Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THU TÀI CHÍNH TẠI ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP 1. Một số khái niệm có liên quan 1. Đơn vị sự nghiệp công lập Hệ thống đơn vị sự nghiệp công lập (ĐVSNCL) đóng vai trò quan trọng trong đời sống hàng ngày, nhằm mục đích cung cấp những dịch vụ công trong các lĩnh vực: giáo dục đào tạo; dạy nghề; y tế; văn hóa, thể thao và du lịch; thông tin truyền thông và báo cáo; khoa học và công nghệ; sự nghiệp kinh tế và sự nghiệp khác. Căn cứ Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2005 về Quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập, theo đó: Đơn vị sự nghiệp công lập do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước trong các lĩnh vực như: giáo dục đào tạo; dạy nghề; y tế; văn hóa, thể thao và du lịch; thông tin truyền thông và báo cáo; khoa học và công nghệ; sự nghiệp kinh tế và sự nghiệp khác [7].
* Đơn vị sự nghiệp công lập gồm: - Đơn vị sự nghiệp công lập được giao quyền tự chủ hoàn toàn về thực hiện nhiệm vụ tài chính, tổ chức bộ máy nhân sự (sau đây gọi là đơn vị sự nghiệp công lập được giao quyền tự chủ). - Đơn vị sự nghiệp công lập chưa được giao quyền tự chủ hoàn toàn về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự. Chủ yếu là các Viện nghiên cứu, Bệnh viện, Trường học… trực thuộc cơ quan nhà nước có thẩm quyền. * Phân biệt đơn vị sự nghiệp công lập và đơn vị sự nghiệp ngoài công lập Người sử dụng lao động trong đơn vị sự nghiệp công lập là nhà nước (trực tiếp hay gián tiếp).
Do vậy, cơ chế tuyển dụng, sử dụng, quản lý, chế độ, chính sách đối với viên chức trong các đơn vị này không giống các đơn vị sự nghiệp ngoài công lập và Nhà nước hoàn toàn có thể quy định một số nghĩa vụ mang tính chất ràng buộc đối với viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập. Luan van 7 Trong khi đó, các đơn vị sự nghiệp ngoài công lập đang được tổ chức và hoạt động chủ yếu theo mô hình doanh nghiệp: việc tuyển dụng, quản lý, sử dụng lao động trong các đơn vị này cơ bản dựa trên quan hệ lao động theo quy định của Bộ luật lao động. Do vậy, không thể xây dựng cơ chế pháp lý chung cho việc tuyển dụng, quản lý, sử dụng đối với loại đối tượng này. Các đơn vị sự nghiệp công lập không chỉ đông đảo về số lượng.
Mà còn đa dạng về loại hình, lĩnh vực hoạt động. Do vậy, việc phân loại đơn vị sự nghiệp công lập rất phức tạp tùy theo tiêu chí phân loại. Đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ tài chính Cơ chế tự chủ tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập được hiểu là cơ chế theo đó các đơn vị sự nghiệp công lập được trao quyền tự quyết định, tự chịu trách nhiệm về các khoản thu, khoản chi của đơn vị mình, nhưng không vượt quá mức khung do Nhà nước quy định. Về mức độ tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập Theo Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập đã chia đơn vị sự nghiệp công lập thành 04 loại: Đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư; Đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên; Đơn vị tự bảo đảm một phần chi thường xuyên; Đơn vị được Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên; Đơn vị được giao quyền tự chủ hoàn toàn về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự.
Đơn vị chưa được giao quyền tự chủ hoàn toàn về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự [7]. Tiêu chí phân loại này không chỉ dựa trên khả năng tự chủ tài chính, mà còn phụ thuộc vào mức độ tự chủ nhiệm vụ, tổ chức bộ máy và nhân sự. Mức tự bảo đảm chi phí hoạt động thường xuyên của đơn vị =Tổng số nguồn thu sự nghiệp hoạt động thường xuyên của đơn vị / Tổng số chi hoạt động thường xuyên. Quản lý tài chính tại đơn vị sự nghiệp công lập Tài chính là phạm trù kinh tế, phản ánh các quan hệ phân phối của cải xã hội dưới hình thức giá trị.
Phát sinh trong quá trình hình thành, tạo lập, phân phối các quỹ tiền tệ của các chủ thể trong nền kinh tế nhằm đạt mục tiêu của các chủ thể ở mỗi điều kiện nhất định. Hoạt động tài chính luôn gắn liền với sự vận động vật chất của đơn vị nhưng có thể biểu hiện một cách tương đối độc lập thông qua các dòng chu chuyển tiền tệ phục vụ các hoạt động sản xuất, trao đổi của đơn vị. Quản lý tài chính theo nghĩa rộng là việc sử dụng tài chính như công cụ quản lý kinh tế vĩ mô của Nhà nước. Theo nghĩa hẹp quản lý tài chính là quản lý thu chi ngân sách.
