đặt vấn đề về việc chuẩn bị khả năng tiền đọc viết ở trường mầm non cần phải bắt đầu sớm hơm, từ nửa sau tuổi sơ sinh và nội dung dạy học cũng phải xác định đúng hơn. Cần hiểu đúng hơn về chuẩn bị khả năng tiền đọc viết cho trẻ không chỉ quan tâm đến những hành vi bên ngoài mà còn là các hành động trí tuệ: đọc là hành động để hiểu văn bản, viết là hành động nhằm tạo ra một thông điệp nào đó. Bài viết gần đây nhất của tác giả trên Tạp chí giáo dục: “Mấy vấn đề về chuẩn bị khả năng tiền đọc, viết tuổi mầm non” đã nêu ra những định hướng mới trong việc nghiên cứu và chỉ đạo giáo dục mầm non về vấn đề này. [49] Dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Đinh Hồng Thái, nhiều năm nay đã có nhiều luận văn thạc sỹ nghiên cứu về lĩnh vực này như: Phạm Thanh Thủy- “Ứng dụng công nghệ thông tin cho trẻ 5 - 6 tuổi làm quen với chữ viết”; Lê Thị Cẩm Hà - “Sử dụng truyện tranh để chuẩn bị khả năng tiền đọc viết cho trẻ 5 - 6 tuổi”; Trần Thị Phượng - “Lựa chọn và sử dụng truyện mẫu giáo giúp trẻ 5 - 6 tuổi làm quen với đọc sách”; Nguyễn Ngọc Ly - “Sử dụng góc thư viện giúp trẻ 5 -6 tuổi làm quen với đọc sách”; Phạm Thị Diễm -“Tổ chức 11 hoạt động trải nghiệm đọc cho trẻ 5-6 tuổi trong góc thư viện ở trường mầm non”….
Đặc biệt trong những năm gần đây tác giả Đinh Hồng Thái tập trung nghiên cứu việc học đọc, học viết của trẻ mẫu giáo trong trường mầm non. Tác giả cho rằng đọc (đọc hiểu) là một trong các kỹ năng sử dụng ngôn ngữ có vai trò quan trọng trong việc lĩnh hội tri thức văn hóa của mỗi người. Đọc là một quá trình tâm lý hết sức phức tạp, một hành động trí tuệ đòi hỏi người đọc không chỉ có sự hiểu biết ngôn ngữ mà còn có tri thức nền, các kiến thức liên quan đến nội dung văn bản ở nhiều cấp độ khác nhau tùy thuộc vào tính chất của nhiều loại văn bản. Vì vậy, khả năng này cần được hình thành càng sớm càng tốt.
[53] Như vậy, các nhà nghiên cứu ở nước ngoài hay trong nước đều nhìn nhận rằng khả năng tiền đọc viết là khả năng khởi đầu cho việc đọc viết trước khi trẻ có thể đọc và viết một cách thực thụ. Nó được coi như là sự cố gắng nỗ lực đầu tiên của đứa trẻ trong việc thực hiện những hành vi đọc, viết. Khả năng đọc, viết là nền tảng quan trọng cho sự phát triển các năng lực học tập của trẻ sau này, giúp trẻ có nhiều thuận lợi hơn trong lĩnh hội các kiến thức. Tuy nhiên chưa có nghiên cứu riêng về biện pháp tăng cường trải nghiệm đọc cho trẻ mẫu giáo nói chung và trẻ 5-6 tuổi nói riêng.
Hệ thống khái niệm cơ bản của đề tài 1. Khái niệm “đọc” Đọc là một quá trình lao động tinh vi diễn ra trong sự tham gia của đời sống tâm lý. Biết đọc giúp con người có thể nhân khả năng tiếp nhận lên nhiều lần, giúp con người nhận thức các mối quan hệ tự nhiên, xã hội và tư duy. Từ đó, con người có khả năng chế ngự một phương tiện văn hóa cơ bộ giúp họ giao tiếp được với thế giới bên trong con người khác, thông hiểu tư tưởng, tình cảm của người khác.
