Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu. Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động giảng dạy Vật lí ở trung học phổ thông Nguyễn Viết Xuân - tỉnh Vĩnh Phúc. Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động giảng dạy Vật lí ở trung học phổ thông Nguyễn Viết Xuân - tỉnh Vĩnh Phúc. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề Quản lý giáo dục, quản lý nhà trường là những vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước hết sức quan tâm. Việc chú trọng tới các biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động dạy học trong nhà trường luôn giữ vị trí đặc biệt quan trọng. Những nghiên cứu của tác giả nước ngoài đã đề cập đến vấn đề cốt lõi của quản lý và quản lý giáo dục như: F.Druckev… Nhiều nhà sư phạm trong nước như: Hà Thế Ngữ (1991), Hồ Ngọc Đại, Đặng Vũ Hoạt (1988), Trần Kiều (1997), Thái Duy Tuyên (1998), Nguyễn Văn Lê (1996)… đã tiến hành nghiên cứu một cách toàn diện các vấn đề về vị trí, vai trò của việc tổ chức quá trình dạy học, ý nghĩa của việc nâng cao chất lượng dạy học; Những ưu điểm và nhược điểm của hình thức dạy học trên lớp, bản chất và mối quan hệ giữa hoạt động dạy và hoạt động học, vai trò của người dạy và người học; việc đổi mới nội dung cũng như cách thức tổ chức dạy học. Gần đây, đứng trước nhiệm vụ đổi mới giáo dục đào tạo nói chung và đổi mới nội dung, phương pháp dạy học nói riêng, nhiều nhà giáo dục học, tâm lý học như Phạm Viết Vượng (2000), Đặng Thành Hưng (2002), Nguyễn Văn Đản… đã đi sâu nghiên cứu các vấn đề về đổi mới nội dung, phương pháp dạy học theo hướng nâng cao tính hiện đại và gắn khoa học với đời sống thực tiễn sản xuất, vấn đề lấy học sinh làm trung tâm; Những nghiên cứu công phu của các tác giả như Nguyễn Đức Chính, Đặng Quốc Bảo (2004).
Nguyễn Thị Mỹ Lộc (2003), Nguyễn Công Bằng, Cao Duy Bình… đều tập trung nghiên cứu các biện pháp quản lý hoạt động của giáo viên và học sinh nhằm nâng cao chất lượng giáo dục. 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Giáo dục có chức năng quan trọng là tài sản xuất sức lao động kỹ thuật cho nền kinh tế, phục vụ cho sự phát triển của xã hội. Vì vậy, hoạt động giáo dục luôn luôn phát triển, tiến bộ và không ngừng đổi mới để góp phần vào sự phát triển, tiến bộ của xã hội. Trong xu thế toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế thế giới, nguồn nhân lực có chuyên môn cao, tay nghề vững vàng, Trong đó kiến thức bộ môn Vật lí đóng vai trò nền tảng quan trọng trong khối các ngành khoa học kỹ thuật.
Để đáp ứng được yêu cầu này của xã hội, giáo dục lại càng có vai trò quan trọng và cấp thiết trong việc giáo dục toàn diện. Trong hướng nghiên cứu về quản lý hoạt động dạy học trong nhà trường hiện nay một số đề tài đã được nghiên cứu như: Một số biện pháp quản lý hoạt động của hiệu trưởng nhằm nâng cao chất lượng giáo dục ở trường THCS huyện Đông Sơn - Thanh Hoá - Lê Thị Hải - ĐHSP HN, 2003; Một số biện pháp quản lý của chủ nhiệm bộ môn đối với hoạt động dạy học ngoại ngữ ở trường Đại học sư phạm thuộc Đại học Thái Nguyên - Hoàng Công Đình, ĐHSPHN, 2004: Biện pháp quản lý của Hiệu trưởng trong việc bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm cho giáo viên Vật lý tại trường THPT của tỉnh Bắc Giang Nguyễn Văn Thanh ĐHGD – ĐHQG 2006 - Một số biện pháp quản lí hoạt động dạy học ở các trường THCS huyện Tam Đảo tỉnh Vĩnh Phúc trong giai đoạn hiện nay - Bùi Minh Sơn, ĐHGD - ĐHQG, 2008 - Biện pháp quản lí dạy học các môn khoa học tự nhiên tại các trường THPT thành phố Vĩnh Yên tỉnh Vĩnh Phúc - Trần Thị Thanh Mai, ĐHGD - ĐHQG, 2008 1. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến vấn đề nghiên cứu 1. Quản lý Quản lý là một hoạt động quan trọng nhất trong các hoạt động của con người.
Quản lý đúng tức là con người đã nhận thức được quy luật, vận động theo quy luật và sẽ đạt được những thành công to lớn. Nghiên cứu về quản lý sẽ giúp cho con người có được những kiến thức cơ bản nhất, chung nhất đối với hoạt động quản lý 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.W Taylor cho rằng: Quản lý là biết chính xác điều muốn người khác làm và sau đó thấy họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất. Koontz thì khẳng định: Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực hoạt động cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm (tổ chức ).Mác: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo. Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng ”.
