Luận văn: Biểu thức quy chiếu về người phụ nữ trong thơ Nguyễn Quang Thiều

Luận văn nghiên cứu các biểu thức quy chiếu về người phụ nữ trong thơ Nguyễn Quang Thiều, làm nổi bật vẻ đẹp, thân phận và giá trị nghệ thuật độc đáo.

Chuyên ngành

Ngôn ngữ học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2024

135
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Phụ nữ như biểu tượng tình yêu và nỗi nhớ

Trong thơ Nguyễn Quang Thiều, phụ nữ xuất hiện như một biểu tượng sâu sắc của tình yêu, nỗi nhớ và những cảm xúc tân tình. Các nhân vật nữ trong tác phẩm của ông không chỉ là những người phụ nữ thực, mà là những hình ảnh thơ mộng, mang trong mình sức mạnh biểu đạt những xúc cảm tinh tế của con người. Qua lời thơ, Nguyễn Quang Thiều khắc họa vẻ đẹp vừa yên tĩnh vừa ấp úng của phụ nữ Việt Nam, tạo nên một không gian cảm xúc vô cùng lãng mạn.

1.1. Hình ảnh phụ nữ trong các tác phẩm tiêu biểu

Các bài thơ của Nguyễn Quang Thiều như 'Những ngôi sao xa' hay 'Mùa cơm mới' đều thể hiện hình ảnh phụ nữ với những nét đặc trưng: hiền dịu, hy sinh và sâu sắc. Những con người phụ nữ này không hoàn toàn hoàn hảo mà mang trong mình những nỗi niềm, mâu thuẫn và độ sâu tâm lý. Điều này tạo nên sức hấp dẫn và khiến độc giả cảm thấy gần gũi hơn với nhân vật.

II. Phụ nữ và những vai trò xã hội trong thơ

Nguyễn Quang Thiều không chỉ lãng mạn hóa phụ nữ mà còn phản ánh một cách sâu sắc những vai trò xã hội mà phụ nữ đảm nhận. Từ người mẹ yêu thương, người vợ trung thành đến người con gái hiền lành, mỗi vai trò được khắc họa với sự tôn trọng và lòng thương cảm. Thơ ông là một bằng chứng của sự công nhân những đóng góp vô danh của phụ nữ trong xã hội Việt Nam.

2.1. Mẹ biểu tượng của tình yêu vô điều kiện

Hình ảnh mẹ trong thơ Nguyễn Quang Thiều không chỉ là người yêu thương con em mà còn là biểu tượng của sự hy sinh, kiên cường và tình yêu bội phần. Những bài thơ về mẹ của ông mang trong mình sự chân thành, gần gũi, khiến độc giả cảm nhận được giá trị sâu sắc của tình mẫu tử. Đây là phương diện quan trọng giúp khẳng định giá trị của phụ nữ trong gia đình và xã hội.

III. Vẻ đẹp tinh thần và ngoại hình của phụ nữ

Vẻ đẹp phụ nữ trong thơ Nguyễn Quang Thiều được thể hiện một cách toàn diện, kết hợp giữa sắc đẹp ngoại hình và vẻ đẹp tâm hồn. Ông không bao giờ hạn chế vẻ đẹp phụ nữ chỉ ở mặt ngoài mà khai thác sâu những giá trị tinh thần, sự duyên dáng, nhe nhàng và lòng nhân ái. Cách tiếp cận này tạo nên một hình ảnh phụ nữ đầy đủ, mạnh mẽ và đáng trân trọng.

3.1. Sắc đẹp tâm hồn qua ngôn ngữ thơ

Nguyễn Quang Thiều sử dụng ngôn ngữ thơ để chiết xuất những khía cạnh sâu sắc của tâm hồn phụ nữ. Những từ ngữ tinh tế, những hình ảnh tưởng tượng phong phú giúp người đọc nhìn thấy vẻ đẹp tinh thần của phụ nữ. Đây là cách tiếp cận hiện đại, tôn trọng và công nhân giá trị đích thực của nữ giới.

IV. Ý nghĩa của biểu thức quy chiếu phụ nữ trong bối cảnh văn học Việt

Cách Nguyễn Quang Thiều quy chiếu về phụ nữ có ý nghĩa to lớn trong văn học Việt Nam hiện đại. Nó phản ánh sự thay đổi trong cách nhìn nhận vai trò của phụ nữ, từ lăng kính truyền thống sang một góc nhìn hiện đại, tôn trọng và công bằng hơn. Tác phẩm của ông là một lời gọi ý thức xã hội và là bằng chứng của sự phát triển của nền văn học Việt Nam.