Nội dung chủ yếu của quản lý tài chính là đảm bảo hoạt động thu chi được tiến hành thông suốt, hiệu quả. Như vậy Quản lý tài chính là hoạt động tổ chức, điều hành của chủ thể quản lý thông qua việc lập kế hoạch, tổ chức thực hiện kế hoạch và kiểm tra kiểm soát hoạt động tài chính nhằm huy động, phân phối và sử dụng các nguồn lực tài chính đáp ứng nhu cầu hoạt động của đơn vị, đạt được các mục tiêu đã đặt ra. Quản lý tài chính tại các ĐVSNCL là hoạt động tổ chức, điều hành của chủ thể quản lý thông qua việc lập kế hoạch, tổ chức thực hiện kế hoạch và kiểm tra kiểm soát hoạt động tài chính nhằm huy động, phân phối và sử dụng các nguồn lực tài chính đáp ứng nhu cầu hoạt động của ĐVSNCL, đạt được các mục tiêu đã đặt ra. Để đạt được những mục tiêu đề ra, công tác quản lý tài chính đơn vị sự nghiệp bao gồm ba khâu công việc: Thứ nhất, lập dự toán thu, chi ngân sách nhà nước (NSNN) trong phạm vi được cấp có thẩm quyền giao hàng năm; Thứ hai, tổ chức chấp hành dự toán thu, chi tài chính hàng năm theo chế độ, chính sách của Nhà nước; Thứ ba, quyết toán thu, chi ngân sách nhà nước.
Chủ thể quản lý trong ĐVSNCL là Nhà nước. Là chủ thể quản lý, Nhà nước có thể sử dụng tổng thể các phương pháp, các hình thức và công cụ để Luan van 9 quản lý hoạt động tài chính của các đơn vị sự nghiệp trong những điều kiện cụ thể nhằm đạt được những mục tiêu nhất định. Việc sử dụng các quỹ công, đặc biệt là NSNN, luôn gắn liền với bộ máy Nhà nước nhằm duy trì sự tồn tại và phát huy hiệu lực của bộ máy Nhà nước, cũng như thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội mà Nhà nước đảm nhận. Đối tượng quản lý là hoạt động tài chính ĐVSNCL.
Tài chính ĐVSNCL bao gồm các hoạt động thu, chi bằng tiền của các ĐVSNCL, các hoạt động tạo lập và sử dụng các nguồn tài chính, ngân sách, kinh phí, các quỹ tài chính diễn ra tại đơn vị và quan hệ tài chính liên quan đến quản lý, điều hành của Nhà nước trong lĩnh vực sự nghiệp. Mục tiêu quản lý của quản lý tài chính tại các ĐVSNCL là sử dụng các nguồn tài chính hiệu quả, cung ứng dịch vụ công ích tốt nhất cho Nhà nước, cho xã hội. Cơ chế quản lý tài chính,các ĐVSNCL có thể sử dụng nhiều phương pháp quản lý khác nhau (tổ chức, hành chính, kinh tế) và nhiều công cụ quản lý khác nhau (pháp luật, chế độ, chính sách của nhà nước; các chế tài thưởng, phạt; kiểm tra, kiểm soát, giám sát, các tiêu chí đánh giá hiệu quả. Quản lý thu tài chính tại đơn vị sự nghiệp công lập Quản lý thu tài chính tại các ĐVSNCL là hoạt động quản lý tài chính, bao gồm tổ chức, điều hành của chủ thể quản lý thông qua việc lập kế hoạch, tổ chức thực hiện kế hoạch và kiểm tra kiểm soát hoạt động thu tài chính nhằm huy động nguồn lực tài chính đáp ứng nhu cầu hoạt động của ĐVSNCL, đạt được các mục tiêu đã đặt ra.
Để đạt được những mục tiêu đề ra, công tác quản lý thu tài chính tại đơn vị sự nghiệp cũng bao gồm ba khâu công việc: Thứ nhất, lập dự toán thu trong hàng năm; thứ hai, tổ chức chấp hành dự toán thu hàng năm theo chế độ, chính sách của Nhà nước. Quản lý thu tài chính tại đơn vị sự nghiệp công lập là tập hợp các hoạt động, biện pháp và các chính sách về thu tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập, được thể hiện thông qua những chỉ tiêu có thể tính toán và đánh giá được Luan van 10 như: chất lượng mở rộng các hoạt động thu tài chính và kết quả thu thu tài chính hàng năm. Quản lý thu tài chính có ý nghĩa to lớn trong việc tạo lập quỹ thu tài chính, bảo đảm triệt để các nguồn thu, khai thác mở rộng đối tượng để tăng nguồn thu, cân đối ổn định lâu dài, đảm bảo cho việc thực hiện chi. Nguồn tài chính của đơn vị công lập bao gồm: - Kinh phí do ngân sách nhà nước cấp: Kinh phí bảo đảm hoạt đồng thường xuyên thực hiện chức năng, nhiệm vụ đối với đơn vị tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động (sau khi đã cân đối nguồn thu sự nghiệp); được cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp giao, trong phạm vi dự toán được cấp có thẩm quyền giao; Kinh phí thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ (đối với đơn vị không phải là tổ chức khoa học và công nghệ); Kinh phí thực hiện chương trình đào tạo bồi dưỡng cán bộ, viên chức; Kinh phí thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia; Kinh phí thực hiện các nhiệm vụ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền đặt hàng (điều tra, quy hoạch, khảo sát, nhiệm vụ khác); Kinh phí thực hiện nhiệm vụ đột xuất được cấp có thẩm quyền giao; Kinh phí thực hiện chính sách tinh giản biên chế theo chế độ do nhà nước quy định (nếu có); Vốn đầu tư xây dựng cơ bản, kinh phí mua sắm trang thiết bị, sửa chữa lớn tài sản cố định (TSCĐ) phục vụ hoạt động sự nghiệp theo dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt trong phạm vi dự toán được giao hàng năm; Vốn đối ứng thực hiện các dự án có nguồn vốn nước ngoài được cấp có thẩm quyền phê duyệt; Kinh phí khác (nếu có).