CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ THU HÚT VỐN FDI VÀO CÁC KHU CÔNG NGHIỆP, KHU KINH TẾ 1. Lý luận cơ bản về FDI 1. Khái niệm FDI Do đặc tính tạo ra lợi ích lớn hơn chi phí, đầu tư là một trong những nhân tố quan trọng nhất quyết định sự tăng trưởng và phát triển của mỗi quốc gia, của từng doanh nghiệp. Với vai trò đó, hoạt động đầu tư đã diễn ra rất mạnh mẽ, nó vượt ra khỏi phạm vi quốc gia và trở thành một nội dung cơ bản trong các quan hệ kinh tế quốc tế.
Căn cứ vào mức độ tham gia quản lý của nhà đầu tư và đối tượng bỏ vốn kinh doanh, Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) chia đầu tư nước ngoài thành 2 loại hình chủ yếu là đầu tư trực tiếp (Foreign Direct Investment- FDI) và đầu tư gián tiếp (Foreign Indirect Investment-FII). Đầu tư gián tiếp chủ yếu là hình thức đầu tư chứng khoán, tập trung vào các khoản cho các Chính phủ vay hoặc viện trợ, chủ đầu tư không được quyền trực tiếp tham gia điều hành hoạt động của đối tượng bỏ vốn. Ngược lại, đầu tư trực tiếp gắn chặt nguồn vốn với quyền tham gia điều hành công ty của chủ đầu tư ở nước ngoài nên nó có tác động sâu sắc đến đời sống kinh tế xã hội và chủ quyền quốc gia của nước tiếp nhận đầu tư. Đầu tư nước ngoài là hoạt động đầu tư trong đó có sự di chuyển nguồn lực (vốn, công nghệ, kĩ năng quản lý.) từ nước này sang nước khác nhằm thu được những lợi ích trên phạm vi toàn cầu.
Luật Đầu tư Việt Nam năm 2014 quy định: “Đầu tư kinh doanh là việc nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư để thực hiện hoạt động kinh doanh thông qua việc thành lập tổ chức kinh tế; đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế; đầu tư theo hình thức hợp đồng hoặc thực hiện dự án đầu tư” 5 [16, tr. Đồng thời quy định: “Nhà đầu tư nước ngoài là cá nhân có quốc tịch nước ngoài, tổ chức thành lập theo pháp luật nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam” [16, tr. Như vậy, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (vốn FDI) chính là lượng vốn biểu hiện bằng tiền hoặc bằng thiết bị dây chuyền công nghệ do các nhà đầu tư nước ngoài mang tới một quốc gia khác để thực hiện hoạt động kinh doanh và và tham gia quá trình quản lý trong thời gian hoạt động của dự án. Đặc điểm của FDI Thứ nhất, FDI không để lại gánh nặng nợ cho chính phủ nước tiếp nhận đầu tư như hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) hoặc các hình thức đầu tư nước ngoài khác như vay thương mại, phát triển ra nước ngoài… Bởi vì, chính các nhà đầu tư nước ngoài tự bỏ vốn ra kinh doanh, trực tiếp điều hành sản xuất kinh doanh, làm ăn lâu dài ở các nước sở tại, hoàn toàn tự chịu trách nhiệm về kết quả đầu tư.
Nước tiếp nhận FDI ít phải chịu những điều kiện ràng buộc kèm theo của người cung ứng vốn như tiếp nhận ODA, kể cả những điều kiện về chính trị, có ảnh hưởng đến công việc nội bộ, chủ quyền của đất nước đi vay. Các khoản vay ODA tuy có mức lãi suất ưu đãi, những chi phí thực tế nhiều khi rất cao, ẩn náu trong việc nhà tài trợ chỉ định nhà tư vấn, thiết bị, thuê chuyên gia tư vấn… cho nên lãi suất thực trả nhiều khi không thua kém lãi suất vay thương mại. Thực hiện liên doanh với nước ngoài, việc bỏ vốn đầu tư của các doanh nghiệp trong nước có thể giảm rủi ro về tài chính, trong tình huống xấu nhất khi gặp rủi ro về tài chính thì các đối tác nước ngoài cũng sẽ là người cùng chia sẻ rủi ro với các công ty nước sở tại. Thứ hai, do đặc điểm và bản chất của FDI, nhà đầu tư không dễ dàng rút vốn ra khỏi nước sở tại như đầu tư gián tiếp.
Đối với FDI, nhà đầu tư thường tính chuyện làm ăn lâu dài, không mang tính đầu cơ như đầu tư gián tiếp. Trong trường hợp không muốn làm ăn tiếp, nhà đầu tư cũng không thể 6 rút vốn dễ dàng, nhanh chóng như đầu tư gián tiếp, vì vốn đầu tư của họ nằm trực tiếp trong nhà xưởng, thiết bị trên đất nước tiếp nhận đầu tư, phải chuyển đổi thành tiền bằng cách bán lại hoặc thanh lý nhà máy mới thu hồi vốn và chuyển về nước được. Thứ ba, FDI không đơn thuần chỉ là vốn mà kèm theo đó là công nghệ, kỹ thuật, phương thức quản lý tiên tiến, cho phép tạo ra những sản phẩm mới, mở ra thị trường mới… Thực tế cho thấy, FDI là một kênh quan trọng đối với việc chuyển giao công nghệ cho nước đang phát triển. Điều này có ý nghĩa rất lớn đối với các nước vừa thiếu vốn, vừa có trình độ phát triển thấp, công nghệ lạc hậu, trình độ quản lý kém, đội ngũ cán bộ chưa được đào tạo đầy đủ.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài có tác động mạnh đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của nước tiếp nhận, thúc đẩy quá trình này trên nhiều phương diện: chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu thành phần kinh tế, cơ cấu vùng lãnh thổ, cơ cấu thành phần kinh tế, cơ cấu vốn đầu tư, cơ cấu công nghệ, cơ cấu lao động… Tuy nhiên không chỉ có các nước chậm phát triển mới quan tâm đến yếu tố chuyển giao công nghệ của FDI, mà cả các nước công nghiệp phát triển cũng đang tìm cách tận dụng ưu điểm này của FDI nhằm hợp lý hoá sản xuất, tận dụng lợi thế so sánh để nâng cao sức cạnh tranh, năng suất và hiệu quả tổng thể của nền kinh tế. Những ngành có khả năng canh tranh cao thì mở rộng đầu tư nước ngoài, những ngành trong nước kém phát triển thì để cho doanh nghiệp nước ngoài vào đầu tư. Đây cũng là quá trình phân công lao động quốc tế, chuyên môn hoá và hợp lý hoá sự phân bổ các nguồn nhân lực thông qua FDI. Thứ tư, thông qua tiếp nhận FDI, nước tiếp nhận đầu tư có điều kiện thuận lợi để gắn kết nền kinh tế trong nước với hệ thống sản xuất, phân phối, trao đổi quốc tế, thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của các nước này.
