Chương I CƠ SỞ LÝ LUẬN VE BIEN PHÁP GIÁO DỤC KỸ NANG GIAO TIẾP CHO TRE MAU GIÁO 4-5 TUOI TRONG TRO CHOI DONG VAI THEO CHU DE 1. Tổng quan các nghiên cứu liên quan đến đề tài 1. Nghiên cứu ở nước ngoài Trên thé giới, các nhà nghiên cứu ở các lĩnh vực khác nhau đã có nhiều công trình nghiên cứu về KNGT trên bình diện lí luận và thực tiễn. Giao tiếp là một thuật ngữ đã được một số nhà triết học cô đại Hy Lạp như Platôn (428-347 TCN) và Sokrates (470-399 TCN) đề cập đến như là sự giao tiếp trí tuệ.
phản ánh mối quan hệ giữa con người với con người. Theo quan điềm của hai ông đều thống nhất với nhau “Thước đo của đạo đức là thước đo hành vi giao tiếp giữa con người với sự thông thái của thần linh. Sự thông thái chính là sự hiệu biết, là tri thức”. Đây là tư tưởng đầu tiên, đơn giản về giao tiếp.
Nhà triết học Đức, Feuerbach (1804-1872) đã viết “Ban chất người chi biểu hiện trong giao tiếp, trong sự thống nhất của con người. trong sự thống nhất dựa trên tính hiện thực của sự khác biệt giữa tôi và ban” (Cvapilic,1986 ). Giữa thé ky XIX, Karl Marx (1818-1883) đã luôn nhắn mạnh mỗi quan hệ giữ con người với con người và coi giao tiếp như là một nhu cầu xã hội. Ông cho rằng trong sản xuất vật chất và tái sản xuất của con người, buộc con người phải có giao tiếp trực tiếp với nhau.
Con người chỉ trở thành con người khi có những quan hệ hiện thực với những người khác, có giao tiếp trực tiếp với những người khác. Từ đó khăng định rằng: “Giao tiếp là một nhu cầu xã hội của con người và nó trở thành phương tiện quan trọng trong cuộc sống của mỗi con người” (Hoàng Anh, 2007). Như vậy các nhà khoa học đã quan tâm nghiên cứu về giao tiếp. Nhìn chung các tác giả đều đánh giá giao tiếp như một nhu cầu xã hội tat yếu của con người.
Và trẻ em cũng không ngoại lệ, giao tiếp luôn là một nhu cầu quan trọng đối với sự phát trién của trẻ. Đầu thé ki XX, lý thuyết về văn hoá xã hội do Lev Vygotsky khởi xướng nhắn mạnh đến tam quan trọng của yếu tố xã hội và văn hoá có tác động đến sự phát triền nhận thức của trẻ em. Ông tin rằng sự phát triên của trẻ em là kết quả của sự tương tác giữa đứa trẻ và môi trường xã hội của nó. “Giao tiếp xem như là sự thông báo hoặc quan hệ qua lại thuần túy giữa con người, như là sự trao đôi quan điểm và xúc cảm”.
Như vậy giao tiếp luôn thể hiện cảm xúc của người với người trong các môi quan hệ. KNGT sẽ được phát triển khi trong qua trình giao tiếp có biểu hiện của cảm xúc tích cực (L. Tác giá Kak Hai Nodich, người Đức đã nêu rõ ngôn ngữ của trẻ có một vai trò quan trọng và quá trình phát triển ngôn ngữ ở từng giai đoạn. Trong mỗi giải đoạn, nhiệm vụ của người lớn là giúp trẻ thâm nhập vào thế giới ngôn ngữ phong phú và đa dạng.
dẫn dắt trẻ từ những âm thanh “Gur, gir” ở tuôi sơ sinh đến sử dung, nam vững ngôn ngữ thành thạo, điều đó sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triên KNGT và trí tuệ của trẻ. Dé nâng cao khả năng giao tiếp cho trẻ, tác giả Linda Maget đã giới thiệu những kỹ nang giao tiếp xã hội, giúp trẻ giải quyết những trở ngại trong việc kết giao bạn bè. Muốn giúp trẻ giao tiếp phải tạo môi trường giao tiếp cho trẻ, phải cho trẻ học, chơi với bạn thì mới làm xuất hiện, nảy sinh nhu cau giao tiếp. Tác giả đã giúp cho phụ huynh có con ở lứa tuổi mẫu giáo biết cách lựa chọn môi trường giáo dục phù hợp dé trẻ phát triển kỹ năng giao tiếp.