Đặc biệt, khi đọc các tác phẩm văn chương, 12 con người không chỉ được thức tỉnh về mặt nhận thức mà còn rung động tình cảm, nảy nở những ước mơ tốt đẹp, được khơi dây năng lực hành động, sức mạnh sáng tạo cũng như được bồi dưỡng về tâm hồn. Đọc là biến hình thức chữ viết của văn bản thành hình thức âm thanh để người đọc và người nghe hiểu được những điều mà tác giả đã nói qua chữ viết. Đọc là một quá trình nhận thức, một hoạt động trí tuệ phức tạp mà cơ sở của việc tiếp nhận thông tin bằng chữ viết dựa vào hoạt động của cơ quan thị giác để phân biệt và hiểu được nghĩa, biết được nội dung. Theo từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê năm 1988, đọc là “phát thành lời những điều được viết ra, theo đúng trình tự”.
Đọc có thể được phát âm hoặc không phát âm. Biết đọc tức là hiểu được ý nghĩa, nội dung của tập hợp các ký hiệu chữ viết thông qua sự nhận biết, phân biệt bằng mắt các ký hiệu này. [38] Theo tác giả Nguyễn Thanh Hùng, đọc là giải mã văn bản được thao tác hóa phù hợp và có cơ sở chắc chắn. Đọc văn bản là lao động của con người bằng cách tổng hợp rất nhiều thao tác cơ năng và trí năng.
Mắt phải bao quát tất cả các dấu hiệu của văn bản…Trí óc, đồng thời với đọc phải nhớ nghĩa, từ ý nghĩa của các đơn vị thông tin ngôn ngữ để nắm bắt nội dung gốc, ý tưởng sơ bộ rồi ghép nối các đơn vị ý nghĩa này thành nghĩa của văn chương. Thần kinh trung ương phải điều phối việc thu nhận thông tin truyền đến các vùng đại não rồi xử lý thông tin đưa ra những phản ứng đáp lại để kết thúc một quá trình đóng, mở các cơ quan kỳ diệu này của con người. Theo tác giả Đinh Hồng Thái: đọc được hiểu theo hai nghĩa: Đọc (văn bản) thành tiếng và đọc hiểu văn bản (có thể đọc thành tiếng hoặc đọc thầm). Khái niệm chúng ta đang bàn ở đây theo nghĩa thứ hai: đọc hiểu văn bản.Machado, trong cuốn “Những kinh nghiệm của trẻ mầm non trong nghệ thuật ngôn ngữ” cho rằng đọc là một phần của quá trình giao tiếp.
13 Đọc được xem là một hoạt động có hai mặt quan hệ mật thiết với nhau, đó là việc sử dụng một bộ phận có hai phương diện. - Phương diện thứ nhất đó là quá trình vận động của mắt, sử dụng bộ mã chữ - âm để phát ra một cách trung thành những dòng văn bản, ghi lại lời nói âm thanh. Quá trình này gọi là quá trình đọc thành tiếng. - Phương diện thứ hai đó là sự vận động của tư tưởng tình cảm, sử dụng bộ mã chữ -nghĩa, tức là mối quan hệ giữa các ký hiệu chữ viết và ý tưởng, các khái niệm chứa đựng bên trong để nhớ và hiểu nội dung những gì được đọc.
Quá trình này được gọi là quá trình đọc hiểu.[16] Theo Durkin hầu hết các chương trình đọc viết được xây dựng trên cơ sở của một trong hai quan điểm sau về đọc: - Một là: Đọc được miêu tả như một hành vi thị giác nhằm giải mã các ký hiệu, nhận biết và nói âm các chữ cái cấu tạo nên từ, đánh vần và tạo từ từ các chữ cái đó, người đọc áp dụng các luật về cú pháp và ngữ nghĩa học để hiểu nghĩa. - Hai là: Đọc được định nghĩa là một hành vi trí tuệ nhằm hiểu, nắm bắt, rút được nghĩa trong văn bản. Theo quan điểm này, trong quá trình đọc bằng cách kiểm chứng lại những giả định về nghĩa của các ký hiệu chữ viết, người đọc sử dụng kiến thức đã có về ngôn ngữ của bản thân để đọc văn bản. Thuật ngữ “đọc” được sử dụng trong nhiều nghĩa: Theo nghĩa hẹp, là việc chuyển dạng thức chữ viết của từ thành âm thanh; Theo nghĩa rộng, “đọc” được hiểu là sự vật chất hóa bên trong nghĩa là hiểu được ý nghĩa, nội dung của văn bản thông qua sự nhận biết, phân biệt các ký hiệu chữ viết.
