phần mở đầu và kết luận kiến nghị, tài liêu tham khảo, luận văn được trình bày trong 3 chương. Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý HSSV của GVCN lớp ở trường Cao đẳng và Đại học. Chƣơng 2: Thực trạng công tác quản lý HSSV của GVCN lớp ở Trường Cao đẳng Tài nguyên và Môi trường Hà Nội. Chƣơng 3: Những biện pháp quản lý HSSV của GVCN lớp ở Trường Cao đẳng Tài nguyên và Môi trường Hà Nội trong giai đoạn hiện nay.
11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HỌC SINH, SINH VIÊN CỦA GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM LỚP Ở TRƢỜNG CAO ĐẲNG VÀ ĐẠI HỌC 1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu Ngày nay, việc nghiên cứu xu thế giáo dục thế kỷ XXI ở Việt Nam đã chỉ rõ: sứ mệnh của giáo dục là phát triển toàn diện con người, đào tạo nguồn nhân lực có đủ trình độ đáp ứng những yêu cầu của thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và của thời đại trí tuệ, của nền kinh tế tri thức. Qua đó, giáo dục làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Vì vậy Đảng và Nhà nước ta coi giáo dục là “Quốc sách hàng đầu”, toàn xã hội đều có ý thức chăm lo cho sự nghiệp giáo dục, vì họ ngày càng hiểu rằng: Giáo dục ngày nay được coi là nền tảng cho sự phát triển khoa học, kỹ thuật, đem lại sự thịnh vượng cho nền kinh tế quốc dân.
Trong những năm qua, để đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực trình độ cao phù hợp với sự phát triển và cơ cấu kinh tế – xã hội của thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và hợp tác trong quá trình hội nhập quốc tế, giáo dục ĐH Việt Nam đã phát triển tương đối nhanh. Giáo dục ĐH Việt Nam vừa phải đáp ứng nhu cầu học ĐH ngày càng tăng của nhân dân, vừa phải đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực có chất lượng cao cho những ngành sản xuất then chốt, ưu tiên các lĩnh vực công nghệ như: công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, chế tạo máy. Vì vậy, trong những năm gần đây, số lượng HSSV tiếp tục tăng. Điều đó cũng đặt ra cho ngành giáo dục những thách thức trong công tác quản lý HSSV.
Để quản lý HSSV Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ra nhiều văn bản, quy chế để nâng cao hơn nữa công tác quản lý HSSV như: Chỉ thị số 38/1998/CT – BGD&ĐT, ngày 18/06/1998 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc kiện toàn, tổ chức bộ máy công tác chính trị tư tưởng trong các trường ĐH và 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CĐ; Quyết định số 1584/GD-ĐT, ngày 27/07/1993 của Bộ trưởng Bộ giáo dục đào tạo về việc ban hành quy chế công tác HSSV trong các trường đào tạo; Quyết định số 42/2000/QĐ-BGD&ĐT, ngày 21/10/2002 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc ban hành Quy chế đánh giá kết quả rèn luyện của HSSV các trường ĐH, CĐ và trung học chuyên nghiệp hệ chính qui; hay gần đây nhất là Quyết định số 42/2007/QĐ-BGD&ĐT, ngày 13 tháng 08 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ giáo dục và Đào tạo về việc ban hành Quy chế HSSV các trường ĐH CĐ và trung cấp chuyên nghiệp hệ chính quy. Những văn bản này đã phát huy được tác dụng tích cực, thật sự là công cụ đắc lực cho những cán bộ làm công tác quản lý HSSV. Trong công tác quản lý HSSV, vai trò của người GVCN ở trường CĐ và ĐH là rất quan trọng. Tuy nhiên vai trò này nhiều khi chưa thật sự được chú trọng và quan tâm đúng mức của nhiều nhà quản lý giáo dục, đã có thời điểm một số cơ sở giáo dục ĐH không sử dụng lực lượng GVCN lớp tham gia vào công tác quản lý HSSV, điều này đã gây lãng phí lớn nguồn lực sẵn có của mỗi nhà trường.
Thực tế không thể phủ nhận được sự cần thiết của đội ngũ này, bởi vì người GVCN lớp có thể nói là người tiếp xúc với HSSV một cách sâu xát nhất, họ vừa có kiến thức quản lý, đồng thời lại là một giáo viên, tiếng nói của họ đối với HSSV có trọng lượng hơn nhiều của một cán bộ quản lý HSSV bình thường. Tuy nhiên lại có rất ít tác giả quan tâm và đi sâu nghiên cứu, ngay về lý luận cũng chưa có nhiều tác giả nào đi sâu nghiên cứu một cách có hệ thống về việc quản lý HSSV của người GVCN lớp ở ĐH và CĐ, mà chủ yếu chỉ quan tâm tới công tác của GVCN lớp ở các trường trung học phổ thông, có thể kể đến như: - Tác giả Hà Nhật Thăng, công tác GVCN lớp ở trường phổ thông, Nhà xuất bản Giáo dục, 2006; - Các tác giả Nguyễn Dục Quang, Lê Thanh Sử, Nguyễn Thị Kỷ - Những tình huống giáo dục học sinh của người GVCN; 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Bônđưra, Lê Khánh Bằng dịch - GVCN tập I, II, Hà Nội 1974; Tại Trường CĐ Tài nguyên và Môi trường Hà Nội, nghiên cứu về các vấn đề liên quan đến HSSV mới chỉ có tác giả Trần Thị Dung đi sâu nghiên cứu vấn đề quản lý hoạt động tự học của HSSV; Một số một số nội dung của công tác quản lý HSSV đã triển khai dưới dạng các quyết định như: - Quyết định số 1104/QĐ - CĐTNMT, ngày 13/09/2007 của Hiệu trưởng Trường CĐ Tài nguyên và Môi trường Hà Nội về việc ban hành Quy định khen thưởng, kỷ luật HSSV; - Quyết định số 1102/QĐ - CĐTNMT, ngày 13/09/2007 của Hiệu trưởng Trường CĐ Tài nguyên và Môi trường Hà Nội về việc ban hành quy định đánh giá kết quả rèn luyện của HSSV, - Quyết định số 123/QĐ - CĐTNMT, ngày 16/02/2006 của Hiệu trưởng Trường CĐ Tài nguyên và Môi trường Hà Nội về việc ban hành sổ quản lý HSSV ngoại trú. - Quyết định số 61/QĐ - CĐTNMT, ngày 19/01/2006 của Hiệu trưởng Trường CĐ Tài nguyên và Môi trường Hà Nội về việc quy định chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của GVCN lớp. Nhìn chung, trong nhiều năm qua các đề tài nghiên cứu chuyên sâu về công tác GVCN lớp còn rất ít, nhất là công tác quản lý HSSV của GVCN lớp ở các trường ĐH, CĐ.