(Kak - Hai - Nodich, 1990 và Linda Maget, 2009) Dé phát triển được KNGT thì có nhiều nhà khoa học lai khang định giao tiếp sẽ phát trién khi đứa trẻ tham gia vào hoạt động vui chơi.Uxova (1977) nghiên cứu về vai trò của trò chơi đã khang định: *.Trò chơi là hình thức tổ chức cuộc sông của trẻ, là phương tiện hình thành “Xa hội trẻ em”. Bà đã chỉ 10 r6 hai loại quan hệ trong quá trình chơi đó là quan hệ thực và quan hệ chơi. Các kết quả nghiên cứu của A.Uxova đã chỉ ra vai trò của trò chơi đối với việc hình thành, phát trién năng lực xã hội cho trẻ nói chung và kĩ năng giao tiếp nói riêng, từ đó bả dé xuất những kiến nghị về giáo duc kĩ năng giao tiếp cho trẻ. Trong công trình “Bat chước và tưởng tượng ở tuôi ấu tho” (1930), “Vai trò của vui chơi trong sự phát triển” (1933).
Vygotsky đã lí giải và phân tích vai trò của hoạt động chơi nhất là dạng các trò chơi mô phỏng. ông đã chỉ ra rằng, chính những trò chơi này tạo ra “Vùng cận phát triển", là điều kiện thuận lợi nhất cho sự hình thành những cơ sở đầu tiên của nhân cách. “Hoàn cảnh chơi” mang tính tướng tượng là con đường dẫn tới trừu tượng hóa (L.Leonchiev và các cộng sự của ông coi giao tiếp như là một dạng hoạt động với đầy đủ động cơ. mục đích, điều kiện và phương tiện hoạt động.
Ong cho rằng giao tiếp có thé là một dang hoạt động hoặc có thé là một phương thức, điều kiện của hoạt động. Đặc biệt là trong hoạt động vui chơi, trẻ tái hiện lại mỗi quan hệ giữ người và người thông qua vai chơi (A. Chương trình giáo dục mầm non của bang California - Mỹ cũng khẳng định: Chơi là tâm điểm của trẻ nhỏ, thông qua chơi trẻ lĩnh hội các kiến thức và phát trién kỹ năng của bản thân, trong đó có kỹ năng giao tiếp. Từ đó, họ xây dựng chương trình giáo dục trẻ thông qua hoạt động chơi.
Họ khăng định rằng trong suốt quá trình tham gia trò chơi trẻ có cơ hội được thẻ hiện bản thân, học hỏi nhiều điều từ môi trường xung quanh, rèn luyện và phát triển các kỹ năng đặc biệt là kỹ năng giao tiếp (California Departement of Education, 2010). Nhu vậy, các công trình nghiên cứu trên thé giới về giáo dục kỹ nang giao tiếp đã tập trung nghiên cứu về vai trò của giao tiếp đối với sự phát trién nhân cách của trẻ, đề xuất các kỹ năng và nội dung giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ thông qua hoạt động vui chơi. Giáo dục kỹ năng giao tiếp qua tô chức hoạt 11 động vui choi cho trẻ đã và đang được quan tâm như là một van đề có ý nghĩa thiết thực. Các nước phát triển đã đưa nội dung giáo dục kỹ năng giao tiếp qua tô chức hoạt động vui chơi vào chương trình giáo dục ở nhà trường.
