Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ DẠY HỌC THEO QUAN ĐIỂM DẠY HỌC PHÂN HÓA Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Sơ lược về lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu trên thế giới Ở Phương Đông, Khổng Tử (551 - 479 TCN) đã đề cao phương pháp dạy học (PPDH) phân hoá. Trong giảng dạy, ông chia nội dung DH làm hai phần: một phần tâm truyền và một phần công truyền.
Phần công truyền nói về Luân thường, Đạo lý để dạy cho mọi người, phần tâm truyền nói về sự cao xa khó hiểu hơn để dạy riêng cho những người có tư chất đặc biệt. Ông nhấn mạnh, mỗi người phải tự mình học tập để lĩnh hội lấy kiến thức chứ không phải qua giảng giải nhiều lời của thầy giáo. Ông đòi hỏi sự nỗ lực cao của từng cá nhân và yêu cầu thầy giáo phải tuỳ vào đặc điểm của từng người mà tìm ra cách dạy cho thích hợp. Từ xa xưa ông cha ta cũng đã vận dụng cách thức DH dựa trên đặc điểm và trình độ cá nhân của mỗi người học.
Trong thời phong kiến xuất hiện kiểu DH thầy đồ (một thầy cùng một lúc dạy nhiều trò với nhiều lứa tuổi và trình độ khác nhau). Kiểu dạy này bắt buộc thầy phải quan tâm đến từng người để có cách dạy phù hợp với đặc điểm lứa tuổi, trình độ nhận thức và nhu cầu của họ. Ở Phương Tây, xuất hiện nhiều nhà giáo dục có tư tưởng tiến bộ đã chú ý đến DH hướng vào người học, khai thác tiềm năng của mỗi cá nhân HS. Từ những năm 30 - 40 của thế kỷ trước, DH phát huy tính tích cực của HS đã được các nhà giáo dục Nga quan tâm và đặt lên hàng đầu về công cuộc đổi mới PPDH.Cômenxki cho rằng DH phải phát huy tính tích cực, tính chủ động của HS, dẫn dắt các em suy nghĩ tìm tòi để tự mình nắm được bản chất vấn đề học tập.
Ông cho rằng, nếu không phát huy được tính tích cực, chủ động tồn tại trong mỗi HS thì DH sẽ không có ý nghĩa gì cả [14].Rutxô quan tâm đến sự phát triển tự nhiên của mỗi con người, phải lôi cuốn HS vào mỗi quá trình học tập làm cho họ tích cực, tự lực tìm tòi, khám phá giành lấy tri thức. Thế kỷ XX, J.Dewey (1916) cho rằng giáo dục và DH là sự chỉ dẫn phát triển tiềm năng, năng lực vốn có của HS. Do vậy, quá trình DH phải hướng vào người học, đảm bảo cho họ học bằng sự phân tích kinh nghiệm của mình. Việc học tập là quá trình xử lý kinh nghiệm mà người học tự tiến hành với sự giúp đỡ của nhà giáo dục theo nhu cầu và lợi ích cá nhân.
Như vậy, DH phải chú ý đến cái riêng của mỗi người, đặc biệt là nhu cầu, hứng thú. DH dựa trên kinh nghiệm cá nhân và hiệu quả học tập do từng người quyết định.Claparide cho rằng quá trình DH phải hướng vào việc kích thích sự ham muốn học tập, phải đặt người học vào trong tình huống, phải khơi dậy những phản ứng thích hợp của người học nhằm thoả mãn nhu cầu, sở thích đó. Dựa vào khả năng riêng biệt của từng cá nhân để điều khiển và hướng dẫn họ đạt được mục tiêu DH đã đặt ra.Babanxki cho rằng quá trình DH bao gồm ba công việc cơ bản: tổ chức thực hiện các HĐ học tập; kích thích HĐ nhận thức; kiểm tra đánh giá. Theo ông, muốn kích thích HĐ nhận thức của HS thì phải phát huy tính tích cực, tính tự giác của họ.
Ở Pháp, người ta đã coi trọng việc rèn luyện cho HS phương pháp tự tìm kiếm tri thức ngay từ bậc học Tiểu học. Trong một văn bản của Bộ Giáo dục Pháp (1991) đã nêu rõ cần đưa trẻ vào học ở các trung tâm giáo dục có sự thích ứng tế nhị với mọi trường hợp. Khi tính đến sự không đồng nhất của từng HS thì HĐ của GV phải tập trung vào chính đứa trẻ đang học, không kém gì chú ý đến nội dung mà nó đang phải học. Các nghiên cứu trong nước Ở Việt Nam, vấn đề nghiên cứu tổ chức DHPH chưa nhiều, một số tác giả như Nguyễn Bá Kim, Nguyễn Hữu Châu, Hà Sĩ Hồ, Đặng Thành Hưng.
5 đã có những nghiên cứu về DHPH giúp HS tự tìm tòi, ̣ khám phá tri thức bằng khả năng của mình sẽ đem lại niềm vui hứng thú học tập cho các em. Các khái niệm công cụ của đề tài 1. Khái niệm QL là một hiện tượng xã hội, là yếu tố cấu thành sự tồn tại và phát của loài người. Loài người đã trải qua nhiều thời kỳ phát triển với nhiều hình thái xã hội khác nhau nên cũng trải qua nhiều hình thức QL khác nhau.