4.1. Ảnh hưởng và di sản thơ phụ nữ của Nguyễn Quang Thiều

Di sản thơ của Nguyễn Quang Thiều về phụ nữ không chỉ ảnh hưởng đến độc giả mà còn truyền cảm hứng cho thế hệ nhà thơ sau này. Tác phẩm của ông mở ra một hướng mới trong cách khắc họa và tôn vinh phụ nữ qua nghệ thuật thơ ca. Đây là một đóng góp đáng kể vào kho tàng văn học Việt Nam và các giá trị nhân văn phổ quát.

18/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Phần mở đầu của các mục 1 và mục 4, chúng tôi đã xác định rõ ràng đối tượng nghiên cứu của luận văn là các biểu thức quy chiếu (BTQC) nên việc lựa chọn đối tượng nghiên cứu và khảo sát, thống kê phân loại chúng trên các phương diện khác nhau đều dựa trên các khái niệm cơ bản của lí thuyết quy chiếu. Việc tìm hiểu các khái niệm “sự quy chiếu”, “biểu thức quy chiếu” và “nghĩa quy chiếu” trong luận văn về cơ bản tích luỹ, trích dẫn từ các công trình nghiên cứu của nhiều tác giả để đảm bảo tính khách quan, toàn diện của vấn đề lí thuyết được trình bày trong luận văn. Sự quy chiếu (reference) Về khái niệm quy chiếu, từ trước đến nay, theo nhiều nhà nghiên cứu thì có nhiều cách giải thích khác nhau. Thuật ngữ này được dịch từ tiếng Anh “reference”, tiếng pháp là “réference”, ngoài ra còn được gọi là sự sở chỉ, sự chiếu vật.

Theo Đỗ Hữu Châu: ”Chiếu vật chính là quan hệ giữa phát ngôn (diễn ngôn) với các bộ phận tạo nên ngữ cảnh được gọi là sự chiếu vật. Nếu như ngữ dụng học quan tâm đến mối quan hệ giữa ngôn ngữ với ngữ cảnh thì chiếu vật là hiện tượng ngữ dụng học đầu tiên bởi vì nhờ chiếu vật mà ngôn ngữ gắn với ngữ cảnh, từ đó mà có căn cứ đầu tiên để xác định nghĩa của đơn vị ngôn ngữ đang thực hiện chức năng giao tiếp”.186 – 187] Theo Nguyễn Thiện Giáp với quan điểm khác: “Quy chiếu là một hành động trong đó người nói hoặc người viết dùng các hình thức ngôn ngữ cho phép người nghe, người đọc nhận diện cái gì đó. Những hình thức ngôn ngữ ấy là những biểu thức quy chiếu”[28, tr. Yule, “Sự quy chiếu là một hành động trong đó một người nói, hay người viết sử dụng các hình thái ngôn ngữ làm cho một người nghe hay người đọc có thể nhận diện được cái gì đó” [105, tr.

Thông qua các quan điểm của các nhà nghiên cứu nêu trên, chúng tôi rút ra đánh giá chung: các công trình khoa học của các tác giả Đỗ Hữu Châu, Cao Xuân Hạo, 9 Nguyễn Thiện Giáp, Đỗ Thị Kim Liên đều có sự thống nhất trong việc nhìn nhận thuật ngữ “reference” với tư cách là vấn đề của ngữ dụng học và được coi là hiện tượng ngữ dụng học đầu tiên, bởi vai trò của nó trong việc xác định ý nghĩa thực sự của đơn vị ngôn ngữ đang thực hiện chức năng giao tiếp. Nhờ có quy chiếu mà ngôn ngữ gắn bó mật thiết với ngữ cảnh. Quy chiếu không phải lúc nào cũng duy nhất, nó có mối quan hệ liên kết với ngữ cảnh, có nghĩa là nhờ vào ngữ cảnh thì sự vật quy chiết sẽ thay đổi, sẽ khác nhau. Nói về thuật ngữ quy chiếu, tác giả Đỗ Thị Kim Liên có nêu dẫn chứng để giải thích chứng minh: Ví dụ: Mèo được dùng để chỉ loài nói chung, được giải thích rõ trong từ điển nhưng khi ta nói “Con mèo này rất đẹp” là phải tương ứng với một con mèo cụ thể, qua lời một nhân vật cụ thể mà theo cảm quan của người Việt thì nó phải đẹp thật.