Ở Trường CĐ Tài nguyên và Môi trường Hà Nội chưa có tác giả nào nghiên cứu về vấn đề này; các văn bản ban hành dưới dạng các quyết định chưa đem lại hiệu quả cao, chồng chéo hoặc không phù hợp trong công tác quản lý HSSV hiện nay của nhà trường; các nhà quản lý và GVCN lớp ở trường chưa có nhiều tài liệu để tham khảo và vận dụng vào công tác quản lý HSSV. Do vậy còn có rất nhiều tồn tại trong quá trình thực hiện, nhiều nhà quản lý và giáo viên chưa ý thức được vai trò quan trọng của 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com GVCN lớp dẫn tới chất lượng quản lý HSSV của người GVCN lớp chưa cao, chưa hiệu quả. Vì vậy, chúng tôi nghiên cứu đề tài này với hy vọng để làm sáng tỏ cơ sở lý luận về quản lý HSSV của GVCN lớp ở trường ĐH và trường CĐ; đồng thời tìm chọn được những biện pháp quản lý HSSV có hiệu quả góp phần giải quyết những vướng mắc cho đội ngũ GVCN lớp ở Trường CĐ Tài nguyên và Môi trường Hà Nội và các trường có điều kiện tương tự. Cơ sở lý luận về quản lý học sinh, sinh viên của giáo viên chủ nhiệm lớp 1.
Một số khái niệm có liên quan đến đề tài 1. Khái niệm về quản lý Quản lý là một dạng lao động xã hội gắn liền và phát triển cùng với lịch sử phát triển của loài người. Quản lý là một dạng lao động đặc biệt, điều khiển các hoạt động lao động, nó có tính khoa học và nghệ thuật cao, nhưng đồng thời nó là sản phẩm có tính lịch sử, tính đặc thù của xã hội. Khi đề cập đến cơ sở khoa học của quản lý, Các Mác cho rằng: bất cứ lao động nào có tính xã hội, cộng đồng được thực hiện ở quy mô nhất định đều cần ở chừng mực nhất định sự quản lý, giống như người chơi vĩ cầm một mình thì tự điều khiển còn một dàn nhạc thì phải có nhạc trưởng.
Như vậy, có thể hiểu lao động xã hội và quản lý không tách rời nhau và quản lý là lao động điều khiển lao động chung. Khi lao động xã hội đạt đến một quy mô phát triển nhất định thì sự phân công lao động tất yếu sẽ dẫn đến việc tách quản lý thành một hoạt động đặc biệt. Từ đó trong xã hội hình thành một bộ phận trực tiếp sản xuất, một bộ phận khác chuyên hoạt động quản lý, hình thành nghề quản lý. Có nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học về nội dung, thuật ngữ "quản lý", có thể nêu một số định nghĩa như sau: - Theo lý luận của Chủ nghĩa Mác-Lê nin về quản lý: Quản lý xã hội một cách khoa học là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý đối với toàn 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com bộ hay những hệ thống khác nhau của hệ thống xã hội trên cơ sở nhận thức và vận dụng đúng đắn những quy luật khách quan vốn có của nó nhằm đảm bảo cho nó hoạt động và phát triển tối ưu theo mục đích đặt ra.
- Theo Wiliam - Taylor: Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái đó như thế nào bằng phương pháp tốt nhất, rẻ nhất. - Tác giả Nguyễn Văn Lê - ĐH Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng: Quản lý là một hệ thống xã hội mang tính khoa học và nghệ thuật tác động vào từng thành tố của hệ bằng phương pháp thích hợp nhằm đạt mục tiêu đã đề ra. - Tác giả Đặng Quốc Bảo cho rằng: Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động. Chính sự phân công, hợp tác lao động nhằm đến hiệu quả nhiều hơn, năng suất cao hơn trong việc đòi hỏi phải có sự chỉ huy phối hợp, điều hành, kiểm tra, chỉnh lý,.
phải có người đứng đầu. Đây là hoạt động để người thủ trưởng phối hợp nỗ lực các thành viên trong nhóm, trong cộng đồng, trong tổ chức đạt được mục tiêu đề ra. - Tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: Quản lý là sự tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) - trong tổ chức - nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức.