 Phƣơng pháp nghiên cứu Đầu tiên tác giả sử dụng phương pháp định tính nhằm nhận dạng mối quan hệ giữa thâm hụt NSNN và thâm hụt TKVL dựa theo kết quả của các bài nghiên cứu trước.
Sau đó sử dụng phương pháp phân tích định lượng, cụ thể là mô hình VAR để kiểm định tương tác giữa các biến số này, dựa trên dữ liệu thu thập được. Bên cạnh đó, tác giả cũng tiến hành các kiểm định tính dừng của phần dư, AR Roots Graph để kiểm tra tính phù hợp của mô hình, kiểm định nhân quả Granger khi xem xét tác động giữa các biến. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.viet 7 CHƢƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC MÔ HÌNH LÝ THUYẾT VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TRƢỚC Thông thường, chúng ta ủng hộ quan điểm thâm hụt sẽ gây ra tác động tiêu cực. Nhưng thực tế không hẳn vậy, khi thâm hụt ngân sách là do chi đầu tư phát triển, Nhà nước dựa vào nguồn vốn nước ngoài như ODA, FDI để đáp ứng nhu cầu chi tiêu thì trạng thái thâm hụt đó là tốt, vì đó là động thái chủ động của Chính phủ dựa vào nguồn lực bên ngoài để phát triển kinh tế nước nhà.
Ngược lại, nếu thâm hụt ngân sách là do không đáp ứng đủ nhu cầu chi thường xuyên, hoặc chi đầu tư vào những dự án không hiệu quả gây lãng phí nguồn lực quốc gia thì trạng thái này không tốt, kết quả là Chính phủ phải đi vay nợ nước ngoài, từ đó làm gia tăng gánh nặng nợ nước ngoài và không có nguồn thu trong tương lai để chi trả. Về phía TKVL, nếu xét một cách tổng quát thì TKVL bao gồm xuất khẩu, nhập khẩu, thu nhập yếu tố ròng từ nước ngoài và chuyển nhượng ròng. Nhưng phần lớn thâm hụt này là do thâm hụt thương mại gây ra, tình trạng này xuất hiện khi xuất khẩu nhỏ hơn nhập khẩu. Vậy vấn đề thâm hụt TKVL tốt hay là xấu? Câu trả lời là tùy thuộc vào tình hình kinh tế vĩ mô, cũng như phụ thuộc vào tình hình tài khoản vốn.
Có một điểm cần nhấn mạnh là bản thân việc thâm hụt này về nguyên tắc là không tốt và cũng không xấu. Để đưa ra một nhận xét về mức độ thâm hụt TKVL của một quốc gia, chúng ta cần phải xem xét từng trường hợp cụ thể, không thể chỉ nhìn vào con số thâm hụt/thặng dư thương mại (hay thâm hụt/thặng dư TKVL) để cho rằng tốt hay xấu. Tuy nhiên, có một quan niệm phổ biến không chỉ ở Việt Nam là thâm hụt TKVL là không tốt, thể hiện một nền kinh tế yếu kém và ngược lại thặng dư TKVL thể hiện một nền kinh tế có khả năng cạnh tranh tốt. Mặc dù trong nhiều trường hợp, quan niệm trên không phải là không đúng, nhưng theo lý thuyết kinh tế thì không hẳn là như vậy.
Khi tìm hiểu sâu hơn chúng ta vẫn có thể thấy trường hợp thâm hụt TKVL thể hiện một nền TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.viet 8 kinh tế đang tăng trưởng tốt, có nhiều cơ hội đầu tư với lợi nhuận cao, và khi nhu cầu đầu tư cao hơn khả năng tiết kiệm trong nước, điều này sẽ làm cho các dòng vốn nước ngoài chảy vào quốc gia đó để đáp ứng nhu cầu đầu tư, tức là một quốc gia có thể sử dụng nguồn lực của nước khác để phát triển kinh tế trong nước.