CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG TRUONG MAM NON DAT CHUAN QUOC GIA 1. TONG QUAN CAC NGHIEN CUU LIEN QUAN DEN DE TAI Xây dựng trường ĐCQG các ngành học, bậc học là một trong những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh của nhà trường, tạo điều kiện tốt để “nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài” cho địa phương và đất nước. Nhiệm vụ này đã trở thành xu thế của thời đại và là một trong những vấn đề cốt lõi của giáo dục. Đối với bậc học MN, việc xây dựng trường MN ĐCQG có ý nghĩa quan trọng như các bậc học khác, đó chính là cơ sở khoa học và là điều kiện rất cằn thiết đối với quá trình nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ.
Quốc hội, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã có những văn bản pháp quy như: Chỉ t 0-CT/TW ngày 15/6/2004 của Ban Bí thư về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ QLGD; Quyết định số 149/2006/QĐ-TTg ngày 23 tháng 6 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển GDMN giai đoạn 2006 - 2015 nêu rõ: Nhà nước có trách nhiệm quản lý, tăng cường đầu tư cho GDMN; hỗ trợ cơ sở vật chất, đào tạo đội ngũ nhà giáo; đồng thời đây mạnh xã hội hoá, tạo điều kiện thuận lợi về cơ chế, chính sách để mọi tổ chức, cá nhân và toàn xã hội tham gia phát triển GDMN. Nhà nước ưu tiên đầu tư cho các vùng có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn; từng bước thực hiện đổi mới nội dung, phương pháp GDMN, gắn với đổi mới giáo dục phô thông chuẩn bị tốt cho trẻ vào lớp 1, góp phan tích cực, thiết thực nâng cao chất lượng giáo dục. Gần đây nhất là Nghị quyết số 29-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nghị quyết Hội Nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế cũng có đề cập đến vấn đề này. Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về công tác xây dựng trường ĐCQG, ngày 12 tháng 08 năm 2011, UBND thành phố Kon Tum đã ban hành Quyết định 3266/QĐ-UBND về việc ban hành Đề án Xây dựng trường ĐCQG thành phố Kon Tum giai đoạn 2011— 2015.
Đề án cũng đã nêu rõ các nhóm giải pháp và lộ trình cụ thể để xây dựng trường ĐCQG. Những năm gần đây, việc nghiên cứu xây dựng trường ĐCQG tại các trường học được thể hiện trong các đề tài luận văn cao học như: “Biện pháp quản lý của hiệu trưởng trong việc xây dựng trường trung học phổ thông đạt chuẩn quốc gia ở Quảng Ninh” của tác giả Đặng Lộc Thọ; “Biện pháp xây dựng các trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia tại thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông” của tác giả Tống Thị Thanh Mai; “Các biện pháp huy động cộng đồng tham gia xây dựng trường trung học cơ sở đạt chuẩn quốc gia ở huyện Vĩnh Bảo, thành phô Hải Phòng” của tác giả Đoàn Văn Thành. Các công trình đã thể hiện những biện pháp cụ thể để nhà trường xây dựng trường ĐCQG. Tuy không trực diện bàn vào vấn đề xây dựng trường MN ĐCQG nhưng các đề tài luận văn thạc sĩ đã đề xuất các biện pháp bồi dưỡng đội ngũ, tăng cường công tác XHH giáo dục, nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ, đầu tư CSVC.
