CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TÀI CHÍNH, TỰ CHỦ TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP 1. Khái niệm về tài chính đơn vị sự nghiệp công lập 1. Khái niệm Tài chính là phạm trù kinh tế tồn tại gắn liền với sự tồn tại của nhà nước và kinh tế hàng hóa. Hay nói cách khác chừng nào còn tồn tại nhà nước và kinh tế hàng hóa, tài chính còn tồn tại khách quan.
Theo Giáo trình Kinh tế Chính trị Mác - Lênin của Bộ Giáo dục và Đào tạo: “Tài chính nước ta là hệ thống quan hệ kinh tế biểu hiện trọng lĩnh vực hình thành, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ trong nền kinh tế quốc dân nhằm xây dựng, bảo vệ và phát triển xã hội chủ nghĩa” (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2006) [1]. Theo Giáo trình Kinh tế Chính trị học của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân: “Tài chính là một phạm trù kinh tế khách quan gắn liền với kinh tế hàng hóa và kinh tế thị trường. Đó là một hệ thống các quan hệ kinh tế nhất định biểu hiện dưới hình thức tiền tệ, phát sinh trong quá trình hình thành, quản lý và sử dụng các quỹ tiền tệ, nhằm phát triển sản xuất, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần nhân dân” (Trường ĐHKTQD, 1998) [7] Như vậy, có thể khái quát tài chính là một phạm trù kinh tế, phản ánh các mối quan hệ giữa các chủ thể kinh tế trong việc hình thành, quản lý và sử dụng các quỹ tiền tệ nhằm phát triển sản xuất và thoả mãn các nhu cầu của chung xã hội, cũng như các nhu cầu của các tổ chức, cá nhân. Xét về bản chất tài chính không phải là tiền mà là hệ thống các quan hệ kinh tế dưới hình thái tiền trong quá trình hình thành, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ.
Tuy nhiên, cũng cần phân biệt các quan hệ tài chính với quan hệ trao đổi mua - bán hàng hóa. Quan hệ trao đổi hàng hóa được thực hiện dưới hình thức quan hệ hàng hóa - tiền tệ, thực chất đó chỉ là sự chuyển hóa hình thái giá trị từ hàng thành tiền và ngược lại. Tức là sau khi kết thúc hành vi mua - bán hàng hóa, người bán được tiền và người mua có được hàng, đó là 6 giá trị sử dụng mình cần. Quan hệ trao đổi xét về giá trị không có sự chuyển dịch giữa người mua và người bán, trong trường hợp trao đổi ngang giá, tuân theo yêu cầu của quy luật giá trị thì người mua và người bán đều sở hữu giá trị ngang nhau.
Ngược lại quan hệ tài chính diễn ra có sự chuyển dịch giá trị thực sự giữa các chủ thể, ví dụ như có nộp thuế thu nhập hay doanh nghiệp nộp thuế cho Ngân sách nhà nước. Bản chất của tài chính được thể hiện ở cả hai chức năng: chức năng phân phối và chức năng giám đốc. Chức năng phân phối là chức năng vốn có của tài chính. Đó là quá trình phân phối nguồn lực tài chính thành các phần khác nhau, được sử dụng cho những mục đích của những chủ thể kinh tế, xã hội nhất định và từ đó tạo nên những quỹ tiền tệ trong hệ thống tài chính quốc gia.
Chức năng giám đốc của tài chính được thực hiện ngay trong quá trình hình thành, sử dụng tổng thu nhập quốc dân, quá trình tái sản xuất xã hội. Tài chính thông qua đồng tiền để giám sát việc quản lý và sử dụng các quỹ tiền tệ một cách có hiệu quả. Hai chức năng trên của tài chính có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, không thể tách rời nhau trong quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ. Theo quy định pháp luật hiện hành, chế độ quản lý tài chính đối với các các ĐVSN công được quy định tại Nghị định 43/2006/NĐ-CP của Chính phủ: Đơn vị sự nghiệp công lập: Là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội.
Thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân. Cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước (Khoản 1 Điều 9 Luật Viên chức)[18]. Đơn vị sự nghiệp công lập là những đơn vị thuộc sở hữu nhà nước. Được nhà nước cấp kinh phí khi mới thành lập, lãnh đạo của các đơn vị này do cơ quan chức năng của nhà nước bổ nhiệm hoặc bãi miễn.
Đơn vị sự nghiệp công lập được nhận diện thông qua các yếu tố sau đây: 7 – Được thành lập bởi cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định; – Là bộ phận cấu thành trong tổ chức bộ máy của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội; – Có tư cách pháp nhân; – Cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước; – Viên chức là lực lượng lao động chủ yếu, bảo đảm cho việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của đơn vị. Trong đó, đặc trưng của đơn vị sự nghiệp để phân biệt với cơ quan hành chính nhà nước, là vị trí pháp lý, tính chất hoạt động và đội ngũ viên chức. Các đơn vị sự nghiệp được các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, thành lập theo trình tự, thủ tục chặt chẽ và là bộ phận cấu thành trong cơ cấu tổ chức cơ quan nhà nước. Nhưng không mang quyền lực nhà nước, không có chức năng quản lý nhà nước.
