Chương 1: Đặc điểm, thực trạng giá gạo trong nước 1.1 Sự hình thành giá cả Trên lý thuyết kinh tế học, giá cả được hình thành từ cân bằng cung cầu của hàng hóa, dịch vụ. Các thay đổi từ sản lượng, tiêu dùng tác động trực tiếp đến giá cả trên thị trường. Nói cách khác, xã hội phải quyết định sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào, sản xuất cho ai thông qua thị trường. Khi có sự biến động về sản lượng hay/và mức tiêu dùng kéo theo sự thay đổi giá hàng hóa trên thị trường.
Do đó, tác giả sử dụng lập luận chính dựa trên mô hình tổng cung – tổng cầu để xem xét các nhóm yếu tố tác động đến giá gạo trong nước, từ đó gợi ý các giải pháp nhằm bình ổn giá gạo trong nước. Ở thị trường gạo nội địa, nguồn cung bắt đầu từ người sản xuất (hộ nông dân, trang trại, hợp tác xã) qua các tầng nấc trung gian thương lái, hàng xáo, doanh nghiệp chế biến đến người tiêu dùng thông qua hộ bán sỉ, hộ bán lẻ, siêu thị 4 …Về F F phía cầu, lượng tiêu dùng nội địa bao gồm cho các mục đích lương thực, chăn nuôi, chế biến, dự trữ, hao hụt. Thương lái, Nông hộ, hàng xáo, cơ Hộ bán sỉ, trang trại, hợp sở, doanh hộ bán lẻ, Người tiêu tác xã nghiệp chế siêu thị dùng biến Thu gom, Sản xuất chế biến Phân phối Tiêu thụ Cung nội địa Cầu nội địa Sơ đồ 1.1 : Cơ cấu thị trường lúa, gạo nội địa 4 Theo khảo sát của ArgoInfo năm 2009, thông tin được lấy từ http://www.vn/news/newsdetail.aspx?targetid=14379 ngày 3/5/2010 HU UH LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Ở các thời điểm bình thường (không có khủng hoảng lương thực), nguồn cung nội địa là sự thống nhất từ khâu sản xuất, thu gom, chế biến đến phân phối trước khi đến tay người tiêu dùng. Hệ số tương quan giữa giá lúa và gạo tẻ thường tại Đồng bằng sông Cửu Long cao, trên 0,89.
Kênh phân phối tỏ ra có hiệu quả (Lưu Thanh Đức Hải, 2005) và đã cung cấp cho thị trường đúng đủ số lượng, chủng loại đáp ứng yêu cầu của người tiêu dùng. 9000 8000 7000 6000 5000 4000 3000 2000 1000 0 tẻ thường Biểu đồ 1.1: Diễn biến giá lúa và giá gạo tẻ thường tại Đồng bằng sông Cửu Long theo tuần trong năm 2009 Nguồn: Số liệu thống kê của VFA 5 F 1.2 Sự cân bằng cung cầu Ở những thời điểm xác định, giá cả được xác định tại điểm cắt nhau của đường cung và đường cầu, nơi mà lượng cung đúng bằng lượng cầu. Tuy nhiên, thị trường vẫn có các trường hợp không tồn tại cân bằng. Có thể rằng với mọi mức giá lượng cung vẫn còn dư hay có thể luôn thiếu hụt so với cầu.
5 Số liệu được ghi nhận từ trang thông tin điện tử của Hiệp hội lương thực Việt Nam, theo địa chỉ http://www.vn/vn/default.apx?n=5674 ngày 30/7/2010 HU UH LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Đối với sản phẩm lúa gạo, thực trạng trong giai đoạn 2000-2008 cho thấy lượng cung vẫn đảm bảo đủ tiêu dùng trong nước, dôi dư trên 5 triệu tấn gạo cho xuất khẩu (VFA, 2008). Tuy nhiên trong dài hạn sự cân bằng này có nguy cơ không tồn tại do cung không đủ cầu.1 Thực trạng nguồn cung Diện tích gieo trồng lúa tăng đều từ thập niên 90, đạt đỉnh năm 2000 là 7.666 ngàn ha, từ đó sụt giảm chậm dần đều còn 7. Sự sụt giảm diện tích gieo trồng diễn ra ở cả 3 mùa vụ. 9000 8000 7000 6000 5000 4000 3000 2000 1000 0 số Đông xuân Hè thu Thu đông Biểu đồ 1.2 : Diện tích gieo trồng lúa cả nước giai đoạn 1990 - 2007 Nguồn: AgroInfo, 2008 Theo số liệu cuộc điều tra nông hộ 2008, hộ nông dân trồng lúa có thu nhập trung bình năm thấp hơn 23% so với các hộ trồng các loại hoa, màu khác.