Do đó, trên nền tảng tiếp thu những nhìn nhận khác nhau về sự quy chiếu, chúng tôi đưa ra khái niệm về sự quy chiếu (hay chiếu vật): đó là sự tương ứng giữa từ (hoặc giữa các đơn vị ngôn ngữ) với các sự vật, con người, hoạt động, tính chất trong hiện thực được nói tới. Biểu thức quy chiếu (referring expression) a. Khái niệm biểu thức quy chiếu Biểu thức quy chiếu (BTQC) (referring expression) được hiểu là khi biểu thức ngôn ngữ được phát ngôn sử dụng để chỉ ra một thực thể nào đó trong ngữ cảnh cụ thể của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ. Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng khái niệm “biểu thức quy chiếu” để chỉ mọi phương tiện ngôn ngữ được sử dụng để thực hiện quy chiếu trong ngữ cảnh cụ thể của ngữ liệu khảo sát, bao gồm cả những BTQC có cấu tạo là từ và tổ hợp từ.

Theo tác giả Đỗ Hữu Châu trong cuốn Từ vựng- ngữ nghĩa tiếng Việt, kết cấu ngôn ngữ (từ, cụm từ, câu) được dùng để quy chiếu được gọi là biểu thức quy chiếu. Tác giả cũng cho rằng sự vật tương ứng với một biểu thức quy chiếu là nghĩa quy chiếu. Chúng tôi nhất trí với quan điểm cho rằng “Cũng như các tín hiệu ngôn ngữ, BTCV có cái biểu đạt và cái được biểu đạt. Cái biểu đạt của BTCV là các đơn vị ngôn ngữ tạo nên nó.

Cái được biểu đạt là sự vật được quy chiếu hay CV tương ứng” [14, tr. 10 Các nhà nghiên cứu đều đồng tình với quan điểm nếu như một đơn vị ngôn ngữ có cả hai mặt là cái biểu đạt (vỏ âm thanh của tín hiệu ngôn ngữ) và cái được biểu đạt (là ý nghĩa của tín hiệu ngôn ngữ); đối lập lại cái biểu đạt của BTQC là toàn bộ sự kết hợp của các đơn vị cấu thành nên nó cả trên khía cạnh vỏ âm thanh và ý nghĩa, còn cái được biểu đạt của BTQC chính là sự vật được quy chiếu hay chiếu vật của nó. Theo Nguyễn Thiện Giáp trong cuốn Nghĩa học Việt ngữ: “Xét về mặt tín hiệu học, trước hết, từ hình thức là cái biểu đạt của ý nghĩa của từ (cái được biểu đạt); thứ hai, từ hình thức cùng với ý nghĩa của nó lại là cái biểu đạt của cái sở chỉ; thứ ba, trong những phát ngôn cụ thể, toàn bộ “từ hình thức-ý nghĩa-sở chỉ) còn có thể đóng vai trò là một tín hiệu của một sự vật khác. Như vật, ý nghĩa (sense) và sở chỉ (referent) chỉ là cái được biểu đạt (signified)” [28, tr.

Do đó, các BTQC có trong ngôn ngữ thơ Nguyễn Quang Thiều sẽ được luận văn miêu tả trên hai bình diện: bình diện cái biểu đạt (hình thức cấu tạo và quan hệ kết hợp cả về ý nghĩa và cú pháp); bình diện cái được biểu đạt (sự vật được quy chiếu hay CV). Vì các BTQC được sử dụng trong các văn bản nghệ thuật nên luận văn chúng tôi còn tìm hiểu và phân tích một số giá trị của chúng với việc thể hiện hệ thống hình tượng, biểu tượng nghệ thuật và trong chừng mực có thể, chúng tôi cũng nhấn mạnh đến việc thể hiện các đặc điểm tri nhận, văn hoá của dân tộc trong ngôn ngữ thơ của Nguyễn Quang Thiều. Theo lí thuyết ngữ dụng học, không chỉ các sự vật, hiện tượng mới được quy chiếu bằng ngôn ngữ và trở thành QC của BTQC. Ngoài sự vật còn có tính chất, hoạt động, trạng thái, sự kiện, quá trình… cũng có thể được sử dụng để quy chiếu đến hoàn cảnh giao tiếp cụ thể.

