Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu. Chương 2: Nguồn gốc sinh thành các biểu tƣợng trong thơ ca Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945. Chương 3: Biểu tƣợng nghệ thuật tiêu biểu trong Phong trào Thơ mới Việt Nam giai đoạn 1932 - 1945. Chương 4: Biểu tƣợng nghệ thuật tiêu biểu trong thơ Cách mạng Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945.
9 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Nghiên cứu biểu tƣợng từ góc nhìn lý thuyết 1. Khái lược về biểu tượng Biểu tƣợng (symbol) là ngôn ngữ cơ bản, với ý nghĩa vừa rộng lớn nhất vừa cô đọng nhất của một nền văn hóa. Thậm chí, ở trong những phạm vi nhất định, có thể coi nó là dấu hiệu nhận biết và phân biệt các nền văn hóa khác nhau trên thế giới.
Trên nhận thức nền tảng là biểu tƣợng có mặt xung quanh chúng ta, phôi thai và hình thành ngay từ thuở hồng hoang lịch sử loài ngƣời, mỗi một nền văn hóa trên thế giới này đều là sự tổng hòa của các hệ thống biểu tƣợng. Biểu tƣợng song hành cùng quá trình hình thành và phát triển của mỗi cộng đồng, mỗi dân tộc. Jean Chevalier và Alain Gheerbrant, tác giả của Từ điển Biểu tượng văn hóa thế giới đã nhận xét rằng: “Nói chúng ta sống trong một thế giới biểu tƣợng thì vẫn còn chƣa đủ, phải nói một thế giới biểu tƣợng sống trong chúng ta” [12, XIV]. Thế giới biểu tƣợng đƣợc tạo nên bởi trí tƣởng tƣợng phong phú của con ngƣời.
Có thể hiểu đặc điểm chủ yếu, căn bản của biểu tƣợng là khi nó xuất hiện lập tức tự động gợi ra một hoặc nhiều ý nghĩa, ý tƣởng nào đó lớn hơn sự hiện hữu của nó, đƣợc giới hạn phạm vi trong cộng đồng văn hóa chấp nhận sự tƣơng quan đó, trong điều kiện lịch sử, xã hội nhất định. Claude Levy-Strauss coi mọi nền văn hóa “đều có thể xem nhƣ một tập hợp các hệ thống biểu tƣợng trong đó xếp ở hàng đầu là ngôn ngữ, các quy tắc hôn nhân, các quan hệ kinh tế, nghệ thuật khoa học, tôn giáo” [20, 106]. Với mục đích có thể đi từ nhận thức đến tƣ duy và truyền đạt cho nhau bức tranh về thế giới ý niệm nằm trong bộ não, với khả năng biểu trƣng hóa bằng sự liên tƣởng, tƣợng tƣợng phong phú, con ngƣời đã sáng tạo ra một thế 10 giới biểu tƣợng, thậm chí là một “rừng biểu tƣợng”. Có thể hiểu cách khác là thế giới ý niệm là cái có trƣớc và đƣợc hiện thực hóa thành thế giới biểu tƣợng.
Khi đó, có thể thấy biểu tƣợng chính là vật mang tính chất trung gian, thay thế, cầu nối giữa thế giới ý niệm và thế giới vật chất bằng cách đƣa cái vô hình, bất khả tri trở thành cái hữu hình, khả tri. Cấu trúc của một biểu tƣợng bao gồm cả ba cái: cái thực (thực tại), cái tƣởng tƣợng (ý niệm), cái tƣợng trƣng (biểu tƣợng). Iuri Mikhailovich Lotman, nhà kí hiệu học văn hóa Nga khi phân tích, đánh giá các yếu tố trong hệ thống kí hiệu đã thừa nhận biểu tƣợng là một trong những từ có nhiều nghĩa nhất. Các tác giả cuốn Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới đã khẳng định chắc chắn rằng: “Không cách gì định nghĩa đƣợc một biểu tƣợng.
Tự bản chất của nó, nó phá vỡ các khuôn khổ định sẵn và tập hợp các thái cực lại trong một khái niệm. Nó giống nhƣ một mũi tên bay mà không bay, đứng im mà biến ảo, hiển nhiên mà lại không sao nắm bắt đƣợc” [12, XIV]. Còn theo cách nói của Georges Gurvitch, nhà xã hội học ngƣời Nga thì quả thật là quá khó cho chúng ta để có thể hiểu hết các tầng lớp ý nghĩa của biểu tƣợng, nó vừa sáng rõ lại vừa ẩn đi, trốn tránh khi chúng ta cố tình tìm hiểu nó. Biểu tƣợng, theo cách hiểu khởi nguyên, là một vật (có thể là kim loại, mảnh gỗ, vật trang trí) đƣợc cắt làm đôi, sau đó đƣợc giao cho các bên có liên quan giữ lấy.
