Đặt vấn đề về QL, Ông đề cao nhân trị, Nhân trị là Đức trị. Ở phương Tây cổ đại cũng có nhiều nhà triết học quan tâm đến vấn đề QL. Tiêu biểu trong số đó có Socrate (thế kỷ IV-III tr.CN), Platon (427-347 tr. Các ông cho rằng tiêu chuẩn của người đứng đầu phải là người ham hiểu biết, trung thực, tự chủ, điều độ, ít tham vọng về vật chất và phải được đào tạo kỹ lưỡng.
Thời kỳ cận đại chứng kiến sự bùng nổ của các nhà nghiên cứu khoa học QL và làm cho nó ngày càng hoàn thiện mà tiêu biểu có Chales H. Được mệnh danh “Ông tổ của nền sư phạm cận đại ”, J. Cômenski, người đã đặt nền móng cho lý luận dạy học tiến tiến, đã trở thành nhà thiên tài lỗi lạc về giáo dục của mọi thời đại. Ở Việt Nam, các tư tưởng về QL cũng đã xuất hiện từ lâu và được các nhà QL nghiên cứu xây dựng theo hướng ngày càng hoàn thiện.
Thời tiền Lê 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tư tưởng QL hướng vào pháp trị; thời nhà Lý hướng vào đức trị; thời hậu Lê hướng vào cả đức trị và pháp trị. Giáo sư Vũ Khiêu đã nhận xét về đường lối pháp trị của triều đại Lê Thánh Tông: “.có thể nói đó là thời kỳ kết hợp hài hòa giữa đức trị và pháp trị ở đỉnh cao của văn hóa dân tộc”. Nói đến giáo dục Việt Nam không thể không nói đến Chủ tịch Hồ Chí Minh (1890-1969), một trong những danh nhân văn hóa kiệt xuất của nhân loại. Người đã để lại cho chúng ta một kho báu về những lý luận về vai trò của GD, định hướng phát triển GD, vai trò của QL và QLGD.làm nền tảng cho nền lý luận GD Cách mạng Việt Nam.
Nền GD hiện đại Việt Nam còn chứng kiến sự xuất hiện của nhiều nhà GD với những công trình nghiên cứu, giáo trình, xã luận về tổ chức QL quá trình giáo dục như Phạm Minh Hạc, Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt, Đặng Bá Lãm, Nguyễn Gia Quý, Trần Kiểm, Bùi Minh Hiền.đã thể hiện được bản chất của hoạt động QL, QLGD, những định hướng phát triển giáo dục Việt Nam đương đại. D-H là một trong những hoạt động trọng tâm của nhà trường. Do tính chất quyết định của nó đối với sự thành bại của nhà trường nên việc QL hoạt động D-H đóng vai trò rất quan trọng trong công tác QL nhà trường. Đối với môn ngoại ngữ, các trường phổ thông của Việt Nam tập trung vào tiếng Anh, tiếng Nga, tiếng Trung và tiếng Pháp, trong đó tiếng Anh chiếm hơn 90% số lượng học sinh theo học.
Đây là một trong ba môn thi tốt nghiệp THPT bắt buộc. Điều đó chứng tỏ Nhà nước rất quan tâm, chú trọng đến dạy học ngoại ngữ. Vấn đề kinh nghiệm D-H ngoại ngữ ở một số nước trên thế giới và trong khu vực trong đó có công tác QL đã được đề cập đến trong “Đề án D-H ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2008-2020”. Ngoài ra, có thể kể đến một công trình tiêu biểu như: “Teaching English” Cambridge University Press, 1995, của Adrian Doff; Gần đây có một số đề tài nghiên cứu công tác QL hoạt động D-H tiếng Anh nhằm góp phần nâng cao chất lượng D-H của bộ môn này trong nhà trường, có thể đề cập đến các công trình nghiên cứu của các tác giả Nguyễn Trọng Hậu, “Đại cương khoa học 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quản lý giáo dục”, bài giảng cho cao học QLGD, Hà Nội, 2009; Nguyễn Quốc Chí - Nguyễn Thị Mỹ Lộc “Đại cương khoa học quản lý”, 2010; Trần Khánh Đức, “Quản lý và kiểm định chất lượng đào tạo nhân lực theo ISO & TQM” , 2004; Đặng Quốc bảo, “Những vấn đề về lãnh đạo – quản lý và sự vận dụng vào điều hành nhà trường”, bài giảng cho học viên cao học QLGD, 2010.
Nhiều đề tài luận văn thạc sỹ QLGD đã nghiên cứu về các biện pháp QL hoạt động D-H trong trường THPT. Liên quan trực tiếp đến đề tài chúng tôi đang nghiên cứu có một số công trình sau đây: Tuyển tập các bài báo khoa học Những vấn đề cơ bản về dạy học ngoại ngữ, 1995-2005 (Nguyễn Thị Thu Phương). Biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Anh ở trường THPT Thủy Sơn- thành phố Hải Phòng, luân văn thạc sỹ QLGD, 2011 (Phạm Hồng Mai). Các công trình nghiên cứu trên đây đều đã đạt được những thành tựu nhất định về lý luận cũng như thực tiễn.
