Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển nhận thức cho trẻ 5- 6 tuổi thông qua hoạt động làm quen với toán. Chương 2: Thực trạng phát triển nhận thức cho trẻ 5- 6 tuổi thông qua hoạt động làm quen với toán ở các trường mẫu giáo thị xã Điện Bàn tỉnh Quảng Nam. Chương 3: Đề xuất biện pháp phát triển nhận thức cho trẻ 5- 6 tuổi thông qua hoạt động làm quen với toán ở các trường mẫu giáo thị xã Điện Bàn tỉnh Quảng Nam. 5 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NHẬN THỨC CHO TRẺ 5-6 TUỔI THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG LÀM QUEN VỚI TOÁN 1.
Tổng quan nghiên cứu Nhận thức là hoạt động đặc trưng, là một trong ba mặt cơ bản của đời sống tâm lý con người. Nhờ nhận thức mà con người làm chủ được tự nhiên, làm chủ được xã hội và làm chủ được bản thân. Nhận thức bao gồm nhiều quá trình khác nhau thể hiện những mức độ phản ánh khác nhau bao gồm cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng tượng. Vì là một thành phần không thể thiếu được trong tâm lý người và có vai trò quan trọng trong đời sống tâm lý người nên nhận thức được rất nhiều nhà tâm lý, giáo dục quan tâm nghiên cứu.
Các nghiên cứu nước ngoài Các nhà tâm lý học hàng đầu trên thế giới luôn quan tâm nghiên cứu tâm lý trẻ em lứa tuổi mầm non và đặc biệt là sự phát triển nhận thức của trẻ. Nhà tâm lý học người Thụy Sỹ J. Piaget đã xem giai đoạn từ 2 – 6 tuổi là giai đoạn tiền thao tác, là giai đoạn quan trọng trong quá trình phát triển nhận thức của trẻ. Ở giai đoạn này trẻ đạt được các thành tựu quan trọng trong sơ đồ nhận thức.
Đó là sự xuất hiện hình ảnh tinh thần của trẻ thông qua khả năng bắt chước hành động dựa trên các biểu tượng (qua các hành động tượng trưng trong trò chơi tượng trưng và hành động vẽ hình). Các hình ảnh tinh thần chính là cơ sở nảy sinh các thao tác nhận thức của trẻ. Bên cạnh đó sự xuất hiện của tiếng nói đã giúp cho tốc độ thao tác tư duy của trẻ được nhanh hơn, diễn ra trong phạm vi thời gian, không gian lớn hơn và có tính khái quát hơn. Nghiên cứu về tri giác, J.
Piagiet cho rằng tri giác là một trường hợp riêng của những hành động cảm giác - vận động. Tri giác cho thấy mặt tượng hình của nhận thức về hiện thực. Cùng với hành động và thao tác, tri giác có vai trò quan trọng trong sự tiến hóa trí tuệ của trẻ em.Vertđeimela [35] xem tri giác là những tổng thể với cấu trúc nhất định chứ không phải là sự kết hợp của các cảm giác đơn lẻ. Peuchlin [10], tri giác là một cơ chế điều chỉnh của hoạt động thích nghi.
Tri giác đem lại một tập hợp những thông tin chọn lọc và được cấu trúc tùy theo kinh nghiệm, nhu cầu của cơ thể trước một đối tượng nào đó. 6 Nhà tâm lý học Liên Xô L.X Vưgốtxki thì cho rằng những thay đổi cơ bản trong sự phát triển tri giác xuất hiện liên quan với việc thay đổi trong cấu trúc tâm lý mới. Điều này được nhà tâm lý giải thích là ban đầu tri giác của con người gắn liền với vận động và các quá trình xúc cảm. Cùng với sự phát triển của trẻ, những liên hệ cảm xúc đầu tiên của những xúc cảm mạnh và vận động bị phá vỡ và các mối liên hệ trung gian mới giữa tri giác và trí nhớ được hình thành.
Trẻ tri giác dựa trên việc sữa đổi những kinh nghiệm cũ và những hình ảnh đã được hình thành trước đó. Điều này làm xuất hiện các thuộc tính quan trọng của tri giác. Và khi sự phát triển đạt đến một mức độ nhất định, sẽ xuất hiện mối liên hệ giữa tri giác và tư duy ngôn ngữ ở những quá trình tri giác trí tuệ, tạo nên một cấu trúc tâm lý mới. Ở lứa tuổi mầm non, tri giác liên quan chặt chẽ với tư duy cụ thể, còn ở tuổi thiếu niên thì bắt đầu có mối liên quan với tư duy trừu tượng.
Dựa trên quan điểm phản xạ của I.Palôv về các quá trình cảm xúc và những tư liệu nghiên cứu quá trình hình thành tri giác con người, các nhà tâm lý A. Ananhiev [33]… đưa ra luận điểm rằng quá trình tri giác gắn liền và phát triển cùng với các dạng hoạt động. Các hoạt động này mang tính tích cực và trở thành những hành động khảo sát – định hướng. Petrovxki [34] trong cuốn “Tâm lý học đại cương” được xuất bản năm 1977 đã cho rằng tri giác là “hành động đặc biệt hướng tới việc khảo sát đối tượng và xây dựng bản sao của đối tượng đó”.Zinchencô [33] nghiên cứu tri giác và hành động theo quan điểm di truyền học ở hai khía cạnh: thứ nhất, các ông xác định sự phụ thuộc của tri giác vào tính chất hoạt động của chủ thể; thứ hai, xem quá trình tri giác như là hành động định hướng – khảo sát.
