CHƯƠNG 1 KHÁI NIỆM CHUNG VỀ BIỂU TƯỢNG 1. Định nghĩa và nguồn gốc của biểu tượng 1. Khái niệm “biểu tượng” Biểu tượng là một loại “ký hiệu” cổ xưa, ra đời trong buổi bình minh của lịch sử nhân loại. Biểu tượng được xem như là “vật thay thế” của tư duy trong tiến trình phát triển nhận thức của con người.
Hơn nữa, biểu tượng còn là con đẻ của sự liên tưởng và sự tưởng tượng, nó giúp cho người ta khám phá và nhận thức ra một thế giới đầy ý nghĩa, phong phú và đa dạng, nhằm truyền đạt những thông tin và khơi dậy những cảm xúc thường có trong “đời sống tâm lý” của con người. Ngày nay, vai trò của biểu tượng trong hoạt động xã hội của con người đã được quan tâm và nghiên cứu một cách sâu sắc với tinh thần khoa học. Trí tưởng tượng không còn bị xem nhẹ như trước đây mà nó đã được xác định lại vị trí và được coi là “mặt thứ hai của lý trí”. Không những vậy, biểu tượng còn là nguồn cảm hứng cho các tìm tòi khám phá.
Điều đó đã được khẳng định là do phần lớn những hư cấu viễn tưởng có giá trị tiên báo mà khoa học đã từng bước xác minh. Chính vì vậy, hiện nay biểu tượng đang ngày được quan tâm. Vấn đề “giải mã” biểu tượng đang được nhiều ngành hướng tới như tâm lý học, xã hội học, triết học, văn hoá học, Dân tộc học, Nhân học văn hoá… Vậy, “biểu tượng” (symbol) là gì? Thuật ngữ “Biểu tượng” bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp: “Sumbolum” là dấu hiệu, có nghĩa tương ứng với các từ: ký hiệu (sign), hoặc tín hiệu (signal). Cũng có thuyết cho rằng, chữ Symbol bắt nguồn từ động từ Hy Lạp “Symballo” có nghĩa là: “ném vào vị trí”, “liên kết”, “suy nghĩ về”, “thoả thuận”, “ước hẹn”… 14 Từ điển Petit Larousse định nghĩa: “Biểu tượng là một dấu hiệu hình ảnh, con vật sống động hay đồ vật biểu hiện một điều trừu tượng, nó là hình ảnh cụ thể của một sự vật hay một điều gì đó”.
Người Trung Hoa quan niệm “biểu” có nghĩa là “dấu hiệu”, “tỏ rõ”, “bày ra”… để người ta nhận biết về một điều gì đó; “tượng” có nghĩa là “hình trạng”, “hình tượng”…Do vậy, biểu tượng là một hình tượng nào đó được phô bày ra tạo thành một dấu hiệu tượng trưng, nhằm diễn đạt một ý nghĩa nào đó mang tính trừu tượng. Để cụ thể hoá một ý niệm trừu tượng nào đó, con người đã chọn một hình ảnh, một tên gọi để diễn đạt một điều vô hình, vô hạn, bất khả tri. Như vậy, biểu tượng là tín hiệu hai mặt, cái biểu thị là dạng thức tồn tại hình tượng hoá hay tên gọi và cái được biểu thị là những giá trị của ý niệm ẩn dấu bên trong nó. Con người sống đồng thời với ba thế giới : thế giới thực tại - tồn tại khách quan, là cái có trước và độc lập với nhận thức của con người ; thế giới ý niệm – là hình ảnh về thế giới thực tại được con người cảm nhận bằng khả năng tri giác của bản thân ; và thế giới biểu tượng - tức là hình ảnh về thế giới hiện thực được con người cảm nhận qua thế giới ý niệm.
Qua thế giới biểu tượng, con người có thể tư duy và thông báo cho nhau bức tranh về thế giới ý niệm nằm trong đầu anh ta. Do vậy, biểu tượng là vật thay thế, là cầu nối giữa thế giới ý niệm và thế giới thực tại bằng cách đưa cái vô hình, vô hạn, vô khả tri vào cái hữu hình, hữu hạn, khả tri, làm cho con người có thể cảm nhận được cái thế giới ý niệm trong mỗi cá nhân. Thế giới ý niệm giúp cho con người ngày càng xích lại gần nhau hơn. Nguồn gốc của biểu tượng Theo quan điểm mác - xít thì “ngôn ngữ là hiện thực của ý thức” (K.
