Luận văn thạc sĩ hay các biểu thức đồng sở chỉ biểu thị nhân vật trong tác phẩm số đỏ vỡ đê và giông tố của vũ trọng phụng

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu hay các biểu thức đồng sở chỉ biểu thị nhân vật trong tác phẩm số đỏ vỡ đê và giông tố của vũ trọng, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2017

143
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1. Khái quát về sở chỉ và hiện tượng đồng sở chỉ

1.2. Những vấn đề lý thuyết liên quan đến sở chỉ và hiện tượng đồng sở chỉ trong tiếng Việt

2. CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM CỦA CÁC BIỂU THỨC ĐỒNG SỞ CHỈ BIỂU THỊ NHÂN VẬT TRONG SỐ ĐỎ, VỠ ĐÊ VÀ GIÔNG TỐ CỦA VŨ TRỌNG PHỤNG

2.1. Đặc điểm cấu trúc của các biểu thức đồng sở chỉ biểu thị nhân vật trong Số đỏ, Vỡ đê và Giông tố của Vũ Trọng Phụng

2.2. Đặc điểm cấu trúc của các biểu thức đồng sở chỉ biểu thị nhân vật qua việc dùng tên riêng

2.3. Đặc điểm cấu trúc của các biểu thức đồng sở chỉ biểu thị nhân vật qua việc dùng biểu thức miêu tả

2.4. Đặc điểm cấu trúc của các biểu thức đồng sở chỉ biểu thị nhân vật qua việc dùng biểu thức chỉ xuất

2.5. Đặc điểm ngữ nghĩa của các biểu thức đồng sở chỉ biểu thị nhân vật trong Số đỏ, Vỡ đê và Giông tố của Vũ Trọng Phụng

2.5.1. Các biểu thức đồng sở chỉ là tên riêng

2.5.2. Các biểu thức đồng sở chỉ có nghĩa phi miêu tả

2.5.3. Các biểu thức đồng sở chỉ có nghĩa miêu tả

3. CHƯƠNG 3: VAI TRÒ CỦA CÁC BIỂU THỨC ĐỒNG SỞ CHỈ BIỂU THỊ NHÂN VẬT TRONG TÁC PHẨM SỐ ĐỎ, VỠ ĐÊ VÀ GIÔNG TỐ CỦA VŨ TRỌNG PHỤNG

3.1. Bộc lộ đặc điểm giới tính và ngoại hình của nhân vật

3.1.1. Bộc lộ đặc điểm giới tính của nhân vật

3.1.2. Bộc lộ đặc điểm ngoại hình của nhân vật

3.2. Bộc lộ tính cách, thái độ của nhân vật

3.2.1. Bộc lộ tính cách của nhân vật

3.2.2. Bộc lộ thái độ của nhân vật

3.3. Bộc lộ nghề nghiệp của nhân vật

3.3.1. Nghề dạy học

3.3.2. Học sinh, sinh viên

3.3.3. Nghề khám, chữa bệnh

3.3.4. Nghề nghiệp mang tính chất nghệ thuật

3.3.5. Nghề thợ may

3.3.6. Nghề hoạt động trong lĩnh vực thể thao

3.3.7. Nghề đi tu theo đạo Phật ở chùa

3.3.8. Nghề làm thợ

3.4. Bộc lộ vị thế của nhân vật giao tiếp

3.4.1. Vị thế xã hội

3.4.2. Vị thế gia đình

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Biểu Thức Đồng Sở Chỉ Nhân Vật Trong Tác Phẩm Vũ Trọng Phụng

Biểu thức đồng sở chỉ là một hiện tượng ngôn ngữ quan trọng trong việc thể hiện nhân vật trong văn học. Trong các tác phẩm của Vũ Trọng Phụng, hiện tượng này không chỉ giúp người đọc nhận diện nhân vật mà còn phản ánh sâu sắc bối cảnh xã hội và tâm lý con người. Việc nghiên cứu các biểu thức này sẽ giúp hiểu rõ hơn về phong cách nghệ thuật của tác giả.

1.1. Khái Niệm Về Biểu Thức Đồng Sở Chỉ

Biểu thức đồng sở chỉ là những cách gọi khác nhau để chỉ cùng một đối tượng. Trong văn học, điều này giúp làm phong phú thêm hình ảnh nhân vật và tạo ra nhiều chiều sâu cho câu chuyện.