Hành động này thực hiện chức năng khảo sát đối tượng và tạo nên hình ảnh của đối tượng. Nhờ các hình ảnh này mà chủ thể thực hiện điều khiển hành vi của mình. Ruxkaia [33],… và các công trình nghiên cứu của các tác giả khác đã chứng minh rằng trẻ em được sinh ra cùng với một loạt những phản ứng định hướng. Những phản ứng này được thể hiện ra bên ngoài qua các vận động của các cơ quan nhận cảm và là tiền đề của các hành động định hướng sau này.
Tuy nhiên việc chuyển những phản ứng định hướng thành những hành động định hướng 7 cần một quá trình lâu dài, phức tạp và được thực hiện trong suốt thời thơ ấu của trẻ. Như vậy, qua các nghiên cứu của mình các nhà tâm lý đã làm rõ khái niệm, đặc điểm, vai trò và quá trình phát triển của tri giác. Nghiên cứu về tư duy, J. Watson từ kết quả các thực nghiệm của mình đã quy tư duy về hành vi vận động ngầm ẩn, bao gồm phản ứng ngôn ngữ ẩn hoặc là các cử động.
Cùng với sự trưởng thành của trẻ, hành vi tư duy dần dần không được nghe thấy và nhìn thấy vì người lớn không cho trẻ nói to với chính mình. Và ông kết luận tư duy là “Kỹ xảo của cổ họng”, họng chính là bộ máy của tư duy.Buler vì xem tư duy và ngôn ngữ là một nên cho rằng tư duy chỉ phát triển khi đứa trẻ đã biết nói một cách mạch lạc. Điều này có nghĩa là tư duy chỉ phát triển sau khi đứa trẻ được 7 – 8 tuổi; trẻ ở lứa tuổi vườn trẻ và mẫu giáo được xem là tuổi phi logic và tiền tư duy. Cùng quan điểm với các nhà tâm lý trên, J.
Piaget khẳng định trẻ em là một thực thể phi xã hội, chỉ “suy nghĩ về mình và theo quan điểm của mình” nên tư duy của trẻ là mơ hồ, không có logic. Tư duy của trẻ sẽ chuyển sang trình độ của những thao tác logic trong quá trình sống và tiếp xúc với người lớn.Xêtsênốp trong tác phẩm “Tuyển tập triết học và các tác phẩm tâm lý học” đã chỉ ra nguồn gốc của tư duy là quan sát - nhận thức cảm tính về thế giới xung quanh. Tuy nhiên đứa trẻ không quan sát một cách thụ động mà tác động tích cực vào đối tượng khi tri giác chúng. Chính trong quá trình hành động với đồ vật trẻ học được cách đối chiếu, so sánh, phân tích các sự vật.
Như vậy, theo ông thì cơ sở để hình thành tư duy logic cao cấp chính là các hành động thực tiễn của trẻ. Đây là quan niệm căn bản cho những nghiên cứu sau này của các nhà tâm lý về quá trình phát triển tư duy của trẻ em.v… bằng các thực nghiệm của mình đã chứng minh được hình thức tư duy sơ khai của trẻ em có tính chất làm thử và hành động. Dựa trên cơ sở này, các nhà tâm lý đã xây dựng quan niệm về hai loại tư duy: tư duy hành động – với đặc trưng là trẻ sử dụng các thao tác với đồ vật, biến đổi vật bằng thể lực và không có khả năng suy luận logic; và tư duy lý luận – chủ thể không cần đến các hành động thực tiễn mà chủ yếu dựa vào ngôn ngữ với các phạm trù trừu tượng. Quan niệm này cho thấy mối quan hệ mật thiết của tư duy không chỉ với ngôn ngữ mà cả với 8 hành động thực tiễn.2 Các nghiên cứu trong nước Ở Việt Nam có các tác giả nghiên cứu về các vần đề liên qua đến tri giác và tư duy như: Phạm Minh Hạc, Nguyễn Quang Uẩn, Trần Trọng Thủy, Phạm Hoàng Gia, Nguyễn Ánh Tuyết,… Các tác giả Phạm Minh Hạc, Nguyễn Quang Uẩn, Trần Trọng Thủy trong các nghiên cứu về tri giác đã kết luận tri giác không những chịu ảnh hưởng của các tác nhân kích thích và còn bị chi phối bởi các nhân tố bên trong chủ thể như thái độ, nhu cầu, hứng thú, động cơ,… Phạm Hoàng Gia cho rằng trí thông minh chính là cốt lõi của tư duy.
Quá trình phát triển tư duy cũng chính là quá trình lĩnh hội các khái niệm và là cơ sở để tạo nên trí thông minh. Ông cho rằng ở trẻ mẫu giáo trí thông minh được thể hiện trong các thao tác với đồ vật và trong chính các hoạt động của trẻ. Tác giả Nguyễn Ánh Tuyết [27] qua các thực nghiệm về tính linh hoạt của tư duy đã đi đến kết luận: hành động với đồ vật càng phong phú, đa dạng càng giúp trẻ tránh được sự hình thành kiểu tư duy giáo điều, kinh nghiệm chủ nghĩa sau này. Đống thời tác giả cũng nhận định độ tuổi mẫu giáo lớn là giai đoạn cuối cùng của trẻ em ở lứa tuổi “mầm non”.
Ở giai đoạn này, những cấu tạo tâm lý đặc trưng của con người đã được hình thành trước đây, đặc biệt là trong độ tuổi mẫu giáo nhỡ vẫn tiếp tục phát triển mạnh. Với sự giáo dục của người lớn, những chức năng tâm lý đó sẽ được hoàn thiện về mọi phương diện của hoạt động tâm lý (nhận thức, tình cảm và ý chí) để hoàn thành việc xây dựng những cơ sở ban đầu về nhân cách của con người.