Chính lao động và ngôn ngữ đã góp phần biến đổi người vượn trở thành người. Nhờ vào hoạt động trí tuệ mà sức mạnh của tập đoàn người và sức mạnh của mỗi cá nhân sống trong tập đoàn đó được nâng lên gấp bội. 15 Trong buổi bình minh của lịch sử đó, những cuộc cách mạng về trí năng, về sự sáng tạo ra các công cụ sản xuất cũng lần lượt xuất hiện cùng với sự ra đời của ngôn ngữ. Điều đó đã thúc đẩy nhanh chóng quá trình sống kiểu quần thể bầy bàn - vượn người lên đời sống xã hội của loài người.
Con người đã vượt lên bản chất động vật của chính mình để trở thành “con người xã hội”. Nhờ có hoạt động ngôn ngữ, loài người có thể giao tiếp với nhau và truyền thông cho nhau những kinh nghiệm đã được đúc kết trong lao động, trong chiến đấu cũng như trong hoạt động trí tuệ. Trong xã hội nguyên thuỷ, chính nhờ vào hoạt động trí tuệ này mà sức mạnh của nhóm, của cộng đồng và từng cá nhân sống trong cộng đồng đó ngày càng tăng lên gấp bội. Đó là cơ sở đảm bảo cho sự thắng lợi của con người trong đấu tranh sinh tồn và trong lao động chinh phục tự nhiên.
Tuy nhiên, ở thưở bình minh lịch sử ấy, trước khi có chữ viết ra đời, hoạt động lời nói của con người còn bị hạn chế và bị bó hẹp trong không gian và thời gian hữu hạn. Do vậy, ngoài lời nói ra, họ còn dùng những phương tiện ngoài ngôn ngữ, đó là những “ngôn ngữ không lời” bao gồm: hình vẽ, tranh khắc, điệu bộ, cử chỉ, dấu hiệu và các ký hiệu đơn giản hoặc phức tạp khác. Ngay từ thời nguyên thuỷ, khi mà tiếng nói còn rất nghèo nàn thì điệu bộ, cử chỉ, nét mặt của con người đã có vai trò rất lớn trong quá trình giao tiếp giữa con người với nhau, nhất là trong hoàn cảnh khi mà tiếng nói chưa định hình đầy đủ và ở trong điều kiện có sự khác biệt về ngôn ngữ. Chúng là những dạng thức nguyên mẫu được sao chép từ trong cuộc sống thực tế, đã được “cách điệu hoá” cao, gần như là những “ký hiệu nghệ thuật”, để sử dụng trong mọi sinh hoạt của người nguyên thuỷ với mục đích tạo ra những “tín hiệu thông tin” trong hoạt động giao tiếp của họ.
Có thể đọc ra một số “danh từ” của thứ “ngôn ngữ đặc biệt” nằm trong trang từ điển những “ký hiệu hình ảnh” của người tiền sử: 16 -“Cái cung”: một tay ra hiệu cầm cái cung vô hình, tay kia ra hiệu cầm dây cung bằng sự tưởng tượng. - “Túp lều”: giơ hai tay chắp chéo, hình dung ra mái nhà nhọn hình chữ A. - “Chó sói”: một bàn tay giơ hai ngón ra biểu thị hai cái tai của con sói. - “Cá”: bàn ta để dứng theo chiều dọc, quẫy đi quẫy lại.
- “Mây đen”: hai nắm tay để trên đầu, mô tả mây đang treo lơ lửng trên đầu. - “Tuyết”: hai nắm tay giơ cao trên đầu, rồi từ từ mở ra và hạ xuống theo đường ngoằn ngoèo như bông tuyết rơi. - “Ngôi sao”: hai ngón tay, khi thì chụm lại, khi thì xoè ra lơ lửng ở trên đầu biểu thị ngôi sao lấp lánh. [27, tr29] Như vậy mỗi “tiếng” chính là một hình ảnh vẽ bằng tay trên không khí.