1.2. Vai Trò Của Biểu Thức Đồng Sở Chỉ Trong Văn Học

Biểu thức đồng sở chỉ không chỉ đơn thuần là cách gọi mà còn mang ý nghĩa biểu đạt sâu sắc về tính cách, tâm tư của nhân vật. Chúng giúp người đọc cảm nhận được sự đa dạng và phức tạp trong tâm lý nhân vật.

II. Những Thách Thức Trong Phân Tích Biểu Thức Đồng Sở Chỉ

Phân tích biểu thức đồng sở chỉ trong tác phẩm của Vũ Trọng Phụng gặp nhiều thách thức. Các biểu thức này thường mang tính ẩn dụ và đa nghĩa, đòi hỏi người phân tích phải có kiến thức sâu rộng về ngữ nghĩa và ngữ cảnh.

2.1. Đặc Điểm Ngữ Nghĩa Của Biểu Thức Đồng Sở Chỉ

Mỗi biểu thức đồng sở chỉ có thể mang nhiều nghĩa khác nhau tùy thuộc vào ngữ cảnh. Điều này tạo ra khó khăn trong việc xác định ý nghĩa chính xác của chúng trong tác phẩm.

2.2. Tác Động Của Ngữ Cảnh Đến Biểu Thức Đồng Sở Chỉ

Ngữ cảnh xã hội và lịch sử có thể ảnh hưởng lớn đến cách hiểu các biểu thức đồng sở chỉ. Việc không nắm rõ ngữ cảnh có thể dẫn đến hiểu sai ý nghĩa của nhân vật.

III. Phương Pháp Phân Tích Biểu Thức Đồng Sở Chỉ Trong Tác Phẩm

Để phân tích hiệu quả các biểu thức đồng sở chỉ trong tác phẩm của Vũ Trọng Phụng, cần áp dụng các phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ học hiện đại. Các phương pháp này giúp làm rõ cấu trúc và ngữ nghĩa của các biểu thức.

3.1. Phương Pháp Thống Kê Và Phân Loại

Phương pháp này giúp xác định tần suất xuất hiện của các biểu thức đồng sở chỉ trong tác phẩm, từ đó rút ra những đặc điểm chung và riêng của chúng.

3.2. Phương Pháp Phân Tích Ngữ Nghĩa

Phân tích ngữ nghĩa giúp làm rõ ý nghĩa của các biểu thức đồng sở chỉ trong từng ngữ cảnh cụ thể, từ đó hiểu rõ hơn về tâm lý và tính cách nhân vật.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Biểu Thức Đồng Sở Chỉ Trong Tác Phẩm

Các biểu thức đồng sở chỉ trong tác phẩm của Vũ Trọng Phụng không chỉ có giá trị nghệ thuật mà còn có thể được ứng dụng trong giảng dạy và nghiên cứu văn học. Chúng giúp sinh viên và người nghiên cứu hiểu sâu hơn về văn hóa và xã hội thời kỳ đó.

4.1. Giá Trị Giáo Dục Của Biểu Thức Đồng Sở Chỉ

Việc nghiên cứu các biểu thức này có thể giúp sinh viên phát triển kỹ năng phân tích văn học, từ đó nâng cao khả năng cảm thụ văn chương.

4.2. Ảnh Hưởng Đến Nhận Thức Về Văn Hóa

Các biểu thức đồng sở chỉ phản ánh rõ nét bối cảnh văn hóa và xã hội, giúp người đọc hiểu rõ hơn về những giá trị và quan niệm sống của con người trong thời kỳ đó.

V. Kết Luận Về Biểu Thức Đồng Sở Chỉ Trong Tác Phẩm Vũ Trọng Phụng

Biểu thức đồng sở chỉ là một phần không thể thiếu trong việc xây dựng nhân vật trong tác phẩm của Vũ Trọng Phụng. Chúng không chỉ làm phong phú thêm ngôn ngữ mà còn giúp người đọc hiểu sâu sắc hơn về nhân vật và bối cảnh xã hội.

5.1. Tương Lai Của Nghiên Cứu Biểu Thức Đồng Sở Chỉ

Nghiên cứu biểu thức đồng sở chỉ cần tiếp tục được mở rộng để khám phá thêm nhiều khía cạnh mới trong văn học Việt Nam.

5.2. Đề Xuất Hướng Nghiên Cứu Mới

Cần có thêm nhiều nghiên cứu so sánh giữa các tác giả khác nhau để làm rõ hơn vai trò của biểu thức đồng sở chỉ trong văn học Việt Nam.

