MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài “Bản chất con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội” (Các Mác). Mỗi con người luôn là một thành viên của một cộng đồng, một xã hội cụ thể, tồn tại trong không gian và thời gian nhất định. Giữa những mối quan hệ đó, con người không chỉ có sự trao đổi thông tin mà còn có sự tương tác về mặt cảm xúc.
Các nhà khoa học ngày nay đã dần khẳng định vai trò quan trọng của việc nhận biết và thấu hiểu cảm xúc với người khác, trong đời sống của mỗi người. Triết gia Roman Krznaric ở thời điểm lập ra Bảo tàng thấu cảm (Empathy Museum) đã khang định: “Sự ¿hấu cảm có một quyên lực đáng ngạc nhiên để cải cách xã hội. Chúng ta cần mang sự thấu cảm ra khỏi tâm lý học để áp dụng vào không chỉ những quan hệ thông thường trong đời sống mà còn vào cả văn hóa ” (dẫn theo Thế Thịnh, 2018, tr. Đặt trong bối cảnh của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 ngày nay, khi trí thông minh (IQ) không còn chiếm vị trí độc tôn trong sự thành bại của mỗi người, việc nghiên cứu các vấn đề về cảm xúc nói chung và sự thấu hiểu cảm xúc giữa các chủ thể nói riêng trở thành đề tài cấp thiết của khoa học.
Cũng trong bối cảnh đổi mới đó, các phương tiện thông tin đại chúng không ngừng báo động về thực trạng “vô cảm” của xã hội, đặc biệt là người trẻ trong độ tudi thanh niên sinh viên. Theo tác giả Nguyễn Hồi Loan, khi xã hội phat triển, bắt đầu nâng dần mức sống, năng lực và sự hiểu biết, con người không còn lệ thuộc nhiều vào tự nhiên, lệ thuộc vào các yếu tố khác. Khi con người dần dần thoát ra khỏi sự chỉ phối và níu kéo của cộng đồng, độc lập sống được, lúc đó, các mối quan hệ đã lỏng dần từ phạm vi làng xã, cộng đồng cho đến phạm vi gia đình. Xã hội càng phát triển thì mức độ lãnh cảm, thờ ơ với sự kiện và cảm xúc của người khác cảng gia tăng, nhất là ở thanh niên, những người nhanh chóng tiếp cận và tiếp thu lối sống xa rời này (dẫn theo Phương Liên, 2013, tr.
Với thực trạng đó, khả năng thấu cảm của những người trẻ trở thành một vấn đề nhức nhối cần được tháo gỡ. Chính từ những lý do trên, đã có nhiều công trình nghiên cứu về trí tuệ cảm xúc, trí tuệ cảm xúc của sinh viên. Trong các nghiên cứu này, vấn đề thấu cảm được tiếp cận như một trong các mặt biểu hiện của trí tuệ cảm xúc, cùng với một số yếu tố khác, chứ chưa được tiếp cận như một hiện tượng tâm lý riêng biệt. Trên quan điểm khả năng thấu cảm ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình phát triển của cá nhân và xã hội, người nghiên cứu thực hiện dé tài nhằm mô tả cụ thể những biểu hiện của thấu cảm ở độ tuổi thanh niên 1 sinh viên, làm nền tảng cho việc tìm kiếm những giải pháp phát triển khả năng này cho sinh viên trong môi trường đại học, cao đăng.
Trên cơ sở đó, đề tài “Biểu hiện thấu cảm của sinh viên trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh” được xác lập. Mục đích nghiên cứu Tìm hiểu biểu hiện thấu cảm của sinh viên trường Đại học Sư phạm Thành phó Hồ Chí Minh qua hai mặt thấu cảm cảm xúc và thấu cảm nhận thức. Từ đó bước đầu đề xuất giải pháp phát triển biêu hiện thấu cảm cho sinh viên trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh. Nhiệm vụ nghiên cứu 3.
Nghiên cứu lý luận - Tìm hiểu lịch sử các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về thấu cảm; - Hệ thống hóa cơ sở lý luận có liên quan đến đề tài: thấu cảm, biểu hiện thấu cảm, biểu hiện thấu cảm của sinh viên. Nghiên cứu thực tiễn Khảo sát thực trạng biểu hiện thấu cảm của sinh viên trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh qua đó đề xuất giải pháp phát triển biểu hiện thấu cảm ở sinh viên trường Đại học Sư phạm Thành phó Hồ Chi Minh. Đối tượng và khách thể nghiên cứu 4. Đối tượng nghiên cứu Biểu hiện thấu cảm của sinh viên trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh.
Khách thé nghiên cứu - Sinh viên trường Dai học Sư phạm Thành phô Hồ Chí Minh. Giả thuyết nghiên cứu - Sinh viên trường Dai học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh có mức độ biểu hiện thấu cảm trên trung bình; - Có sự khác biệt về mức độ và biéu hiện thấu cảm của sinh viên trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh xét theo giới tính, khối ngành và năm học. Giới hạn đề tài 6. Giới hạn về nội dung nghiên cứu Nghiên cứu biểu hiện thấu cảm của sinh viên trường Đại học Sư phạm Thành phố H6 Chí Minh thông qua 2 nhóm biểu hiện chính: thấu cảm cảm xúc và thấu cảm nhận thức.