Đất đai có tính chất hữu hạn, đồng thời lợi nhuận biên trồng lúa trở nên thấp hơn so với các giống cây trồng khác, ngành khác là động cơ để người nông dân chuyển đổi cây trồng, ngành kinh tế. Bên cạnh đó, Việt Nam đang trong quá trình đô thị hóa nhanh trong 2 thập niên gần đây. Tốc độ đô thị hóa tăng 1,4 điểm phần trăm trong 10 năm, giai đoạn 1986 – 1995, đã bùng phát tăng 3,5 điểm phần trăm ở giai đoạn 1995 – LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 2000 và tăng lên 3,7 điểm phần trăm trong 8 năm ở giai đoạn 2000-2008 (phụ lục 10). Đáng chú ý là sự suy giảm tăng trưởng năng suất.
Năng suất giai đoạn 2000- 2009, nhìn chung tăng ở cả 3 mùa vụ. Tốc độ tăng trưởng trung bình giai đoạn 2000-2009 tương ứng theo mùa vụ Đông Xuân, Hè Thu, Lúa mùa lần lượt là: 2,0%/năm, 3,2%/năm, 3,3%/năm. Việc tăng năng suất mùa vụ đã góp phần tăng năng suất trung bình cả nước. 65 60 55 tạ/ha 50 45 40 35 Năm Năm Năm Năm Năm Năm Năm Năm Năm Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 Cả nước Đông Xuân Hè Thu Lúa mùa Biểu đồ 1.3: Năng suất lúa giai đoạn 2000-2009 theo mùa vụ Nguồn: Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn, 2009 Tốc độ tăng trưởng có xu hướng giảm dần trong những năm gần đây.
Giai đoạn 2000-2005 tốc độ tăng trưởng năng suất là 2,9%/năm giảm xuống còn 2% năm ở giai đoạn kế tiếp 2005-2009. Nguyên nhân có từ các hiện trạng các yếu tố cấu thành năng suất. Một là, nguồn giống lúa tốt thiếu, không có sự đột phá, một phần phụ thuộc vào nguồn giống Trung Quốc. Hệ thống cung cấp giống chính quy chỉ đủ năng lực đáp ứng được 34% (Dương Văn Chín, 2008).
Hai là, tăng trưởng năng suất trong thập niên qua có sự đóng góp lớn từ sự tăng các yếu tố đầu vào đặc biệt là phân bón và thuốc trừ sâu đã góp phần không nhỏ đến tăng trưởng sản lượng. Tuy nhiên tăng trưởng năng suất dựa LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 trên sự đóng góp của tăng yếu tố đầu vào sẽ giảm dần khi đạt mức đến hạn nếu không có cải tiến, ứng dụng của công nghệ mới. Thống kê của Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn tại An Giang, từ năm 2001 đến 2007, chi phí cho phân bón tăng trên 2,5 lần, thuốc trừ sâu tăng 5 lần trong khi năng suất tăng thêm chưa đến ½ đối với mỗi hecta. Ba là, tăng trưởng năng suất ở từng mùa vụ góp phần vào tăng trưởng năng suất cả năm.
Sự gia tăng cấu phần có năng suất cao đóng góp làm năng suất trung bình cả nước tăng, tuy nhiên không thể giữ tăng trưởng trung bình lâu dài bằng tăng trưởng trọng số vì diện tích canh tác ở vụ Đông Xuân cũng chỉ có giới hạn. Bốn là, hệ số sử dụng đất canh tác cao (từ 1.79), gieo trồng nhiều vụ trên một diện tích canh tác, góp phần làm cho đất đai trở nên cằn cỗi, người sản xuất ít có điều kiện cải tạo nguồn đất phục vụ sản xuất ở vụ tiếp theo. Từ thực trạng diện tích gieo trồng giảm dần, năng suất có xu hướng giảm tốc độ tăng trường cho thấy nguồn cung có xu hướng giảm nhanh mức tăng trưởng 1.2 Thực trạng cầu Đối với nhu cầu tiêu dùng gạo của Việt Nam có xu hướng tăng do dân số của Việt Nam tăng liên tục trong suốt giai đoạn 2000 – 2008. Cụ thể, dân số năm 2000 của Việt Nam chỉ có 78,6 triệu người nhưng đến năm 2008 đã đạt trên 87 triệu người.