18/07/2025
Luận văn thạc sĩ hay các biểu thức đồng sở chỉ biểu thị nhân vật trong tác phẩm số đỏ vỡ đê và giông tố của vũ trọng phụng

Trích đoạn nội dung tài liệu

đặt vấn đề như vậy, mặt chức năng của ngôn ngữ được chú trọng hơn theo một tiếp cận hoàn toàn mới: cấu trúc và các đặc điểm cấu trúc của từ hoặc của các cấu trúc lớn hơn từ, suy cho cùng chỉ là những phương tiện giúp người nói nhận diện ra được những sự vật có trong thực tế khách quan mà trong nội dung các thông điệp đã được nhắc tới. Một câu có hình thức trần thuật vẫn có thể đảm đương nhiệm vụ của một câu nghi vấn hay một câu cầu khiến. Vấn đề là câu đó được sử dụng vào lúc nào và chủ đích của người nói là hướng tới cái gì, đã sử dụng những phương tiện gì đi kèm hoặc kết hợp với câu đó khi biểu lộ những chủ đích này. Nói cách khác, cái quan trọng chính là phát ngôn đó dùng để nói lên cái gì trong một hoàn cảnh cụ thể.

Đó chính là nghĩa của lời. Nghĩa của lời quan trọng nhất chính là việc hướng tới các sự vật có trong thực tế khách quan mà nội dung mệnh đề muốn bàn luận tới. Ngôn ngữ học trong thời hiện đại, nhất là ngữ nghĩa học quan tâm tới hành vi hướng tới thực tế khách quan này của lời, cái thường được gọi là hành vi sở chỉ của hành động nói năng. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.

Quan niệm về sở chỉ (reference) Không phải ngẫu nhiên mà A.Cruse lại nói rằng: “Chủ đề về sở chỉ là nguyên nhân tuôn tràn hàng tấn mực: một vài bộ óc triết học huyền ảo nhất đã giáp lá cà với nó và các cuộc tranh luận dễ mất lòng chẳng bao giờ có hồi kết.317] Nhận định trên của A.Cruse trong Meaning in Language: An introduction to Semantics and Pragmatics (Nghĩa trong ngôn ngữ: Một nhập môn vào Ngữ nghĩa học và Ngữ dụng học) đã cho thấy tính phức tạp của vấn đề sở chỉ. Có thể nhận thấy sự phức tạp này qua những quan niệm tiêu biểu trong và ngoài nước dưới đây: a. Quan niệm của các tác giả nước ngoài Để xác định hiểu được nghĩa của phát ngôn, có một cách xuất phát là tìm hiểu quy luật tương ứng giữa các biểu thức ngôn ngữ với các sự vật có trong thực tế khách quan. Nói cách khác, sở chỉ chính là hành vi của người nói nhằm đồng nhất hóa nội dung của một biểu thức ngôn ngữ với sự vật có trong thực tế.Green trong Pragmatics and Natural languages understanding (1989) đã phát biểu: “Thuật ngữ chiếu vật (sở chỉ) được dùng để chỉ cách mà người nói phát âm ra một biểu thức ngôn ngữ với hy vọng rằng biểu thức đó sẽ giúp cho người nghe của anh ta suy ra được một cách đúng đắn cái thực thể nào, đặc tính nào, sự kiện nào anh ta đang nói đến” [dẫn theo 79, tr.Green quan niệm sở chỉ là một hành vi ngôn ngữ mà từ hành vi này, một “thực thể”, một “đặc tính”, một “sự kiện” sẽ được người nghe nhận diện thông qua một biểu thức ngôn ngữ.

Cùng quan điểm với M. Cruse viết: “Chúng ta, tốt hơn hết là cho rằng chiếu vật là một hành vi nhờ nó mà người nói và người viết dùng các hình thức ngôn ngữ nhằm làm cho người nghe hoặc người đọc biết được một sự vật nào đó” [dẫn theo 70, tr. Và: “Dưới cái đầu đề sở chỉ, chúng ta sẽ gặp một trong những bình diện cơ bản, sống còn nhất của ngôn ngữ và việc dùng ngôn ngữ, đó chính là mối quan hệ giữa ngôn ngữ như là phương tiện giao tiếp giữa con người và cái thế giới mà chúng ta giao tiếp về nó” [77, tr.137]; “Sở chỉ được quan tâm cùng với việc thể hiện các thực thể có trong thế giới nhờ các phương tiện ngôn ngữ học” [77, tr. Thừa nhận sở chỉ là một hành vi ngôn ngữ có nghĩa là các nhà ngôn ngữ học đã đồng thuận khi cho rằng: sở chỉ không phải là “việc làm tự thân của ngôn ngữ mà là 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com của con người” [13, tr.