BTQC không chỉ cấu tạo dưới dạng danh từ, đại từ hay ngữ danh từ mà còn có các động từ/ngữ động từ, tính từ/ngữ tính từ, các cấu trúc mệnh đề (cụm C-V). Trong phạm vi của luận văn này, khi tiến hành khảo sát và miêu tả các BTQC về hình tượng người phụ nữ trong ngôn ngữ thơ Nguyễn Quang Thiều, chúng tôi chỉ dừng lại ở việc khảo sát các BTQC có cấu tạo là một trong ba kiểu: danh từ, ngữ danh từ và quan hệ kết hợp. 11 Với cách hiểu về BTQC như đã trình bày ở trên, chúng tôi đã vận dụng khái niệm này vào việc xác định đối tượng khảo sát của luận văn là các biểu thức quy chiếu về người phụ nữ trong ngôn ngữ thơ Nguyễn Quang Thiều. Tiêu chí xác định biểu thức quy chiếu - Tiêu chí thứ nhất - tiêu chí cấu trúc: Xét đến tính hoàn thiện, độc lập tương đối của nó về mặt cấu thành: hoặc là một từ, hoặc là một cụm từ.

Nếu là một cụm từ, việc xác lập đường biên của BTQC sẽ kết thúc ở chỗ có thể làm cho phần biểu thức ngôn ngữ được xét đủ tư cách là một ngữ danh từ hoặc một tổ hợp từ có kết cấu sóng đôi. - Tiêu chí thứ hai - tiêu chí chức năng: Một biểu thức ngôn ngữ có kết cấu hoàn thiện sẽ được luận văn coi là BTQC khi biểu thức ngôn ngữ đó chỉ ra được một đối tượng, một thực thể cụ thể nào đó, trong thế giới khả hữu-hệ quy chiếu của BTQC đang được tác giả hoặc nhân vật nói tới. Hai tiêu chí về cấu trúc và chức năng có mối quan hệ mật thiết với nhau khi xác định BTQC trong các câu thơ được khảo sát. Một BTQC cần thiết phải đáp ứng được cả hai tiêu chí thì mới nằm trong phạm vi đối tượng khảo sát của luận văn.

Theo như chúng ta đã biết, các BTQC trong một diễn ngôn có quan hệ với ngữ cảnh, đặc biệt là với các đối ngôn (người nói, người nghe) trong một cuộc giao tiếp; các sự vật thuộc hoàn cảnh giao tiếp hoặc thuộc thoại trường; không gian, thời gian của cuộc giao tiếp và của các sự vật được quy chiếu trong diễn ngôn. Như vậy, khi khảo sát một BTQC, ngoài căn cứ vào hai tiêu chí cụ thể như trên, chúng ta cũng cần cân nhắc mối quan hệ với ngữ cảnh để hiểu đúng và sát về BTQC. Nghĩa quy chiếu và hệ quy chiếu a. Khái niệm quy chiếu (referent) Như đã phân tích ở trên, khái niệm “quy chiếu” được chúng tôi sử dụng trong luận văn này là được dịch từ thuật ngữ “referent” trong tiếng Anh, tương ứng với “quy chiếu” theo tác giả Đỗ Hữu Châu, “sở chỉ” theo tác giả Nguyễn Thiện Giáp hoặc “cái sở chỉ” theo tác giả Cao Xuân Hạo.

Theo Đỗ Hữu Châu: “Thuật ngữ chiếu vật được dùng để chỉ phương tiện, nhờ đó người nói phát ra một biểu thức ngôn ngữ, với biểu thức này nghĩ rằng nó sẽ giúp cho 12 người nghe suy ra được một cách đúng đắn thực thể nào, sự kiện nào anh ta được nói đến” [13, tr. Green: “Thuật ngữ chiếu vật được dùng để chỉ ra cái cách nhờ chúng mà người nói phát âm ra một biểu thức ngôn ngữ với hi vọng rằng biểu thức đó sẽ giúp cho người nghe của anh ta suy ra được một cách đúng đắn cái thực thể nào, đặc tính nào, quan hệ nào, sự kiện nào anh ta đang nói đến” (Dẫn theo [14, tr. Từ đó, chúng ta có thể hiểu rằng, QC, hay CV là một đối tượng thực thể cụ thể được phương tiện ngôn ngữ biểu thị thông qua việc thực hiện quy chiếu của người sử dụng và phải đặt trong ngữ cảnh cụ thể. Đỗ Hữu Châu cũng nêu rõ: trong một phát ngôn thường có một hoặc một số biểu thức chiếu vật.

Mỗi biểu thức chiếu vật được dùng để chỉ một yếu tố nào đó nằm trong: Đối ngôn, hoàn cảnh giao tiếp và thoại trường hợp thành ngữ cảnh của phát ngôn được nói tới trong phát ngôn đó.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