Giới hạn về phạm vi nghiên cứu - 338 sinh viên trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh (khách thể khảo sát băng bảng hỏi); - 6 sinh viên trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh (khách thé phỏng van); - 5 đội trưởng các đội hình tình nguyện thuộc trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh (khách thể phỏng van). Phương pháp nghiên cứu 7. Phương pháp nghiên cứu lý luận - Mục đích: Xây dựng cơ sở lý luận của đề tài, gồm các nội dung: + Khái niệm và các van dé lý luận liên quan đến biéu hiện thấu cảm; + Các công trình trong va ngoài nước có liên quan đến biéu hiện thấu cảm. - Cách tiễn hành: Thu thập thông tin khoa học trên cơ sở nghiên cứu văn bản, tài liệu đã có về vấn đề “thấu cảm”, “biểu hiện thấu cảm”, “sinh viên”.
Sau đó loại đi các dữ liệu không phù hợp hoặc không đáng tin cậy. Cuối cùng sử dụng các thao tác tư duy logic rút ra các kết luận khoa học cần thiết. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn 7. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi - Mục đích: Khảo sát thực trạng biểu hiện thấu cảm của sinh viên trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh thông qua việc tự đánh giá của sinh viên cũng như các tình huống đánh giá khách quan.
- Cách tiến hành: Xây dựng bảng hỏi thử, khảo sát thử nghiệm sau đó điều chỉnh thành bảng hỏi chính thức khảo sát sinh viên trường Đại hoc Sư phạm Thành phó Hồ Chí Minh về một số thông tin cá nhân của khách thé cùng với các biểu hiện thâu cảm của khách thé. Phương pháp phỏng van - Mục đích: Tìm hiểu biểu hiện thấu cảm của sinh viên trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh thông qua tự đánh giá của sinh viên và đánh giá khách quan của đội trưởng các đội hình tình nguyện, xin ý kiến đánh giá về một số giải pháp được đề xuất nhằm phát triển mức độ biéu hiện thấu cảmở sinh viên. - Cách tiễn hành: Thu thập thông tin trực tiếp và sử dụng thông tin phỏng vấn làm tư liệu cho đề tài nghiên cứu từ bảng hỏi gồm 3-4 câu hỏi mở soạn sẵn dành cho sinh viên, đội trưởng các đội hình tình nguyện tại trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh. Phương pháp thống kê toán học - Mục dich: Định lượng các kết quả nghiên cứu liên quan đến biéu hiện thấu cảm của sinh viên trường Đại học Sư phạm Thành phó Hồ Chí Minh.
- Cách tiến hành: Sử dụng phần mềm SPSS để xử lý và phân tích các số liệu thu thập được từ bảng hỏi, bảng đánh giá và sử dụng những công cụ quy chiếu cho việc đo lường các biéu hiện và mức độ thấu cảm của sinh viên trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh. Nội dung xử lý bao gồm các thống kê mô tả (tong, trị số trung bình, tần số, tỷ lệ phần trăm, hệ số tương quan Pearson, kết quả kiểm nghiệm Anova và kiểm nghiệm T- test). CHUONG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VE BIEU HIEN THAU CAM CUA SINH VIÊN TRUONG DAI HỌC SU PHAM THÀNH PHO HO CHÍ MINH 1. Lich sử nghiên cứu thấu cảm 1.
Trên thế giới Trên thế giới, “thấu cảm” là một đề tài đã được nhiều nhà khoa học quan tâm và tiễn hành các nghiên cứu có liên quan. Qua việc nghiên cứu và tổng hợp tài liệu, người nghiên cứu nhận thấy các nhà khoa học đã tiếp cận khái niệm thấu cảm theo 2 hướng chính. Một số nhà khoa học có quan điểm xem thấu cảm là một phản ứng cảm xúc (ví dụ là lòng trắc ân) đối với một phản ứng cảm xúc khác của người khác (ví dụ nỗi buồn) (Preston, 2002). Rankin, Kramer và Miller cho rằng phản ứng này không phụ thuộc vào sự hiểu biết về lý do tại sao một người nào đó đau khổ, mặc dù nó có thé tạo điều kiện cho việc thấu hiểu và chia sẻ (Rankin, Kramer, Miller, 2005).
Nhiều tác giả theo quan điểm nay còn tập trung phân biệt thấu cảm với các trạng thái cảm xúc có biểu hiện gan giống như sự lây lan cảm xúc hoặc sự đồng cảm (Wispé, 1987; Omdahl, 1995). Cách tiếp cận này đặt chủ thể ở vai trò bị động, nghĩa là bị rơi vào một trạng thái nào đó do ảnh hưởng bởi cảm xúc của người khác. Ngược lại, một số nhà khoa học khác như Lawrence, Shaw, Baker, Baron-Cohen, David lại tiếp cận thấu cảm như một thành phần của nhận thức xã hội, nghĩa là sự hiểu biết hoặc khả năng có thể hình dung ra cảm xúc của người khác (Lawrence, Shaw, Baker, Baron-Cohen, David, 2004). Cách tiếp cận này cho thấy tính tích cực khi đặt chủ thé trong vai trò chủ động tìm hiểu và chia sẻ với cảm xúc của người khác.
Không dừng lại ở các nền tảng lý luận, trên thế giới cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu tạo ra công cụ đo lường sự thấu cảm. Do đặc điểm của đối tượng nghiên cứu diễn ra ở nội tâm và khó quan sát được bởi người khác nên hầu hết các công cụ đều là thang đo tự đánh giá. Năm 1969, Hogan xây dựng thang đo thấu cảm (Empathy Scale) — được xem là một trong những công cụ đầu tiên đo lường sự thấu cảm — gồm 4 khía cạnh: sự tự tin xã hội, sự nhạy cảm, sự nhạy cảm và sự không tuân theo lề thói (Hogan, 1969). Tuy nhiên nhiều nhà khoa học gần đây cho rằng thang đo này phù hợp hơn cho việc đo lường các kỹ năng xã hội thay vì biểu hiện thấu cảm.