Yule nhấn mạnh: “Chúng ta cần phải biết rằng từ ngữ - ở đây là biểu thức chiếu vật - tự chúng không quy chiếu được với bất cứ một cái gì cả. Chỉ con người mới chiếu vật.” [dẫn theo 70, tr. Từ sự khẳng định sở chỉ là một hành vi ngôn ngữ, các nhà nghiên cứu ngôn ngữ quan tâm đến các yếu tố làm nên hành vi sở chỉ. Yếu tố thứ nhất rất dễ nhận diện, đó chính là “cái gì đó có trong thế giới” [77, tr.

Bởi suy cho cùng, mục đích của sự sở chỉ là thông qua ngôn ngữ làm nảy ra cái thực thể có trong thế giới và để cho người nghe xác định được thực thể đó. Vậy yếu tố thứ hai là gì? A. Cruse cho rằng, yếu tố thứ hai chính là biểu thức ngôn ngữ (linguistic expression). Một ví dụ được ông đưa ra để phân tích cho sự khẳng định này: (1) Geoge Bush is to visit Ireland in May.

(Tổng thống Geoge Bush sẽ đi thăm nước Ireland vào tháng 5) Biểu thức Geoge Bush ở đây quy chiếu đến một vị tổng thống Hòa Kỳ. Người nghe xác định được điều này bởi vì người nghe nhận ra được mối quan hệ giữa các yếu tố làm nên hành vi sở chỉ, đó là một cá nhân trong thực tế (yếu tố thứ nhất) và biểu thức ngôn ngữ Geoge Bush (yếu tố thứ hai). Tuy nhiên, ông cũng nhất mạnh: “Không có một quan hệ một đối một đặc quyền nào giữa biểu thức Geoge Bush và ông Geoge Bush đang là tổng thống Hoa Kì. Không nghi ngờ gì có hàng trăm (là ít nhất) các ông Geoge Bush trên thế giới.

Sở dĩ Geoge Bush quy chiếu với ông tổng thống đương nhiệm của Hoa Kì chỉ là bởi vì có một người nói nào đó định dùng biểu thức này cho cái mục đích ở một dịp đặc biệt nào đó” [77, tr. Như vậy, để có thể nhận diện được mối quan hệ giữa hai yếu tố trên, người nghe cần phải xác định được chủ đích của người nói trong việc tạo lập ra phát ngôn. Tóm lại, khi nói về sở chỉ, các nhà ngôn ngữ học đều thừa nhận: sở chỉ là một hành vi ngôn ngữ và sở chỉ thể hiện mối quan hệ giữa đối tượng, sự vật trong thế giới khách quan với một hình thức biểu đạt là phương tiện ngôn ngữ. Quan niệm của các tác giả Việt Nam Cũng bàn về vấn đề sở chỉ, ở Việt Nam, có hai nhà ngôn ngữ học không thể không nhắc tới, đó là Cao Xuân Hạo và Đỗ Hữu Châu.

- Quan niệm của Cao Xuân Hạo: Cần phải nói ngay rằng, Cao Xuân Hạo đã dùng thuật ngữ sở chỉ để chỉ cả hành động sở chỉ (reference) lẫn vật sở chỉ (referent). Trong công trình nghiên cứu của mình, 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ông không đưa ra quan niệm cụ thể về sở chỉ như một hành động mà chỉ thể hiện quan niệm này qua cách định nghĩa về vật sở chỉ. Chính vì vậy, những trích dẫn dưới đây của ông về sở chỉ phải được hiểu là vật sở chỉ (referent). + Cao Xuân Hạo cho rằng: “Sở chỉ là một sự vật cụ thể hay một tập hợp xác định gồm những đối tượng cụ thể” [31, tr.

Sở chỉ của từ chỉ xác định được khi từ nằm trong câu (phát ngôn). Nói khác đi, “Trong câu nói các từ ngữ mới có thể có sở chỉ (referent)” [33, tr. Chẳng hạn, một danh từ riêng như Hương chỉ có thể xác định được sở chỉ của nó khi danh từ này nằm trong phát ngôn, kiểu như: (2) Hương lớp 7A học rất giỏi. Nhờ định ngữ lớp 7A mà sở chỉ của từ Hương trong trường hợp này được xác định (với điều kiện lớp 7A chỉ có một người tên là Hương, còn nếu lớp 2A có hai người tên là Hương thì phải thêm các điều kiện khác).