Cũng như những chữ viết cổ xưa là những hình vẽ (chữ tượng hình Trung Quốc và Ai Cập), thì có lẽ, những điệu bộ nguyên thuỷ cũng chính là một thứ ngôn ngữ mang tính “tượng trưng” đầu tiên của loài người – loại hình “ngôn ngữ điệu bộ”. Những điệu bộ tự nhiên đó đều là những “ký hiệu”, hoạt động theo những quy ước đã định sẵn mà ý nghĩa của nó có thể thay đổi tuỳ theo từng cộng đồng người. Thứ “ngôn ngữ câm” đó vẫn tồn tại theo thời gian và đời sống của con người. Bởi lẽ, trong từng hoạt động nhất định của đời sống con người (như trong ứng xử, giao tiếp, trong trao đổi và dự báo thông tin, hoặc trong các lễ thức tín ngưỡng…), ký hiệu đã đem lại hiệu quả đáng kể và có những điều thuận lợi.
Đôi khi chỉ cần một vài động tác cũng có thể thông báo một tin tức quan trọng. Ngoài ngôn ngữ điệu bộ và lời nói là ngôn ngữ chủ yếu giúp cho người nguyên thuỷ nhận thức và giao tiếp, họ còn dùng những “vật thay thế” để đưa tin từ nơi này đến nơi khác. Đó là các “thẻ truyền tin” bằng gỗ, trên có những 17 nét khắc vạch tạo thành “mã ký hiệu” để người đưa tin sẽ dựa vào đấy mà truyền đạt thông tin. Đây là một hình thức “ký hiệu” của người nguyên thuỷ.
Việc thông tin trực tiếp tại chỗ như muốn thông báo: chỗ này là khu vực nguy hiểm, chỗ kia là nơi có thú dữ, chỗ khác là bãi săn thú tốt, có thể săn bắn được. Thay vì phải thông báo chỉ dẫn trực tiếp thì họ dùng vật thực để làm “vật thay thế” cho ngôn từ, như: hình ảnh một chiếc đầu lâu treo trên bìa rừng, xác một con rắn đặt trên tảng đá ven đường hoặc một cái sừng hươu gác bên bờ suối nào đó sẽ có giá trị như là một “ký hiệu” khuyến cáo, nhắc nhở mọi người trong cộng đồng biết được nơi nào có nhiều thú dữ, rắn độc nên tránh xa, hoặc nơi kia có nhiều hươu nai, là bãi săn lý tưởng… Theo nhận định của Giáo sư Đặng Đức Siêu, thì “điều này vốn bắt nguồn từ tính cụ thể trong lối tư duy của người cổ xưa mà chứng tích còn tìm thấy trong hoạt động ngôn ngữ của họ” [27, tr31] Theo các tư liệu Khảo cổ học và Dân tộc học, hình vẽ và dấu hiệu – ngôn ngữ không lời, cũng đã xuất hiện ngay trong thời tiền sử, ở giai đoạn hậu kỳ đồ đá cũ (40.000 đến 9000 năm TCN) với những tranh khắc vẽ trên vách động. Phần lớn các nhà nghiên cứu cho đó là “ký hiệu ma thuật săn thú”, nhưng dù sao cũng có thể gọi những người sáng tạo ra các bức bích hoạ đó là những “nghệ sỹ”, không chỉ vì họ biết minh hoạ những con vật trong tự nhiên, mà vì sự tinh tế và hoàn mỹ đến mức kinh ngạc của những “tác phẩm” của họ. Bên cạnh những bức hoạ có mục đích thông báo tin tức và mang tính chất lễ thức “ma thuật”, còn có sự xuất hiện trên các vách hang động, trên đá, mảnh xương…nhiều nét vạch rất lạ lùng, bí ẩn.
Những nét khắc vạch đó có lẽ không phải là ngẫu nhiên bởi chúng được thể hiện khá tỉ mỉ và được lặp lại với độ chính xác cao trong số hàng trăm hình ảnh khác nhau, theo phong cách ước lệ hay trừu tượng mang “tính biểu tượng”.