Tuy nhiên việc áp dụng kết quả nghiên cứu sẽ còn phụ thuộc phần lớn vào điều kiện thực tế của các nhà trường. Cho đến nay việc nghiên cứu các biện pháp QL hoạt động D- H môn Tiếng Anh ở trường THPT Dương Quảng Hàm, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên chưa có ai thực hiện. Khi tác giả lựa chọn và tiến hành nghiên cứu đề tài này sẽ kế thừa những kết quả các công trình nghiên cứu đã đề cập tới và tiếp tục đề xuất một số giải pháp khả thi mới để QL hoạt động D-H Tiếng Anh tại trường THPT Dương Quảng Hàm.Khái niệm cơ bản 1.Quản lý Quản lý (management) là một dạng lao động đặc thù của xã hội. Hoạt động QL xuất hiện cùng với sự xuất hiện của nhà nước, tồn tại và phát triển theo sự phát triển chung của xã hội.
Tùy vào những cách tiếp cận khác nhau mà có nhiều quan niệm khác nhau về QL. Quan điểm về của các học giả trên thế giới về QL như sau: 20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Theo quan niệm truyền thống, QL là quá trình tác động có ý thức của chủ thể vào một bộ máy (đối tượng QL) bằng cách vạch ra mục tiêu cho bộ máy, tìm kiếm các biện pháp tác động để bộ máy đạt tới mục tiêu xác định. - Theo tiếp cận hệ thống, QL là sự tác động của chủ thể QL đến khách thể QL nhằm tổ chức phối hợp hoạt động của con người trong các quá trình sản xuất xã hội để đạt được mục đích nhất định. - Giáo sư Đặng Vũ Hoạt và giáo sư Hà Thế Ngữ cho rằng: “Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý một hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định”.
- Tuy có nhiều quan điểm khác nhau nhưng bản chất của khái niệm “quản lý” mà các tác giả nêu trên lột tả mang một số đặc điểm chung sau: - Hoạt động QL bao gồm nhiều thành tố, song các thành tố cơ bản gồm có: Chủ thể QL, đối tượng QL, mục tiêu QL. Ba thành phần này gắn bó chặt chẽ tạo nên hoạt động của bộ máy. Có thể biểu đạt các thành tố QL bằng sơ đồ sau: Chủ thể quản lý Mục tiêu quản lý Đối tượng quản lý Sơ đồ 1. Các thành tố quản lý Từ những khái niệm trên, có thể khái quát rút ra một khái niệm chung về QL như sau: Quản lý là sự tác động có mục đích, có biện pháp và có sáng tạo của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm không chỉ tạo ra những sản phẩm mang giá trị sử dụng tối ưu mà còn cải tạo mối quan hệ giữa chủ thể quản lý với khách thể quản lý.
Quản lý giáo dục 21 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khoa học quản lý là một khoa học liên ngành sử dụng tri thức của nhiều lĩnh vực: Tâm lý học, Xã hội học, Triết học v. Khoa học quản lý giáo dục là một chuyên ngành của khoa học quản lý nói chung đồng thời cũng là bộ phận của khoa học giáo dục, nhưng là một khoa học tương đối độc lập.Kônđacốp, một chuyên gia GD khác của Liên xô cũ cho rằng: QLGD là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể QL ở các cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ bộ đến trường) nhằm mục đích đảm bảo việc hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy tắc chung của xã hội cũng như những quy luật của quá trình GD, của sự phát triển tâm thế và tâm lý trẻ em. Ở Việt Nam, QLGD cũng là một lĩnh vực được Đảng và nhà nước đặc biệt quan tâm. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành Trung ương Đảng khó VIII khẳng định: “Quản lý giáo dục là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt tới kết quả mong muốn bằng cách hiệu quả nhất” [23, tr.50] Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang, khái niệm quản lý giáo dục là khái niệm đa cấp (bao hàm cả quản lý hệ giáo dục quốc gia, quản lý các phân hệ của nó, đặc biệt là quản lý trường học): “Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình giáo dục thế hệ trẻ, đưa giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất”[21, tr.
Tác giả Phạm Minh Hạc cũng khẳng định:“Quản lý giáo dục là tổ chức các hoạt động D-H. Có tổ chức được các hoạt động D-H, thực hiện được các tính chất của nhà trường phổ thông Việt Nam xã hội chủ nghĩa, mới quản lý được giáo 22 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com dục, tức là cụ thể hoa đường lối giáo dục của Đảng và biến đường lối đó thành hiện thực, đáp ứng nhu cầu của nhân dân, của đất nước” [12, tr. Nhà trường là đối tượng cuối cùng và cơ bản nhất của QLGD, trong đó đội ngũ GV và HS là đối tượng QL quan trọng nhất. Qua các định nghĩa trên chúng ta có thể rút ra những kết luận: QLGD là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể QL đến tập thể GV và HS, đến những lực lượng GD trong và ngoài nhà trường làm cho quá trình này hoạt động để đạt những mục tiêu dự định, nhằm điều hành phối hợp các lực lượng xã hội thúc đẩy mạnh mẽ công tác giáo dục thế hệ trẻ, theo yêu cầu phát triển xã hội.
Quản lý nhà trường Vấn đề cơ bản của QLGD là QL nhà trường vì nhà trường là cơ sở GD, nơi tổ chức thực hiện mục tiêu GD.