Tốc độ tăng trưởng bình quân của dân số giai đoạn này là 1,3%/năm (Phụ lục 10). Xét ở hộ gia đình, tiêu dùng cho lương thực bình quân có xu hướng giảm do xu hướng giảm ăn tinh bột (chủ yếu là gạo), làm cho cầu tiêu dùng trong ngắn hạn ít biến động do hơn 75% lượng gạo được sử dụng với mục đích làm lương thực (Phụ lục 5). Xét trên nguyên tắc, tổng cung phải bằng tổng cầu, nghĩa là: Sản Hao hụt, chăn Tiêu dùng gộp trong nước Xuất = + + lượng nuôi, chế biến (lương thực, hạt giống, dự trữ) khẩu LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 Sản lượng thu hoạch trừ đi phần tiêu dùng gộp trong nước, bao gồm cho lương thực 6 , hạt giống, dự trữ, và trừ đi lượng xuất khẩu thì còn lại là phần dành F F cho chăn nuôi, chế biến và lượng hao hụt. Vậy, trong khi sản lượng tăng 2,3%/năm, tiêu dùng tăng 1,8%, thì tổng lượng hao hụt, chăn nuôi, chế biến tăng 2,7%/năm giai đoạn 2000-2008, chiếm trên 18% tổng sản lượng ở năm 2008.
Trong đó, sự gia tăng tỷ lệ hao hụt (tăng trung bình 2,4%/năm giai đoạn 2000-2008) có nguyên nhân là do sản lượng tăng nhanh mà năng lực dự trữ thấp (hệ thống kho bãi, xử lý lúa trước bảo quản…chỉ đáp ứng được 1/4 sản lượng gạo hàng hóa), công nghệ sau thu hoạch lạc hậu (Chu Tiến Quang, 2009) chưa đáp ứng được yêu cầu phục vụ cho tăng trưởng sản lượng. Với số liệu lịch sử giai đoạn 2000-2008 và xu hướng của sự tăng/giảm của sản lượng và tiêu dùng tính đến năm 2020 thì nhu cầu lúa cần trên 39,6 triệu tấn/năm. Trong đó, tiêu dùng chiếm 66% (54% năm 2008), hao hụt, chăn nuôi, chế biến chiếm 24% (18% năm 2008) trong tổng cầu lúa, gạo trong nước (Phụ lục 11). 40 Xuất khẩu quy đổi lúa 30 Tiêu dùng quy đổi lúa triệu tấn Chăn nuôi, chế biến 20 Sử dụng hạt giống Dự trữ lúa Hao hụt 10 Sản lượng lúa 0 2000 2005 2008 2010 2015 2020 Biểu đồ 1.4 : Sản lượng, tiêu dùng, hạt giống, dự trữ, hao hụt, xuất khẩu giai đoạn 2000-2020 Nguồn: Tác giả tính toán dựa trên số liệu thống kê của GSO, 2008 6 Bao gồm cả thức uống và các sản phẩm chế biến như rượu, bánh tráng,bún…ở hộ gia đình LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 Để cân đối cung cầu, thì sản lượng sau khi trừ đi lượng hao hụt, chăn nuôi, tiêu dùng trong nước, lượng dôi dư còn lại dành cho xuất khẩu, thì đến năm 2020, Việt Nam chỉ còn dôi dư giành cho xuất khẩu được trên 300 ngàn tấn gạo, xấp xỉ 7,5% lượng xuất khẩu năm 2008, 1,4% tổng sản lượng lúa.
Lượng xuất khẩu trong tương lai có xu hướng sụt giảm mạnh, do tổng cầu trong nước tăng nhanh hơn tốc độ tăng của sản lượng. Một khi lượng dôi dư để điều tiết ngày càng giảm, giá gạo càng trở nên nhạy cảm với biến động của sản lượng. Do đó, về dài hạn cầu có xu hướng tăng, do dân số tăng nhanh mà diện tích có xu hướng giảm dần trong điều kiện chưa có đột phá về năng suất.