Sau này, chính vật này sẽ làm dấu hiệu để họ nhận biết lại những thông tin đã trao đổi, giao ƣớc, thề hẹn với nhau. Ở ngƣời Hy Lạp thời cổ đại, biểu tƣợng còn là những dấu hiệu để cha mẹ nhận ra khi con cái bị lƣu lạc… Một đặc điểm khái quát nhất là mọi biểu tƣợng đều chứa đựng dấu hiệu bị đập vỡ; ý nghĩa của biểu tƣợng bộc lộ ra trong cái vừa là gãy vỡ vừa là nối kết những phần của nó đã bị vỡ ra. Lịch sử của biểu tƣợng xác nhận rằng mọi vật đều có thể mang giá trị biểu tƣợng, dù là vật tự nhiên (đá, kim loại, cây 11 cối, hoa, quả, thú nuôi,…) hay là trừu tƣợng (hình hình học, con số, nhịp điệu, ý tƣởng,. Pierre Emmanuel đƣa ra luận giải rằng, ta có thể hiểu “mọi vật” ở đây không chỉ là những sinh thể, vật thực hiện hữu mà còn có thể hiểu đó là một khuynh hƣớng, một giấc mơ, một ám ảnh nhận thức, một hệ ý thức,… Biểu tƣợng “hình thành một vế rõ ràng có thể nắm bắt đƣợc, gắn liền với vế khác, không nắm bắt đƣợc” [12, XXIV].
Còn theo Sigmund Freud, ngƣời đặt nền móng cho thuyết Phân tâm học thì “biểu tƣợng diễn đạt một cách gián tiếp, bóng gió và ít nhiều khó nhận ra, niềm ham muốn hay các xung đột” [12, XXIV]. Ông cho rằng biểu tƣợng chính mà mối liên kết chặt chẽ giữa một hành vi, một tƣ tƣởng với những ý nghĩa tiềm ẩn mà chúng gợi ra. Sẽ có ít nhất là hai phần ý nghĩa (nghĩa là có thể nhiều hơn, không có căn cứ để giới hạn) đƣợc gợi ra, thế chỗ phần đã hiện hữu. Khi đó, chúng ta có mối quan hệ đƣợc gọi là biểu tƣợng.
Sigmund Freud cũng nhƣ nhiều nhà phân tâm học khác, coi cái đƣợc biểu trƣng bao giờ cũng là vô thức. Có thể nói đến nhận định của Sándor Ferenczi, một cộng sự thân cận của S. Freud khi cho rằng không phải mọi so sánh đều đƣợc coi là biểu tƣợng mà chỉ xuất hiện biểu tƣợng khi trong so sánh, vế thứ nhất bị dồn nén vào vô thức. Còn đối với Carl Gustav Jung, một học trò xuất sắc của S.
Freud, thì cho rằng biểu tƣợng không thể hiểu là những dấu hiệu đơn giản, mà cũng không phải là một phúng dụ đơn thuần, nó đƣợc dùng để thể hiện cái bản chất của sự vật trong trạng thái mơ hồ, nghi ngờ hoặc là một dạng của tâm linh (bao gồm của ý thức và vô thức). Theo quan điểm của ông, cũng nhƣ Georges Gurvitch, biểu tƣợng là thứ rất khó nắm bắt, vì bản thân nó không cắt nghĩa và tất cả ý nghĩa gợi ra từ nó đều rất mơ hồ, mà không thể diễn đạt thỏa đáng trong khuôn khổ nào cả. Không theo quan điểm của S. Freud khi đã coi biểu tƣợng là một dạng “ngụy trang” cho cái gì đó khác, mà C.