Như vậy “đọc” được xem như là một hoạt động có các thành tố tiếp nhận dạng thức chữ viết của từ, chuyển dạng thức chữ viết thành nghĩa có âm thanh hoặc không có âm thanh và thông hiểu những gì được đọc. Khái niệm “đọc” ở trẻ mầm non Trẻ em được coi là giai đoạn đầu tiên của cuộc đời con người, giai đoạn chuẩn bị các phẩm chất và năng lực cần thiết để tham gia lao động xã hội. Việc tạo dựng thói quen tốt cho trẻ mầm non (từ 0- 6 tuổi) là một việc làm quan trọng để từ đó hình thành nhân cách cho trẻ em. Một trong những thói quen có ảnh hưởng sâu sắc đối với sự phát triển tư duy, đạo đức, lối sống.
của trẻ em đó là thói quen đọc sách. Trong lĩnh vực đọc - viết ở tuổi mầm non thì có nhiều khái niệm như “làm quen với đọc”, “chuẩn bị khả năng tiền đọc viết”, “phát triển khả năng đọc”. Như vậy, “đọc” ở trẻ mầm non là khả năng tiền đọc. Theo Marie Clay, nhà nghiên cứu giáo dục người New Zealand, là một trong những người đầu tiên đề cập đến thuật ngữ khả năng tiền đọc, viết.
Tác giả quan tâm đến các hành vi của trẻ khi chúng sử dụng sách và tài liệu, dụng cụ đọc viết để bắt chước các hoạt động đọc và viết mặc dù trẻ thực sự không thể đọc viết theo cách thông thường. Tiền đọc – viết không phải là một số kỹ năng cô lập mà là một tập hợp các kỹ năng của quy trình phát triển mà trẻ coi đó như là một phương tiện để đạt được mục tiêu đọc, viết. Theo Sulzby khả năng tiền đọc viết được coi là những hành vi đọc viết xuất hiện trước tiên làm nền tảng cho phát triển thành khả năng đọc viết thông thường [54]. Quan niệm giáo dục sớm đã xuất hiện nhiều nước trên thế giới, trong đó Glenn Doman, Phùng Đức Toàn là tác giả có quan niệm mới trong việc dạy trẻ đọc sớm.
Việc dạy trẻ đọc sớm sẽ kích hoạt tiềm năng kỳ diệu của bộ não trẻ. Và như vậy không có nghĩa là chúng ta lấy đi tuổi thơ của trẻ bằng cách bắt trẻ học sớm mà là “giáo dục tố chất”, “khai mở tiềm năng của bộ não trẻ”. [11] [39] Trong cuốn “Phát triển hứng thú đọc”, tác giả Hà Nguyễn Kim Giang viết: Trẻ em đọc cái mình không thể tự hiểu, đọc bằng chữ viết và câu văn với 15 những sắc thái biểu đạt thẩm mỹ riêng của nó nên việc đọc của các em cần nhờ sự giúp đỡ của người lớn và mang tính tập thể. Cho trẻ làm quen với đọc được diễn ra trong giai đoạn từ thời kỳ mới sinh cho đến thời kỳ trẻ bắt đầu lĩnh hội việc dạy học, bao gồm học đọc khi đến trường phổ thông.
Làm quen với đọc là một quá trình hình thành và biến đổi những kiến thức, kỹ năng, thái độ có liên quan, làm nền tảng cho việc học đọc một cách nhanh chóng, hiệu quả.