phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục luận văn được trính bày trong ba chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về kiểm tra - đánh giá và kiểm tra - đánh giá kết quả học tập. Chƣơng 2: Thực trạng cóng tác kiểm tra - đánh giá và quản lý cóng tác kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của sinh viên ở trường Cao đẳng Du lịch HN. Chƣơng 3: Biện pháp quản lý cóng tác kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của sinh viên ở trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội. CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM TRA - ĐÁNH GIÁ 1.
Lịch sử nghiên cứu Từ lâu trong lịch sử giáo dục người ta nhận thấy mối quan hệ chặt chẽ giữa thi, kiểm tra với chất lượng dạy học, nên đã sử dụng thi, kiểm tra để đánh giá kết quả học tập của người học. Từ thời Phục hưng, ở Châu Âu c÷ng với việc đưa ra các tư tưởng tiến bộ, các nhà giáo dục cũng bước đầu thay đổi cách thức kiểm tra - đánh giá và thi cử. Đến thế kỷ XIV – XV tiêu biểu là: J.Comenxky óng yêu cầu thi, kiểm tra phải ph÷ hợp với trính độ người học và coi đñ là một cách thức dạy học, cñ vai trò khuyến khìch học sinh tìch cực tự giác học tập. Đầu thế kỷ XX, vấn đề kiểm tra - đánh giá quá trính dạy học được quan tâm phát triển theo tiêu chì hướng vào mục đìch, yêu cầu của LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chương trính giảng dạy.
Việt Nam là một đất nước cñ nền văn hoá lâu đời. Vấn đề kiểm tra - đánh giá chất lượng học tập của học sinh, sinh viên luón được sự quan tâm chö ý của xã hội và nhà trường. Tuỳ theo các giai đoạn phát triển, vấn đề thi, kiểm tra chịu sự chi phối bởi các “rào cản của đất nước”, tạo nên sự đa dạng, phong phö cả trong nhận thức cũng như cách tổ chức thực hiện. Nhà nước phong kiến trước đây đã tổ chức các kỳ thi Hương, thi Hội, thi Đính.
Với ba hính thức cơ bản là thi văn, thi võ, thi Lại viên. Các sắc lệnh của triều đính đã quy định rất chặt chẽ nhiệm vụ của các lực lượng trong kỳ thi, kèm theo sự thưởng phạt nghiêm minh. Tuy nhiên cũng cñ nhiều phiền toái, gò bñ gây khñ khăn và giảm sự sáng tạo của thì sinh trong löc làm bài. Hơn nữa, kiểm tra - đánh giá cñ cóng bằng và chình xác lại phụ thuộc hoàn toàn vào sự nhận xét chủ quan của giám khảo.
Cách mạng tháng 8 năm 1945 thành cóng đã tạo ra bước ngoặt quan trọng trong đời sống chình trị - kinh tế - xã hội của nhân dân. C÷ng với sự phát triển của đất nước, nền giáo dục xã hội chủ nghĩa cũng bắt đầu những bước đi đầu tiên và phát triển. Vấn đề kiểm tra - đánh giá kiến thức học tập của học sinh đã cñ nhiều biến đổi căn bản so với chế độ xã hội cũ. Trong những năm gần đây, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước hoạt động nghiên cứu lý luận về vấn đề này ngày càng được nâng lên một tầm cao mới.
Nhiều nhà nghiên cứu đã chỉ ra những yêu cầu về chất lượng thi, kiểm tra - đánh giá nhằm đáp ứng mục tiêu đào tạo con người trong thời kỳ phát triển. Dưới đây là một số tài liệu nghiên cứu về kiểm tra - đánh giá của các chuyên gia hàng đầu Việt Nam: * Nguyễn Đức Chình, Đo lường đánh giá trong giáo dục, tập bài giảng lưu hành nội bộ – khoa Sư phạm, Hà Nội 2004. * Đặng Bá Lãm, Kiểm tra - đánh giá trong dạy – học đại học, Nxb Giáo dục, Hà Nội 2003. *Nguyễn Đức Chình - Đinh Thị Kim Thoa, Kiểm tra đánh giá theo mục tiêu, tập bài giảng, khoa Sư phạm, Hà Nội 2005.
* Trần Khánh Đức, Đo lường và đánh giá trong giáo dục, tập bài giảng, khoa Sư phạm, Hà Nội 2006. * Dương Thiệu Tống, Trắc nghiệm và đo lường thành quả học tập, Nxb Khoa học xã hội, 2005. * Lâm Quang Thiệp, Đo lường đánh giá trong giáo dục, 2003. Để nâng cao chất lượng đào tạo của trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội, đã cñ các đề tài nghiên cứu về các lĩnh vực quản lý trong nhà trường như: Quản lý đội ngũ quản LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lý, quản lý đội ngũ giảng viên, quản lý hoạt động tự học của sinh viên, quản lý chương trính đào tạo, quản lý hoạt động giảng dạy các món chuyên ngành… Tuy nhiên, đến nay chưa cñ đề tài nào nghiên cứu về quản lý cóng tác kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của sinh viên.
Do vậy, đề tài nghiên cứu của luận văn là vấn đề mang tình cấp thiết trong cóng tác đào tạo của trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội trong giai đoạn hiện nay. Các khái niệm của đề tài 1. Quản lý Khoa học quản lý xuất hiện c÷ng với sự phát triển của xã hội loài người. Nñ là phạm tr÷ tồn tại khách quan, được ra đời một cách tất yếu do nhu cầu của mọi chế độ xã hội, mọi tổ chức, mọi Quốc gia, mọi thời đại.