Jung cho rằng, biểu 12 tƣợng là một sản phẩm của tự nhiên. Sự chuyển vƣợt từ cái đã biết sang cái chƣa biết, cái hiển hiện sang cái chƣa biểu lộ chính là giá trị của biểu tƣợng. Và nếu nhƣ đến một lúc nào đó, cái phần giấu kín, chƣa biểu lộ của biểu tƣợng mà hết đi, nghĩa là biểu tƣợng sẽ “chết” (chữ dùng của Jung) và chỉ còn mang ý nghĩa lịch sử. Biểu tƣợng chỉ sống khi nó tràn đầy ý nghĩa và còn phải có nhiệm vụ khơi gợi nên sự sống khác, giàu ý nghĩa hơn chính bản thân nó.
Becker đã nghiên cứu và ví biểu tƣợng với một khối tinh thể phục nguyên lại theo cách khác nhau nguồn sáng tùy theo từng mặt tinh thể tiếp nhận ánh sáng. Ông coi biểu tƣợng nhƣ là một thể sống, một con ngƣời đang trong dạng chuyển động và biến đổi không ngừng. Khi chúng ta nắm bắt biểu tƣợng nhƣ là đối tƣợng suy ngẫm, thì cũng tức là ta đang nhìn ngắm chính cái quỹ đạo ta sắp lần theo, ta nắm bắt cái hƣớng vận động đang lôi kéo con ngƣời ta đi tới. Micera Eliade coi biểu tƣợng là một phạm trù siêu nghiệm của sự cao siêu, của cái siêu phàm, cái vô tận, cần phải đƣợc tiếp nhận bằng cả trí tuệ lẫn tâm hồn.
Còn Lausberg đã định nghĩa về biểu tƣợng là: “Phép chuyển nghĩa, theo đó ngƣời ta thay thế bằng tên của một đồ vật, tên của một ký hiệu mà việc sử dụng đã chọn lựa để gọi tên” [16, 453]. Và nếu phải đi đến việc khép lại một cách cơ bản vấn đề biểu tƣợng, chúng tôi nghĩ cần nhắc tới quan điểm của Tzvetan Todorov, nhà phê bình học ngƣời Bulgaria, khi nói đến trạng thái “ngƣng kết” của biểu tƣợng - nghĩa là trong biểu tƣợng có một, và chỉ cần một cái biểu đạt nhƣng đã giúp chúng ta nhận thức ra nhiều cái đƣợc biểu đạt, và thực tế là nó dồi dào hơn nhiều so với cái biểu đạt. Một số quan niệm về biểu tượng Trong nghiên cứu nghệ thuật hiện đại đã có nhiều hƣớng tiếp cận khác nhau về vấn đề biểu tƣợng nhƣ: Tâm lý học, Phân tâm học, Ngôn ngữ học, 13 Văn hóa học, Kí hiệu học, Tôn giáo học… Mỗi hƣớng tiếp cận đều có những cơ sở lý thuyết nền tảng và đạt đƣợc những kết quả nhất định khi nghiên cứu biểu tƣợng. Tuy nhiên thực tế cho thấy hƣớng tiếp cận Văn hóa học và Kí hiệu học trong nghiên cứu nghệ thuật là đƣợc chú ý và quan tâm hơn cả.
Bên cạnh việc phác thảo vài nét về các hƣớng tiếp cận chủ yếu, theo hƣớng triển khai của luận án, chúng tôi sẽ phân tích kĩ hơn về sự tiếp cận biểu tƣợng dƣới góc nhìn văn học. Biểu tượng dưới góc nhìn kí hiệu học Từ những năm đầu của thế kỷ XX, Charles Peirce và Ferdinand de Saussure đã đặt cơ sở cho kí hiệu học nhƣ là khoa học về kí hiệu và các chức năng quan trọng của nó trong đời sống xã hội. Ngành nghiên cứu mối quan hệ giữa vật là biểu tƣợng với giá trị mà biểu tƣợng bao hàm cũng nhƣ đời sống của các kí hiệu đƣợc F. De Saussure gọi là Kí hiệu học (Semiology).
Charler Sanders Peirce, triết gia ngƣời Hoa Kỳ đã cho rằng chúng ta chỉ có thể nghiên cứu hoạt động tinh thần của con ngƣời thông qua những “khách thể đối ứng” bên ngoài. Xuất phát từ việc những khách thể này có tính chất thay thế, đại diện cho hoạt động tƣ duy của con ngƣời nên nó mang tính chất kí hiệu. Còn theo cách luận giải của Ronanl Barthes, nhà kí hiệu học ngƣời Pháp, thì “thế giới biểu tƣợng” đồng nhất với khái niệm “thế giới siêu kí hiệu”.