Các triết gia, các nhà chính trị từ thời cổ đại đến nay đều rất coi trọng vai trò của QL trong sự ổn định và phát triển của xã hội. QL là một phạm trù khách quan là một tất yếu lịch sử. Nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra khái niệm về QL dưới góc độ khác nhau.Mác: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những HĐ cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ vận động của toàn bộ cơ thể khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có một nhạc trường”[3].
Taylor được coi là cha đẻ của thuyết QL khoa học đã cho rằng cốt lõi trong QL là: “Mỗi loại công việc dù nhỏ nhất đều phải chuyên môn hóa và phải QL chặt chẽ”, “QL là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và cái đó thế nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ nhất” [8]. Theo các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: HĐ QL là: “Tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể QL (người QL) đến khách thể QL (người bị QL)- trong một tổ chức- nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [4]. Từ các quan niệm trên, ta thấy bản chất chung của khái niệm QL là một quá trình tác động có ý thức, có định hướng và có tổ chức của chủ thể QL đến khách thể QL nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra một cách hiệu quả nhất trong 6 điều kiện biến động của môi trường. QL tồn tại trong mọi quá trình HĐ của xã hội và là điều kiện quan trọng để tổ chức XH vận hành và phát triển trong khái niệm QL, ta cần chú ý các yếu tố sau: Chủ thể QL: là một cá nhân, một nhóm người hay một tổ chức tạo ra những tác động QL.
Nó trả lời câu hỏi: Ai QL Khách thể QL: là những đối tượng tiếp nhận các tác động QL. + Khách thể QL có thể người, trả lời câu hỏi: QL ai? + Khách thể QL có thể là vật, trả lời câu hỏi: QL cái gì? + Khách thể thể QL là việc, trả lời câu hỏi: QL việc gì? Mục tiêu QL: là căn cứ để chủ thể tạo ra những tác động QL lên đối tượng QL. Quá trình QL mang tính tổng hợp, không tuân theo những quy định cứng nhắc mà phải mềm dẻo linh hoạt. Chức năng của quản lý Chức năng của QL là những nội dung và phương pháp HĐ cơ bản mà nhờ đó chủ thể QL tác động lên đối tượng QL trong quá trình QL, nhằm thực hiện mục tiêu QL.
Chức năng kế hoạch hoá Công tác kế hoạch là công tác trù liệu cho tương lai của tổ chức, tức hoạch định những vấn đề và cách thức giải quyết các vấn đề đó nhằm làm cho tổ chức có thể đối phó, thích nghi với những sự thay đổi có thể đoán trước cũng như những thay đổi không chắc chắn trong tương lai. Mức độ xa hay gần của tương lai sẽ tuỳ thuộc vào tầm thời gian của công tác kế hoạch, công tác hoạch định. Càng xa, mức độ dự báo càng khó chính xác, do vậy nhà QL cần phải thận trọng, khi thực hiện chức năng lập kế hoạch. Chức năng tổ chức Công tác tổ chức là giai đoạn kế tiếp theo của công tác kế hoạch và là bộ phận không thể thiếu của chức năng QL.
7 Chức năng tổ chức là quá trình xác định các công việc cần phải thực hiện, những người thực hiện các công việc đó, định rõ trách nhiệm, nhiệm vụ quyền hạn của mỗi bộ phận, mỗi cá nhân cũng như mối liên hệ giữa các bộ phận các cá nhân, các tổ chức, nhất là nguồn nhân lực, giúp cho các thành viên trong tổ chức phát huy tốt nhất năng lực sở trường, tích lũy kinh nghiệm, nâng cao trình độ. Chức năng kiểm tra Chức năng kiểm tra là phương thức HĐ của nhà QL tác động lên đối tượng chịu sự QL nhằm thu thập thông tin, đánh giá và xử lí các kết quả vận hành của tổ chức. Kiểm tra là quá trình xác định kết quả đã đạt được trên thực tế, so sánh đối chiếu với mục tiêu đã đề ra, thu thập các thông tin phản hồi nhằm phát hiện các sai lệch và đề ra chương trình hành động nhằm khắc phục những sai lệch đó, thực hiện mục tiêu, kế hoạch đã đề ra. Bốn chức năng trên tạo thành hệ thống QL thống nhất với một trình tự nhất định.
Ngoài bốn chức năng trên trong hệ thống QL, yếu tố thông tin có mặt ở tất cả các giai đoạn với vai trò là điều kiện, phương tiện không thể thiếu với việc thực hiện các chức năng QL. Nếu thông tin bị sai lệch thì công tác QL sẽ gặp khó khăn dẫn đến nhà QL có những quyết định sai. Biện pháp quản lý Biện pháp có nghĩa là cách làm, cách thức tiến hành, giải quyết một vấn đề, một công việc cụ thể nào đó. Biện pháp QL là tổng thể cách thức tác động của chủ thể QL lên đối tượng QL trong quá trình tiến hành các HĐ nhằm đạt được mục tiêu đề ra.
Biện pháp QL là yếu tố động, thường được thay đổi theo đối tượng và tình huống. Căn cứ vào tác động của chủ thể QL lên đối tượng QL, có thể chia thành những nhóm biện pháp cơ bản sau: a. Biện pháp thuyết phục Biện pháp thuyết phục là cách tác động và nhận thức của con người bằng lí lẽ cho con người có nhận thức đúng đắn và tự nguyện thừa nhận những yêu cầu của QL và từ đó có thái độ và hành vi phù hợp với các yêu cầu đó.