Các đơn vị sự nghiệp công lập bình đẳng với các tổ chức, cá nhân trong quan hệ cung cấp dịch vụ công. Phân loại đơn vị sự nghiệp công lập Các đơn vị sự nghiệp công lập không chỉ đông đảo về số lượng, mà còn đa dạng về loại hình, lĩnh vực hoạt động. Do vậy, việc phân loại đơn vị sự nghiệp công lập rất phức tạp tùy theo tiêu chí phân loại. Theo tiêu chí mức độ tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập – Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập đã chia đơn vị sự nghiệp công lập thành 4 loại:[14] + Đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư; + Đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên; + Đơn vị tự bảo đảm một phần chi thường xuyên; + Đơn vị được Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên.
8 – Luật Viên chức năm 2010 quy định 2 loại đơn vị sự nghiệp công lập gồm: Đơn vị được giao quyền tự chủ hoàn toàn về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự. Đơn vị chưa được giao quyền tự chủ hoàn toàn về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự. Tiêu chí phân loại này không chỉ dựa trên khả năng tự chủ tài chính. Mà còn phụ thuộc vào mức độ tự chủ nhiệm vụ, tổ chức bộ máy và nhân sự.
Xét dưới góc độ vị trí pháp lý, đơn vị sự nghiệp công lập có thể chia thành 5 loại sau: – Đơn vị thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ; – Đơn vị thuộc Tổng cục, Cục; – Đơn vị thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; – Đơn vị thuộc cơ quan chuyên môn của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; – Đơn vị thuộc Ủy ban nhân dân cấp, Quận, huyện. Trong đó, đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ bao gồm: – Các đơn vị sự nghiệp công lập được quy định tại nghị định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn. Và cơ cấu tổ chức của từng Bộ, cơ quan ngang Bộ (các đơn vị nghiên cứu chiến lược, chính sách về ngành, lĩnh vực; báo; tạp chí. Trung tâm thông tin hoặc tin học.
Trường hoặc trung tâm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức; học viện). Và các đơn vị sự nghiệp công lập trong danh sách ban hành kèm theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Cơ chế tự chủ tài chính trong các đơn vị sự nghiệp công lập 1. Khái niệm cơ chế tự chủ tài chính Để hiểu rõ về tự chủ tài chính với đơn vị sự nghiệp công lập, trước tiên chúng ta cần làm rõ các khái niệm: tự chủ, tự chủ tài chính 9 Tự chủ (autonomy), theo Từ điển tiếng Anh Oxford 2004 là nói đến trạng thái chất lượng của một đối tượng hoặc một đơn vị như là nhà nước, chính quyền địa phương, một tổ chức, một cơ quan [9, tr 69].
Theo từ điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học xuất bản 2010 giải nghĩa “tự chủ” là việc tự điều hành, quản lý mọi công việc của cá nhân hoặc của tổ chức, không bị cá nhân, tổ chức khác chi phối. - Tự chủ ở đây dựa trên 2 nội dung cơ bản: tự chủ trong quản lý, sử dụng biên chế và tự chủ trong quản lý, sử dụng tài chính [2]. Vậy tóm lại, TCTC là chủ động quản lý và sử dụng nguồn lực tài chính của mình một cách có hiệu quả nhất. - Cơ chế tự chủ tài chính là cơ chế quản lý nhằm tăng cường quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các đơn vị về các mặt hoạt động tài chính, tổ chức bộ máy và sắp xếp lao động qua đó làm tăng chất lượng hoạt động và cung cấp dịch vụ của đơn vị [2].
Cơ chế quản lý tài chính có thể khái quát đó là hệ thống các nguyên tắc, luật định, chính sách, chế độ về quản lý tài chính và mối quan hệ tài chính giữa các đơn vị dự toán các cấp với cơ quan chủ quản và cơ quan quản lý Nhà nước. Cơ chế quản lý tài chính còn là mối quan hệ tài chính theo phân cấp: + Giữa Chính phủ (Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư) với các Bộ, ngành, các địa phương. + Giữa Bộ chủ quản, Bộ quản lý ngành với các đơn vị trực thuộc ở Trung ương; giữa UBND tỉnh với các đơn vị địa phương. + Giữa các ĐVSN, cơ quan quản lý nhà nước với các bộ phận, đơn vị dự toán trực thuộc.
- Cơ chế tự chủ tài chính trong các đơn vị sự nghiệp công lập Cơ chế tự chủ tài chính trong các đơn vị sự nghiệp công lập thực chất là cơ chế quản lý tài chính mà ở đó quyền định đoạt các vấn đề tài chính của đơn vị gắn trách nhiệm thực thi quyền định đoạn đó được đề cao.