Chương 1: Cơ sở lý luận về công tác KTĐG và quản lý hoạt động KTĐG kết quả học tập của học viên trình độ cao đẳng trong các Học viện, nhà trường Quân đội. Chương 2: Thực trạng công tác KTĐG và quản lý hoạt động KTĐG kết quả học tập của học viên trình độ cao đẳng tại Học viện Phòng không - không quân Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động KTĐG kết quả học tập của học viên trình độ cao đẳng tại Học viện Phòng không - không quân 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC KIỂM TRA - ĐÁNH GIÁ VÀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA - ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC VIÊN TRONG CÁC HỌC VIỆN, NHÀ TRƢỜNG QUÂN ĐỘI 1. Khái quát nghiên cứu vấn đề 1. Trên thế giới Mỗi giai đoạn lịch sử, mỗi quốc gia có những hình thức KTĐG khác nhau nhưng đều đưa ra những qui định chuẩn, phù hợp với yêu cầu của xã hội hiện tại.
Ví dụ: Thời kì phong kiến, trong các thời đại ở Trung Quốc cũng như Việt Nam, đã sử dụng các phép thử để chọn tướng, dùng người, … và được miêu tả cụ thể trong Tam Quốc Chí. Trong các truyện dân gian việc kén rể, kén vợ, chọn dâu hiền, tôi trung xảy ra phổ biến, người ta còn tổng kết thành tục ngữ, ca dao, các câu thành ngữ. Việc thi cử thông thường có thể qua đối đáp, thi nấu ăn, dệt vải, thi đấu võ, thi viết. Trong các trường học Việt Nam và Trung Quốc thời xưa, bài viết được đánh giá qua các buổi bình văn, hoặc do quan trường chấm bài, một số kỳ thi quan trọng Vua cũng tham gia chấm bài; Thời kì tiền công nghiệp thi, kiểm tra phải phù hợp với trình độ người học và coi đó là một cách thức dạy - học, có vai trò khuyến khích học viên tích cực, tự giác học tập; Thời kì hậu công nghiệp KTĐG phát triển theo tiêu chí hướng vào mục đích, yêu cầu của chương trình giảng dạy.
KTĐG được hình thành khá sớm cùng với việc xuất hiện của xã hội loài người. Sự cải tiến các chương trình KTĐG xuất hiện từ những năm 70, 80 của thế kỷ trước. Ở giai đoạn hiện nay, KTĐG đã có các tiêu chí, bộ công cụ KTĐG, chương trình có sự hỗ trợ của kỹ thuật. Ở Việt Nam Lịch sử khoa cử ở Việt Nam được hình thành khá sớm từ thời phong kiến qua các kì thi hương, thi hội, thi đình, các cuộc thi chọn người tài, người có học vấn được tổ chức định kỳ.
Bên cạnh đó kết quả của các kì thi thi này hoàn toàn phụ thuộc vào sự nhận xét chủ quan của giám khảo. Đến thời kỳ 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Pháp thuộc, nền giáo dục Việt Nam mang tính nô dịch thuộc địa với chủ trương đào tạo một số ít người làm tay sai, còn đại đa số nhân dân là mù chữ (chính sách ngu dân để dễ cai trị). Song ở thời kỳ này các kỳ thi tuyển được tổ chức rất nghiêm túc và được bảo đảm bằng pháp luật, trung tâm khảo thí là đơn vị độc lập với Bộ GD-ĐT. Công tác KTĐG chất lượng giáo dục luôn gắn liền với mục tiêu đào tạo của thực dân phong kiến.
Cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công đã tạo ra bước ngoặt quan trọng trong đời sống chính trị - kinh tế - xã hội của nhân dân. Cùng với sự phát triển của đất nước, nền giáo dục xã hội chủ nghĩa cũng bắt đầu những bước đi đầu tiên và phát triển. Vấn đề KTĐG kết quả học tập của học viên đã có nhiều biến đổi căn bản so với chế độ xã hội cũ. Đặc biệt là trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển GD-ĐT, hoạt động nghiên cứu KTĐG; nghiên cứu công tác QL hoạt động KTĐG có những phát triển mới.
Nhiều nhà nghiên cứu đã chỉ ra những yêu cầu về QL nhằm nâng cao chất lượng KTĐG góp phần nâng cao chất lượng dạy - học. Một số tài liệu nghiên cứu về KTĐG trong lĩnh vực giáo dục của các chuyên gia như: Nguyễn Đức Chính, Đo lường đánh giá trong giáo dục, tập bài giảng lưu hành nội bộ - khoa Sư phạm, Hà Nội 2008; Nguyễn Đức Chính – Đinh Thị Kim Thoa, Kiểm tra đánh giá theo mục tiêu, tập bài giảng lưu hành nội bộ - khoa Sư phạm, Hà Nội 2005; Trần Khánh Đức, Đo lường và đánh giá trong giáo dục, tập bài giảng lưu hành nội bộ - khoa Sư phạm, Hà Nội 2006; Trần Thị Tuyết Oanh, Đo lường và đánh giá kết quả học tập, Nxb Đại học sư phạm Hà Nội, 2007; Cấn Thị Thanh Hương (2010), Nghiên cứu QL kiểm tra - đánh giá kết quả học tập trong giáo dục đại học ở Việt Nam. Luận án tiến sỹ QLGD. Trên đây, tác giả đã nêu ra một số tài liệu nghiên cứu.