Những vẫn đề trên, có tác dụng định hướng cho việc nghiên cứu va trién khai van đề giáo dục kỹ nang giao tiếp thông qua hoạt động vui chơi cho trẻ mam non ở các cơ Sở giáo dục. Nghiên cứu ở Việt Nam Ở Việt Nam, vấn đề giao tiếp mới được nghiên cứu từ cuối những năm 1970. Nhưng đến những năm 80, mới có nhiều bài viết và công trình nghiên cứu về giao tiếp một cách chuyên sâu và mang tính thực tiễn hơn, nó trở thành tâm điểm nghiên cứu. Phải nhắc đến tác giá Phạm Minh Hac với định nghĩa: “Giao tiếp là quá trình xác lập và vận hành các quan hệ xã hội giữa người với nhau”.
Ông là tác giả của cuốn sách: Giao tiếp là điều kiện tất yêu của sự hình thành và phát triển nhân cách. Và chính cuốn sách này đã nói lên vai trò quan trọng của giao tiếp với sự hình thành và phát triển nhân cách của một đứa trẻ (Phạm Minh Hạc, 1988). Năm 1999 tác giả Nguyễn Ánh Tuyết tiếp tục nghiên cứu vẻ quan điềm tích hợp trong giáo dục mầm non trong kỹ yếu hội thảo khoa học “Sư phạm tích hợp” bà có nên rõ vai trò của sự giao tiếp giữa mẹ và con, nói rộng ra là giữa nhóm người lớn và em bé đối với sự phát triển của trẻ em trong những năm đầu và cả cuộc đời sau này. chỉ rõ vai trò quan trọng và đặc điểm của sự giao tiếp giữa trẻ em với nhau, đặc biệt là sự hình thành kỹ năng giao tiếp trong hoạt động vui chơi của trẻ (Nguyễn Ánh Tuyết, 1999).
Theo tác giả Nguyễn Văn Đồng: “Giao tiếp là tiếp xúc tâm lý có tính đa chiều và đồng chủ thé giữa người với người được quy định bởi các yếu tổ văn hóa, xã hội và đặc trưng tâm lý cá nhân. Giao tiếp có chức năng thỏa mãn các nhu cầu vật chat và tinh than của con người, trao đôi thông tin, cảm xúc định , xÀ ' ˆ ,. điều chỉnh nhận thức, hành vi của ban thân và của nhau, tri giác lẫn 12 nhau, tao dựng quan hệ với nhau và tác động qua lại lẫn nhau”. Do đó con người cần phải có những KNGT mới thực hiện được các hành vi giao tiếp đúng với chuẩn mực hành vi của xã hội (Nguyễn Văn Đồng, 2012).
Bàn về kỹ năng giao tiếp của trẻ, tác giá Nguyễn Văn Luy và Tran Thị Tuyết Hoa viết: *Kỹ năng giao tiếp là mức độ phối hợp hợp lý nhất các thao tác, cử chỉ, điệu bộ, hành vi (Ké cả hành vi ngôn ngữ) đảm bảo đạt kết quả trong quá trình giao tiếp của con người. Kỹ năng giao tiếp vừa có tính ôn định, vừa có tính mềm dẻo, linh hoạt, sáng tạo, vừa có tính mục đích. Bản chất của kỹ năng giao tiếp là sự phối hợp phức tạp giữa chuẩn mực hành vi xã hội và cá nhân với sự vận động của cơ thé (Cơ mặt, ánh mắt, nụ cười, môi, tác động tay, chan, đầu, cô, vai, tư thé vận động.) và ngôn ngữ. Sự phối hợp đó có tính hài hoà, hợp lý có nghĩa là nó mang một nội dung thông tin nhất định, phù hợp với mục đích giao tiếp và mang lại hiệu quả trong quá trình giao tiếp” (Nguyễn Văn Lũy, Tran Thị Tuyết Hoa, 2006) Cũng từ tác giả Nguyễn Văn Lũy, Tran Thị Tuyết Hoa chỉ ra rằng, ảnh hưởng của trò chơi tới sự phát triển nhân cách của đứa trẻ thé hiện ở chỗ.
thông qua trò chơi, trẻ tìm hiéu hành vi và những mỗi quan hệ qua lại của người lớn mà đứa trẻ coi là mẫu mực đối với hành vi của nó. Qua trò chơi, đứa trẻ cũng rèn luyện được những kĩ xảo giao tiếp cơ bản, những phẩm chat cần thiết dé tiếp xúc với các bạn cùng tuôi.