Đây chính là các cấu phần, các tiêu chuẩn làm cơ sở để xây dựng trường MN ĐCQG, cụ thể như: "Biện pháp thực hiện xã hội hoá giáo dục đối với ngành học mầm non trên địa bàn quận Hai Bà Trưng (Hà Nội) đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục" của tác giả Phạm Thị Tâm; "Biện pháp quản lý của hiệu trưởng nhằm nâng cao năng lực sư phạm cho giáo viên mầm non thành phố Thái Nguyên" của tác giả Lưu Thị Kim Phượng; "Biện pháp quản lý chương trình bồi dường giáo viên mầm non nhằm nâng cao chất lượng giáo dục mầm non Hà Nội trong thời kỳ đổi mới" của tác giả Phạm Thị Hương; "Biện pháp phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường Mầm non tỉnh Nam Định đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục trong giai đoạn hiện nay" của tác giả Phạm Thị Thanh Thủy; "Quản lý công tác xã hội hoá sự nghiệp giáo dục mầm non ở huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội trong bối cảnh phát triển hiện nay" của tác giả Đỗ Thị Thúy Nga; "Giải pháp phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường mầm non quận Thanh Xuân hiện nay" của tác giả Trịnh Hoài Hương; "Biện pháp xây dựng trường mầm non đạt chuẩn quốc gia trên địa bàn huyện Hoà Vang thành phố Đà Nẵng" của tác giả Phạm Hồ Quỳnh Trang Ngoài ra, một số công trình đăng tải trên các báo, tạp chí như: "Xây dựng trường trung học cơ sở đạt chuẩn quốc gia giai đoạn 2001 - 2010" của tác giả Hà Thế Truyền trên tạp chí Giáo dục số 93; "Chuẩn quốc gia về giáo dục phổ thông- thách thức lớn trong lý luận chương trình dạy học của thế giới ngày nay" của tác giả Hồ Viết Lươn; Bên cạnh đó, có nhiều đề án của các địa phương trong việc xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia như: "Xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia giai đoạn 2011 - 2015 của Ủy ban nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai", "Đề án xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia của Ủy ban nhân dân huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum giai đoạn 2011 - 2015" Nhìn chung, nghiên cứu công tác quản lý nhằm nâng cao chất lượng giáo dục ở các nhà trường nói chung và trường MN nói riêng đã được các cấp QLGD, các nhà nghiên cứu quan tâm. Tuy nhiên trên thực tế, số công trình nghiên cứu về quản lý xây dựng trường ĐCQG còn hạn chế. Đặc biệt, cho. đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào về biện pháp xây dựng trường MN ĐCQG trên địa bàn thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum.
Vì vậy, đề xuất các biện pháp xây dựng trường MN ĐCQG trên địa bàn thành phố Kon Tum, 10 tỉnh Kon Tum là có tính cấp thiết nhằm góp phan nâng cao chất lượng GD toàn diện. CÁC KHÁI NIỆM CHÍNH CỦA ĐÈ TÀI 1. Quản lý Khái niệm “quản lý” là khái niệm rất chung, tổng quát. Nó dùng cho cả quá trình QL xã hội, QL giới vô sinh cũng như QL giới sinh vật.
Dưới các góc độ tiếp cận khác nhau có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý. Ở góc độ kinh tế, QL là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó thấy được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt đẹp và rẻ nhất. Dưới góc độ chính trị - xã hội và góc độ hành động “QL là hoạt động có ý thức để chỉ huy, điều khiển các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người nhằm đạt đến mục tiêu đúng ý chí của người QL và phù hợp với quy luật khách quan”. Theo Henry-Fayol (1841-1925), đại diện tiêu biểu của thuyết quản lý hành chính, thì “quản lý tức là lập kế hoạch, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm tra” [23].
Ông cũng cho rằng: “QL là khoa học và đồng thời là nghệ thuật thúc đây sự phát triển xã hội” [23] Tác giả Trần Kiểm cho rằng: QL là những tác động của chủ thể QL trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tô chức với hiệu quả cao nhất [23]. " Khái quát hơn, các tác giả Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng: QL là sự tác động có chủ đích của chủ thể QL đến đối tượng QL nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức [2] Các khái niệm trên, tuy diễn đạt khác nhau nhưng có nội hàm là hoạt động. QL được tiến hành trong một tổ chức bằng các tác động có mục đích của người QL đến những người bị QL nhằm phối hợp các nguồn lực để đạt tới mục tiêu của tổ chức. Như vậy, có thể khái quát: QL là sự tác động có chủ đích của chủ thể QL lên đối tượng QL nhằm phát huy tiềm năng của các yếu tố, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực và cơ hội của tô chức, nhằm đảm bảo cho tổ chức vận hành tốt, đạt mục tiêu với chất lượng và hiệu quả tối ưu.
Quản lý giáo dục Theo tac gia Tran Kiểm, “Khái niệm QLGD có nhiều cấp độ. Ít nhất có hai cấp độ: cấp độ vĩ mô là QL hệ thống giáo dục và cấp vi mô là QL nhà trường. Đối với cấp vĩ mô, QLGD được hiểu là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) cia chi thé QL đến tất cả các mắc xích của hệ thống (từ cấp cao nhất đến các cơ sở giáo dục của nhà trường) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ mà xã hội đang mong chờ ở ngành giáo dục. QLGD theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đây mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển của xã hội.
Ngày nay, với chiến lược của ngành giáo dục, công tác giáo dục không chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ mà cho cả mọi tầng lớp trong xã hội, tuy nhiên trọng tâm vẫn là thế hệ trẻ, cho nên QLGD được hiểu là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân. 12 Đối với cấp vi mô, QLGD là quản lý mọi hoạt động giáo dục trong nhà trường, như vậy ở đây giáo dục được hiểu theo nghĩa hẹp. QLGD là hệ thống những tác động tự giác có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp.