MỞ ĐẦU Tài chính doanh nghiệp là một khâu của hệ thống tài chính trong nền kinh tế, là một phạm trù kinh tế khách quan gắn liền với sự ra đời của nền kinh tế hàng hóa tiền tệ. Quá trình hoạt động kinh doanh từ góc độ tài chính cũng chính là quá trình phân phối để tạo lập hoặc sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp nhằm thực hiện các mục tiêu của hoạt động kinh doanh trong quá trình đó, diễn ra sự vận động chuyển hóa liên tục của các nguồn tài chính, tạo các luồng tiền tệ đi vào hoặc đi ra khỏi chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp. Vai trò của tài chính doanh nghiệp được thể hiện ở chỗ xác định đúng đắn các nhu cầu vốn cần thiết trong từng thời kỳ. Bất kỳ doanh nghiệp nào muốn tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, đầu tiên là cần có một lượng vốn tiền tệ nhất định.
Ta gọi các loại vốn tiền tệ này là vốn kinh doanh. Như vậy, vốn kinh doanh của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền toàn bộ tài sản được đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lời. Do vậy, vốn là yếu tố có tính chất quyết định trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Điều này đòi hỏi các doanh nghiệp phải hiểu rõ được tầm quan trọng và giá trị của đồng vốn để quản lý và sử dụng có hiệu quả để bảo toàn phát triển vốn, đảm bảo cho các doanh nghiệp ngày càng lớn mạnh.
Như vậy, vốn là yếu tố số một của mọi hoạt động sản xuất kinh doanh, nó đòi hỏi các doanh nghiệp phải quản lý và sử dụng có hiệu quả để bảo toàn và phát triển vốn, đảm bảo cho doanh nghiệp ngày càng lớn mạnh. Do đó, để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, doanh nghiệp cần nắm vững được bản chất cũng như những đặc trưng cơ bản về vốn. Chỉ khi nào hiểu rõ tầm quan trọng cũng như giá trị của đồng vốn thì doanh nghiệp mới có thể sử dụng nó một cách có hiệu quả. Để giải quyết các vấn đề đã đặt ra và qua thời gian tìm hiểu thực tế tại Công Ty Cổ Phần Cảng Hải Phòng em đã lựa chọn đề tài “Biện pháp nâng cao 1 hiệu quả sử dụng vốn tại công ty Cổ phần Cảng Hải Phòng” với hy vọng góp một phần nhỏ bé nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của công ty trong thời gian tới.
Kết cấu đề tài gồm 3 phần: Phần 1: Cơ sở lý luận về vốn và hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp. Phần 2: Thực trạng về sử dụng vốn của Công ty Cổ Phần Cảng Hải Phòng Phần 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của Công ty Cổ Phần Cảng Hải Phòng 2 PHẦN 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ VỐN VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Khái quát về vốn kinh doanh của doanh nghiệp 1. Khái niệm vốn kinh doanh Trong nền kinh tế thị trường, mỗi DN được coi là một tế bào của nền kinh tế, với chức năng chủ yếu là tiến hành các hoạt động SXKD tạo ra những sản phẩm hàng hoá dịch vụ phục vụ cho mọi nhu cầu của xã hội và nhằm mục tiêu tối đa hoá giá trị cho DN.
Để có thể tiến hành hoạt động SXKD thì điều đầu tiên mang tính bắt buộc đối với bất kỳ một DN nào muốn đứng vững và phát triển được là phải có vốn. Vốn là điều kiện tiên quyết có ý nghĩa quyết định tới mọi khâu của quá trình SXKD. Trong môi trường cạnh tranh khốc liệt, muốn tồn tại và phát triển bền vững, DN phải có khả năng sử dụng vốn của mình sao cho đạt hiệu quả cao nhất. Từ đó, không những DN có thể tồn tại và có chỗ đứng trên thị trường mà có thể sử dụng lợi nhuận từ hiệu quả sử dụng vốn đem lại để tiến hành đầu tư, tái sản mở rộng quy mô, đưa DN ngày càng phát triển lớn mạnh hơn.
Với tầm quan trọng đó vốn đã trở thành đề tài nghiên cứu của nhiều nhà kinh tế học, nhưng dưới góc độ nghiên cứu khác nhau và những điều kiện kinh tế không giống nhau, quan điểm về vốn có sự khác biệt: Vốn là khái niệm được xuất phát từ tên tiếng Anh là “capital” (tư bản). Tuy nhiên, khi nói về vốn, trên thực tế còn tồn tại rất nhiều quan điểm khác nhau định nghĩa về vốn và hiện nay vẫn tiếp tục có sự tranh luận về định nghĩa chính xác của nó. Theo quan điểm của các nhà kinh tế học cổ điển: Vốn là một trong các yếu tố để sản xuất kinh doanh (như đất đai, lao động, tiền…), vốn là các sản phẩm được sản xuất ra để phục vụ cho sản xuất (như máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu…). Theo quan điểm này, vốn được xem xét dưới góc độ hiện vật là chủ yếu.
3 Ưu điểm của quan điểm này là đơn giản, dễ hiểu nhưng nó chưa nói lên được đặc điểm vận động cũng như vai trò của vốn trong quá trình SXKD. Theo Karl Marx, dưới góc độ các yếu tố sản xuất, vốn được khái quát hoá thành phạm trù tư bản.M cho rằng: Vốn (tư bản) là giá trị mang lại giá trị thặng dư, là đầu vào của quá trình sản xuất. Định nghĩa này có một tầm khái quát lớn vì bao hàm đầy đủ cả bản chất và vai trò của vốn. Bản chất của vốn là giá trị cho dù nó được biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như: tài sản cố định, nhà cửa, nguyên vật liệu, tiền công.
Vốn là giá trị đem lại giá trị thặng dư vì nó tạo ra sự sinh sôi về giá trị thông qua các hoạt động SXKD. Tuy nhiên, do hạn chế về trình độ phát triển lúc bấy giờ, K.M đã bó hẹp khái niệm về vốn trong khu vực sản xuất vật chất và cho rằng chỉ có quá trình sản xuất mới tạo ra giá trị thặng dư cho nền kinh tế. Điều này không đúng với nền kinh tế thị trường hiện nay.Samuelson, đại diện tiêu biểu của học thuyết tăng trưởng kinh tế hiện đại, coi đất đai và lao động là các yếu tố ban đầu sơ khai, còn vốn và hàng hóa chỉ là kết quả của sản xuất. Vốn bao gồm các loại hàng hóa lâu bền được sản xuất ra được sử dụng như các đầu vào hữu ích trong quá trình sản xuất sau đó.
Một số hàng hóa vốn có thể tồn tại trong vài năm, trong khi đó một số khác có thể tồn tại trong một thế kỷ hoặc lâu hơn. Đặc điểm cơ bản nhất của hàng hóa vốn thể hiện ở chỗ chúng vừa là sản phẩm đầu ra vừa là yếu tố đầu vào trong sản xuất. Về bản chất vốn là phương pháp sản xuất gián tiếp tốn thời gian. David Begg, Stenley Ficher, Rudiger Darubused trong cuốn “Kinh tế học” cho rằng: Vốn bao gồm vốn hiện vật và vốn tài chính.
Vốn hiện vật là giá trị của hàng hoá đã sản xuất được sử dụng để tạo ra hàng hoá và dịch vụ khác. Vốn tài chính là tiền và các giấy tờ có giá của doanh nghiệp. Theo định nghĩa trên, D.B đã đồng nhất vốn với tài sản của DN. Thực chất vốn của DN là biểu hiện bằng tiền của tất cả các tài sản mà DN dùng trong quá trình SXKD.
Quan điểm này cho thấy nguồn gốc hình thành vốn và trạng thái biểu hiện của vốn, nhưng hạn chế cơ bản là chưa cho thấy mục đích của việc sử dụng vốn. 4 Theo quan điểm của các nhà kinh tế học hiện đại: Vốn kinh doanh trong các doanh nghiệp là một quỹ tiền tệ đặc biệt, có trước khi diễn ra hoạt động sản xuất kinh doanh. Vốn kinh doanh của DN sau khi ứng ra, được sử dụng vào kinh doanh và sau mỗi chu kỳ hoạt động phải được thu về để ứng tiếp cho kỳ hoạt động sau. Vốn kinh doanh phải đạt tới mục tiêu sinh lời và vốn luôn thay đổi hình thái biểu hiện vừa tồn tại dưới dạng tiền, vừa tồn tại dưới dạng vật tư hoặc tài sản vô hình nhưng kết thúc vòng tuần hoàn phải là hình thái tiền.
Có thể thấy, các quan điểm khác nhau về vốn ở trên, một mặt thể hiện được vai trò tác dụng trong điều kiện lịch sử cụ thể với các yêu cầu, mục đích nghiên cứu cụ thể. Mặt khác, trong cơ chế thị trường hiện nay, đứng trên phương diện hạch toán và quản lý, các quan điểm đó chưa đáp ứng được đầy đủ các yêu cầu về quản lý đối với hoạt động kinh doanh của DN. Vậy có thể định nghĩa tổng quát về vốn: “Vốn kinh doanh của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản hữu hình và tài sản vô hình được đầu tư vào kinh doanh nhằm mục đích sinh lời”. Đặc trưng của vốn kinh doanh Để có thể quản lý và sử dụng hiệu quả kinh doanh, DN cần phải nắm được những đặc trưng của vốn như sau: Vốn là đại diện cho một lượng hàng hoá nhất định, có nghĩa là Vốn được biểu hiện bằng giá trị của tài sản hữu hình: nhà xưởng, máy móc thiết bị… và giá trị của tài sản vô hình: nhãn hiệu, bản quyền phát minh, sáng chế Với tư cách này, các tài sản tham gia vào quá trình SXKD đều không bị mất đi mà sẽ thu hồi được giá trị.
Vốn phải được vận động và sinh lời: Để tiền biến thành vốn thì đồng tiền đó phải được vận động và sinh lời. Vốn đưa vào SXKD của DN có nhiều hình thái vật chất khác nhau để từ đó tạo ra sản phẩm hàng hoá, dịch vụ tiêu thụ trên thị trường. Lượng tiền mà DN thu về sau quá trình tiêu thụ phải bù đắp được chi phí bỏ ra ban đầu, đồng thời phải có lãi. Quá trình này phải diễn ra liên tục thì mới bảo đảm cho sự tồn tại và phát triển của DN.
5 Vốn phải được tích tụ tập trung đến một lượng nhất định mới có thể đầu tư vào sản xuất kinh doanh, lượng đó phải đủ để mua sắm máy móc thiết bị, đất đai, nguyên vật liệu… để sản xuất. Để làm được điều này, các DN không chỉ khai thác vốn của mình mà còn phải tỉm cách huy động vốn từ nhiều nguồn khác nhau như phát hành cổ phiếu, phát hình trái phiếu, liên doanh liên kết, vay ngân hàng… Vốn phải có giá trị về mặt thời gian: Trong nền kinh tế thị trường, do ảnh hưởng cúa giá cả, lạm phát, khủng hoàng kinh tế… nên sức mua của đồng tiền ở các thời điểm khác nhau cũng khác nhau. Chính vì vậy khi bỏ vốn vào đầu tư, DN cần phải xem xét đến giá trị thời gian của vốn.