Lao động quản lý là một lĩnh vực lao động trì tuệ và thực tiễn phức tạp nhất của con người nhằm điều khiển lao động thöc đẩy xã hội phát triển trên tất cả các bính diện, khoa học quản lý gắn liền với tiến trính phát triển của xã hội loài người, mang tình lịch sử, giai cấp, dân tộc, thời đại. Quản lý là một khoa học sử dụng tri thức của nhiều món khoa học xã hội, đồng thời quản lý còn là một nghệ thuật đòi hỏi sự khón khéo và tinh tế cao độ để đạt được mục đìch. Chình ví vậy người ta cñ thể tiếp nhận khái niệm quản lý theo nhiều cách khác nhau.Mác, quản lý là chức năng được sinh ra từ tình chất xã hội hoá lao động. Nñ cñ tầm quan trọng đặc biệt ví mọi sự phát triển của xã hội đều thóng qua hoạt động của con người và thóng qua quản lý.
Người viết: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mó tương đối lớn, thí ìt nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện như chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khì quan độc lập của nñ. Một người độc tấu vĩ cầm tự điều khiển lấy mính, còn dàn nhạc thí cần phải cñ nhạc trưởng” [7, tr. Ngày nay, thuật ngữ quản lý đã trở nên khá phổ biến nhưng cñ nhiều quan điểm khác nhau với những gñc độ khác nhau phụ thuộc vào cái nhín chủ quan và tình mục đìch hoạt động. Chöng ta cñ thể điểm qua một số khái niệm Theo F.
Taylo (1856-1915) “ Quản lý là biết được chình xác điều mính muốn người khác làm và sau đñ biết được họ làm việc đñ cñ tốt hay khóng, cñ rẻ nhất khóng”. Henri Fayol (1841 – 1925) xuất phát từ các loại hính quản lý cho rằng: “Quản lý là quá trính đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra”.46] LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Các nhà nghiên cứu người Mỹ Harold Koontz, Cyril O ’ Donnell, Heinz Weihrich trong cuốn “Những vấn đề cốt yếu của quản lý” thí cho rằng “Quản lý là một loại hoạt động thiết yếu nhằm đảm bảo sự phối hợp, nỗ lực của cá nhân hướng vào mục tiêu tổ chức - Đñ là hính thành một mói trường cñ những điều kiện tốt nhất, thời gian ìt nhất, cóng sức bỏ ra ìt nhất, sự bất mãn cá nhân ìt nhất để đạt hiệu quả cao nhất” [15, tr. Từ điển Tiếng Việt viết: “Quản lý là hoạt động của con người tác động vào tập thể người khác để phối hợp điều chỉnh phân cóng thực hiện mục tiêu chung” [22] Theo các tác giả Nguyễn Quốc Chì và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: hoạt động quản lý là tác động cñ định hướng, cñ chủ đìch của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) – trong một tổ chức – nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đìch của tổ chức”.1] Từ các cách tiếp cận trên ta thấy khái niệm quản lý bao hàm một số ý nghĩa chung đñ là: Quản lý là quá trính hoạt động lao động cñ mục đìch để điều khiển lao động. Cñ sự tương tác giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý.
Liên quan tới mói trường xác định. Từ các dấu hiệu chung này, chöng ta cñ thể khái quát như sau: Quản lý là một hoạt động nhằm thực hiện những tác động hướng đìch của chủ thể quản lý nhằm sử dụng cñ hiệu quả những tiềm năng, các cơ hội của tổ chức nhằm đạt đến mục tiêu của tổ chức đặt ra trong một mói trường luón luón thay đổi. Biện pháp quản lý Theo Đại từ điển tiếng Việt (1999) do Nguyễn Như ý chủ biên, biện pháp là “cách làm, cách thức tiến hành, giải quyết một vấn đề cụ thể”.161] Biện pháp quản lý là tổ hợp nhiều cách thức tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm tác động đến đối tượng quản lý để giải quyết những vấn đề trong cóng tác quản lý, làm cho hệ quản lý vận hành đạt mục tiêu mà chủ thể quản lý đã đề ra và ph÷ hợp với quy luật khách quan, nâng cao khả năng hoàn thành cñ kết quả các mục tiêu đặt ra. Biện pháp quản lý đòi hỏi sự tác động tương hỗ, biện chứng giữa chủ thể và khách thể quản lý.
Cñ 4 loại biện pháp quản lý cơ bản là: Biện pháp hành chình tổ chức, biện pháp tâm lý- giáo dục, biện pháp thuyết phục và biện pháp kinh tế. Biện pháp hành chính tổ chức: là cách tác động trực tiếp của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý trên cơ sở quan hệ tổ chức và quyền lực hành chình bằng mệnh LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lệnh, chỉ thị, quyết định. Biện pháp tâm lý-giáo dục: (còn đượcgọi là biện pháp tuyên truyền giáo dục) là cách tác động của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý dựa trên cơ sở vận dụng các quy luật tâm lý ứng dụng thành tựu các khoa học như Tâm lý học, Khoa học giáo dục. nhằm khai thác tiềm năng con người, kìch thìch ý thức tự giác, lòng say mê, sự sáng tạo của con người trong mọi hoạt động của tổ chức.