Chủ thể chủ yếu của hoạt động FDI trên thế giới hiện nay là các công ty, tập 7 đoàn xuyên quốc gia với mạng lưới chân rết toàn cầu; thông qua tiếp nhận đầu tư của các công ty, các tập đoàn này, nước sở tại có điều kiện thuận lợi để tiếp cận và thâm nhập thị trường quốc tế, mở rộng thị trường xuất khẩu, làm quen với tập quán thương mại quốc tế, thích nghi nhanh hơn với những thay đổi trên thị trường … Đó là vai trò làm cầu nối và thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế quốc tế rất quan trọng của FDI, một nhân tố đẩy nhanh quá trình toàn cầu hoá kinh tế thế giới. Thứ năm, FDI có một lợi thế nữa đối với ODA là có thể duy trì sử dụng lâu dài, từ khi một nền kinh tế còn ở mức phát triển thấp cho đến khi đạt được trình độ phát triển rất cao. Vốn ODA thường được dành chủ yếu cho những nước kém phát triển (có thu nhập bình quân đầu người dưới một mức nhất định) sẽ giảm đi và chấm dứt cho đến khi nước tiếp nhận thoát ra khỏi tình trạng kém phát triển, trở thành nước công nghiệp tức là bị giới hạn trong một thời kì nhất định. FDI không phải chịu giới hạn này.
Nó có thể đựơc sử dụng lâu dài trong suốt quá trình phát triển của mỗi nền kinh tế, tuỳ theo chính sách của nước tiếp nhận. Các hình thức chủ yếu của FDI Luật đầu tư tại Việt Nam quy định đầu tư trực tiếp nước ngoài được thể hiện qua ba hình thức chủ yếu sau: - Hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh - Doanh nghiệp liên doanh - Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài Ngoài ra Luật đầu tư của Việt Nam cũng quy định thêm đầu tư trực tiếp nước ngoài có thể được đầu tư theo các phương thức đặc biệt như doanh nghiệp chế xuất, hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao (BOT), hợp đồng xây dựng - chuyển giao - kinh doanh (BTO), hợp đồng xây dựng - chuyển giao (BT). Lý luận chung về khu công nghiệp, khu kinh tế 1. Lý luận chung về khu công nghiệp Trên thế giới, loại hình KCN đã có một quá trình lịch sử phát triển hơn 100 năm nay bắt đầu từ những nước công nghiệp phát triển như Anh, Mỹ cho đến những nước có nền kinh tế công nghiệp mới như Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore…và hiện nay vẫn đang được các quốc gia học tập và kế thừa kinh nghiệm để tiến hành công nghiệp hóa.
Ở Việt Nam, khái niệm về KCN đã được trình bày tại nhiều văn bản pháp luật như Quy chế Khu công nghiệp ban hành theo Nghị định số 192-CP ngày 28 tháng 12 năm 1994 của Chính phủ; Luật Đầu tư nước ngoài năm 1996; Quy chế KCN, KCX, Khu công nghệ cao ban hành theo Nghị định số 36/CP ngày 24 tháng 2 năm 1997 của Chính phủ, Luật đầu tư năm 2005. Theo Luật đầu tư năm 2014, “KCN là khu vực có ranh giới địa lý xác định, chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện dịch vụ cho sản xuất công nghiệp” [16, tr. - Về chức năng hoạt động: KCN là khu vực chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp. - Về không gian: KCN là khu vực có ranh giới địa lí xác định, phân biệt với các vùng lãnh thổ khác và thường không có dân cư sinh sống.
- Về thủ tục thành lập: KCN được thành lập theo quyết định của Chính phủ, trên cơ sở quy hoạch đã được phê duyệt. Theo đó, Nhà nước phải xây dựng quy hoạch phát triển các KCN, thẩm định kĩ trước khi thành lập và triển khai xây dựng. Trên cơ sở quy hoạch đã phê duyệt, dự án đầu tư đã thẩm định, Thủ tướng Chính phủ sẽ quyết định thành lập KCN tại những địa bàn cụ thể. - Về đầu tư cho xuất khẩu: Trong KCN có thể có khu vực hoặc doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu (KCX); doanh nghiệp chế xuất và 9 KCX có ranh giới địa lí phân biệt với các khu vực còn lại của KCN và áp dụng quy chế pháp lí riêng.
- KCN được coi là địa bàn tự do thu nhỏ về chính sách kinh tế - xã hội.