[19;12] Quản lý chính là các hoạt động do một hoặc nhiều người điều phối hành động của những người khác nhằm thu được kết quả mong muốn. Từ những định nghĩa trên, có thể hiểu một cách khái quát về quản lý như sau: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra”. [19;12] Khi xem xét khái niệm quản lý cần chú ý các điểm sau: - Quản lý là những tác động có mục đích lên những tập thể, nhóm xã hội, tổ chức. - Quản lý là công tác phối hợp có hiệu quả hoạt động của những nguời cộng sự khác nhau cùng chung một tổ chức.
- Quản lý là các hoạt động được thực hiện nhằm đảm bảo hoàn thành công việc qua những nỗ lực của người khác. Quản lý bao gồm nhiều yếu tố như chủ thể quản lý (tức trả lời câu hỏi “Ai quản lý?”), chủ thể quản lý có thể là một hoặc nhiều người. Còn “Quản lý ai?” hay “Quản lý cái gì?” đó chính là khách thể quản lý (hay còn gọi là đối tượng quản lý). Chủ thể quản lý và khách thể (đối tượng) quản lý luôn có mối quan hệ tác động qua lại với nhau.
Đây là quan hệ ra lệnh – phục tùng, không đồng cấp và có tính bắt buộc. Bên cạnh đó phải có một mục tiêu và một quỹ 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đạo đã định ra cho chủ thể và khách thể quản lý. Chính mục tiêu này là những căn cứ để chủ thể tạo ra các tác động. Như vậy, bản chất của quản lý là sự tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm đạt được những mục tiêu cơ bản của quản lý.
Quản lý có 4 chức năng cơ bản sau: Sơ đồ 1.1: Mối quan hệ của các chức năng quản lý Kế hoạch Tổ chức Quản lý Chỉ đạo Kiểm tra - Chức năng kế hoạch hoá: là soạn thảo thông qua được những quy định về chủ chương quản lý quan trọng trên cơ sở những yêu cầu cơ bản kết hợp với thực tiễn để đưa ra những phương hướng kế hoạch cho phù hợp và có tính khả thi cao. - Chức năng tổ chức: Thực hiện các quyết định, chủ trương bằng cách xây dựng cấu trúc tổ chức của đối tượng quản lý, tạo dựng mạng lưới quan hệ tổ chức, tuyển chọn, sắp xếp, bồi dưỡng cán bộ, làm cho mục tiêu trở nên có ý nghĩa, tăng tính hiệu quả về mặt tổ chức. - Chức năng chỉ đạo: Chỉ dẫn, vận động, điều chỉnh và phối hợp với các lực lượng tích cực, chủ động theo sự phân công như kế hoạch đã định. - Chức năng kiểm tra, đánh giá: Là chức năng liên quan đến mọi cấp quản lý để đánh giá kết quả hoạt động của hệ thống.
Nó thực hiện việc xem xét tình hình thực hiện công việc đối chiếu với yêu cầu để có đánh giá đúng đắn. Tóm lại: Các chức năng quản lý tạo thành một hệ thống thống nhất với một trình tự nhất định, trong đó từng chức năng vừa có tính độc lập tương đối, 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com vừa có mối quan hệ phụ thuộc với chức năng khác. Quá trình ra quyết định quản lý là quá trình thực hiện các chức năng quản lý theo một trình tự nhất định. Việc bỏ qua hoặc coi nhẹ bất cứ một chức năng nào trong số các chức năng đều ảnh hưởng xấu tới kết quả quản lý.
Các chức năng tạo thành một chu trình quản lý của một hệ thống. Quản lý giáo dục Quản lý giáo dục là quản lý một lĩnh vực xã hội. Lĩnh vực này ngày càng thâm nhập vào mọi mặt của đời sống. Giáo dục đồng nghĩa với sự phát triển.
Nó là cái hiện hữu vô hình trong mọi sản phẩm vật chất và tinh thần. Quản lý giáo dục là điển hình nhất về quản lý con người, quản lý sự hình thành và phát triển nhân cách. Sự hình thành và phát triển nhân cách là cái gốc để có dân trí, nhân lực và nhân tài. Về khái niệm quản lý giáo dục có nhiều cách hiểu khác nhau: - Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát là “hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội”.
Ngày nay, với sứ mệnh phát triển giáo dục thường xuyên, công tác giáo dục không chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ mà cho mọi người; tuy nhiên trọng tâm vẫn là giáo dục thế hệ trẻ cho nên quản lý giáo dục được hiểu là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân, các trường trong hệ thống giáo dục quốc dân. - Quản lý giáo dục là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác giáo dục theo yêu cầu phát triển xã hội. [9;86] - Theo tác giả Trần Kiểm: “QLGD là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau nhằm mục đích đảm bảo sự hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật chung của xã hội cũng như các quy luật của quản lý giáo dục, sự phát triển tâm lý và thể lực của trẻ em.