Đó là cơ sở lý luận quan trọng, để tác giả nghiên cứu đề xuất biện pháp KTĐG kết quả học tập học viên trình độ cao đẳng tại Học viện PKKQ góp phần nâng cao chất lượng GD-ĐT trong Quân đội. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Trong Quân đội Tại các nhà trường đại học quân sự, KTĐG kết quả học tập của học viên là một trong những khâu đặc biệt quan trọng, có quan hệ chặt chẽ với chỉ lượng dạy học và ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng đào tạo. Do vậy cần nắm vững hệ thông lý luận cơ bản của KTĐG như: khái niệm, chức năng nguyên tắc, tiêu chí và quy trình tiến hành.
trên cơ đó vận dụng sáng tạo, có hiệu quả trong thực tiễn, góp phần nâng cao chất lượng dạy học, giáo dục - đào tạo nhà trường đại học quân sự. Tài liệu nghiên cứu về KTĐG trong lĩnh vực giáo dục của Quân đội như: Tổng cục chính trị, Lý luận dạy học đại học quân sự, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội 2003; Tổng cục chính trị, Giáo trình phương pháp dạy học giáo dục quân sự, Nxb Quân đội, Hà Nội 2007;…Đó là một số nghiên cứu về GD-ĐT trong đại học quân sự. Tuy nhiên, đến nay tại Học viện PKKQ chưa có tác giả nào nghiên cứu về công tác quản lý hoạt động kiểm tra – đánh giá kết quả học tập của học viên trình độ cao đẳng. Do vậy, đề tài nghiên cứu của luận văn là cần thiết trong công tác GD-ĐT tại Học viện PKKQ trong giai đoạn hiện nay.
Một số khái niệm cơ bản trong luận văn 1. Quản lý Khoa học QL xuất hiện cùng với sự phát triển của xã hội loài người. Nó là phạm trù tồn tại khách quan, được ra đời một cách tất yếu do nhu cầu của mọi chế độ xã hội, mọi tổ chức, mọi quốc gia và mọi thời đại. Khi nói đến hoạt động QL và người QL, chúng ta cần tìm hiểu người QL phải làm gì? Khi đi tìm hiểu điều đó thì cũng chính là ta đi tìm hiểu các chức năng QL và người QL làm công việc này như thế nào để QL một nhà trường, một đơn vị cho tốt.
Đối với hoạt động QL có 4 chức năng chủ yếu, cơ bản: Kế hoạch hóa (planning), tổ chức (organizing), chỉ đạo-lãnh đạo (leading) và kiểm tra (controlling). QL là một khoa học sử dụng tri thức của nhiều môn khoa học xã hội, đồng thời QL còn là một nghệ thuật đòi hỏi sự khôn khéo và tinh tế cao độ để 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đạt được mục đích. Chính vì vậy, người ta có thể tiếp nhận khái niệm QL theo nhiều cách khác nhau.Mác, QL là chức năng được sinh ra từ tính chất xã hội hóa lao động. Nó có tầm quan trọng đặc biệt vì mọi sự phát triển của xã hội đều thông qua QL.
Người viết: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện như chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quản độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự điều khiển lấy mình, còn dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” [2, tr.Taylo (1856 – 1915) “Quản lý là biết được chính xác điều mình muốn người khác làm và sau đó biết được họ làm việc đó có tốt hay không, có rẻ nhất không” [2, tr. Và Henri Fayol (1841 – 1925) xuất phát từ các loại hình QL cho rằng: “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra” [2, tr. Các nhà nghiên cứu người Mỹ Harold Koontz, Cyril O’Donnell, Heinz Weihrich trong cuốn “Những vấn đề cốt yếu của quản lý” thì cho rằng “Quản lý là một loại hoạt động thiết yếu nhằm đảm bảo sự phối hợp, nỗ lực của các cá nhân hướng vào mục tiêu tổ chức – Đó là hình thành một môi trường có những điều kiện tốt nhất, thời gian ít nhất, công sức bỏ ra ít nhất, sự bất mãn cá nhân ít nhất để đạt hiệu quả cao nhất”[2, tr.
Ở Việt Nam, thuật ngữ “Quản lý” được các nhà nghiên cứu đưa ra những định nghĩa khác nhau tùy theo mỗi cách tiếp cận: Trong từ điển Tiếng Việt viết: “Quản lý là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo yêu cầu nhất định” [19, tr1308]. Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra” và “Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) – trong một tổ chức - nhằm làm cho tổ chức vận hành và 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đạt được mục đích của tổ chức”.[3, tr9] Từ những khái niệm nêu trên ta thấy đối tượng chủ yếu và trực tiếp của QL là những con người trong tổ chức; thông qua đó tác động lên các yếu tố vật chất (vốn, vật tư, công nghệ) để tạo ra kết quả cuối cùng của toàn bộ hành động. Vì vậy, khi xét về thực chất, QL trước hết và chủ yếu là QL con người (trong bất cứ hành động nào).