Đó là một con người cụ thể, phân biệt với tất cả những người cụ thể khác (cũng có tên là Hương hoặc không có tên là Hương). Tách từ Hương ra khỏi phát ngôn, Hương vẫn là một danh từ riêng nhưng chúng ta không thể xác định được nghĩa sở chỉ của từ này, tức là không thể xác định được từ Hương ở đây chỉ ai, tức chỉ đối tượng cụ thể nào. + Về khái niệm nghĩa sở chỉ, Cao Xuân Hạo nói rõ: Nghĩa sở chỉ của từ ngữ “là mối liên hệ giữa từ ngữ và thế giới hiện thực”.104] Chẳng hạn: (3) Cái bút ở trên bàn là của bạn Trang. Cái bút trong trường hợp này đã xác định được sở chỉ bởi ta biết nó quy chiếu đến đối tượng nào trong thực tế.

Đây là một cái bút cụ thể của một nhân vật cụ thể. Tuy nhiên, để hiểu được nghĩa sở chỉ của từ (cái) bút, người nghe phải có sự liên hệ với thực tế khách quan, tức là phải biết được một vật như thế nào được gọi là (cái) bút, nói khác đi là phải hiểu được nghĩa biểu vật của từ bút. Cao Xuân Hạo còn nói thêm: “Việc xác định sở chỉ của từ ngữ không thuộc bình diện nghĩa mà thuộc bình diện dụng pháp” [33, tr. Tức là chỉ xác định được nghĩa sở chỉ của từ ngữ khi chúng đi vào hoạt động.

Ví dụ: (4) Tôi đói quá! Khi phát ngôn này tồn tại ở dạng tĩnh tại, người nghe sẽ không thể xác định được nghĩa sở chỉ của từ tôi bởi không biết tôi ở đây quy chiếu vào ai. Nhưng nếu câu này phát ra bởi chủ thể A, tại thời điểm t, khi mà A vừa đi làm về và chưa ăn gì thì người nghe sẽ dễ dàng xác định được nghĩa sở chỉ của từ tôi. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tóm lại, theo cách hiểu của Cao Xuân Hạo thì sở chỉ là đối tượng cụ thể, xác định, tồn tại trong một thế giới khả hữu (một thế giới có thể có thực và có thể không có thực). Còn nghĩa sở chỉ của từ là mối liên hệ giữa từ với đối tượng mà từ phản ánh.

Khi chưa được sử dụng, từ không có nghĩa sở chỉ. - Quan niệm của Đỗ Hữu Châu: Đỗ Hữu Châu không dùng thuật ngữ sở chỉ để chỉ cả hành động sở chỉ (reference) và vật sở chỉ (referent) như Cao Xuân Hạo mà dùng thuật ngữchiếu vật vàvật quy chiếu. Ông quan niệm: + “Chiếu vật (reference) là quan hệ giữa phát ngôn - cũng tức là giữa biểu thức chiếu vật - với các bộ phận trong ngữ cảnh của nó” [13, tr. Vật quy chiếu (referent) là sự vật, hiện tượng tồn tại trong một thế giới khả hữu - hệ quy chiếu.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề Biểu Thức Đồng Sở Chỉ Nhân Vật Trong Tác Phẩm Vũ Trọng Phụng khám phá cách mà các nhân vật trong tác phẩm của Vũ Trọng Phụng được thể hiện qua ngôn ngữ và biểu thức. Tác giả phân tích các yếu tố ngữ nghĩa và cú pháp, từ đó giúp người đọc hiểu rõ hơn về cách mà ngôn ngữ phản ánh tính cách và tâm tư của nhân vật. Tài liệu không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về văn học mà còn mở ra những cơ hội để nghiên cứu thêm về ngôn ngữ học.

Nếu bạn muốn tìm hiểu thêm về các khía cạnh ngôn ngữ học liên quan, hãy tham khảo tài liệu Luận án tiến sĩ ngôn ngữ học đối chiếu từ ngữ chỉ tay và các động từ biểu thị hoạt động của tay giữa tiếng hán và tiếng việt, nơi bạn có thể khám phá sự tương đồng và khác biệt trong cách diễn đạt hành động giữa các ngôn ngữ. Bên cạnh đó, tài liệu Luận văn hành động mời trong tiếng việt và tiếng hán sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về cách mà hành động được thể hiện trong hai ngôn ngữ này. Cuối cùng, tài liệu Luận văn thạc sĩ ngôn ngữ học hành động nhờ trong tiếng việt sẽ cung cấp thêm thông tin về các hành động ngôn ngữ trong tiếng Việt, mở rộng kiến thức của bạn về ngôn ngữ học.