Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC DẠY HỌC MÔN KHOA HỌC LỚP 4 NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH 1. Tổng quan một số nghiên cứu về tự học 1. Một số nghiên cứu trên thế giới Nghiên cứu về tự học không phải là vấn đề mới mẻ trong lịch sử giáo dục. Trên thế giới đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về tự học trên nhiều phương diện, với nhiều khía cạnh và mức độ khác nhau, nhưng tựu trung đều nhấn mạnh vai trò to lớn của tự học, tự nghiên cứu trong hoạt động học tập của người học.
Khổng Tử (551- 479 TCN) quan tâm và coi trọng mặt tích cực suy nghĩ, sáng tạo của HS. Cách dạy của ông là gợi mở để học trò tự tìm ra chân lý, thầy chỉ là người giúp trò cái mấu chốt nhất, còn mọi vấn đề khác trò phải từ đó mà tìm ra, người thầy không được làm thay học trò. Ông nói: “Không giận vì muốn biết thì không gợi mở cho, không bực vì không rõ được thì không bày vẽ cho. Vật có 4 góc, bảo cho biết một góc mà không suy ra 3 góc kia thì không dạy nữa” [13].
Theo nghiên cứu của Vistorrino (1378-1446) - người Italia, để phát huy vai trò của cá nhân trong học tập, ông đã dạy cho HS lý trí, sự phán đoán, tinh thần sáng tạo: “Tôi muốn dạy cho thanh niên suy nghĩ, chứ không nói bậy”. Điều này cũng được John Locke (1632) - người Anh đề cao, ông yêu cầu người thầy giáo phải gợi ý, gây nên sự tò mò đối với HS: “Tò mò là cái lợi khí lớn nhất của tự nhiên dùng để sửa cái dốt nát của chúng ta” [5].Comenxki (1592-1670), ông tổ của nền giáo dục cận đại, người đặt nền móng cho sự ra đời của nhà trường hiện nay, cho rằng: “Không có khát vọng học tập thì không trở thành tài”. Trong tác phẩm: “Phép giảng dạy vĩ đại”, đã nêu ra nguyên tắc, phương pháp giảng dạy nhằm phát huy tính tích cực 5 của HS, ông cương quyết phản đối lối dạy học áp đặt, giáo điều [4]. Tư tưởng này cho thấy, trong dạy học cần phải tạo động cơ để người học có động lực vượt qua những khó khăn, trở ngại trong quá trình chiếm lĩnh tri thức ở người học.
Tư tưởng này cho thấy, để có biện pháp dạy học phù hợp thì trong dạy học cần phải biết người học đang ở trình độ nào. Theo nghiên cứu của nhà sư phạm lỗi lạc người Nhật T. Học tập chính là quá trình tích tiểu thành đại, sự tò mò giúp cho người học tự khám phá, phát hiện ra nhiều khía cạnh khác nhau của một vấn đề, nhờ đó mà mở rộng, đào sâu được kiến thức. Cuối thế kỷ XX ảnh hưởng của sự phát triển khoa học kỹ thuật, đặc biệt là ảnh hưởng của cuộc cách mạng công nghệ, phần lớn các nhà giáo dục học đã nghiên cứu tự học theo hai hướng chính: Hướng thứ nhất nghiên cứu áp dụng công nghệ dạy học, nhằm thay đổi vị trí của thầy và trò trong quá trình dạy học, thầy từ chuyên gia về việc dạy chuyển sang chuyên gia về việc học của người học.
Hướng thứ hai là dạy học phân hóa, dạy học tiến hành theo nhịp độ cá nhân người học để đạt tới năng suất và hiệu quả cao nhất trong việc học, dạy học cần phải được tổ chức hướng vào người học. Như vậy, đã có nhiều quan điểm, tư tưởng lớn đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau của tự học. Những tư tưởng này đề cao vai trò của người học trong quá trình chiếm lĩnh tri thức. Mặc dù những tư tưởng tiến bộ này đã có từ xa xưa, 6 song nó chưa trở thành trào lưu chung trong nhà trường.
Đến nay, những tư tưởng này cần được phát triển mạnh mẽ trong nền giáo dục hiện đại. Một số nghiên cứu ở Việt Nam Ở Việt Nam vấn đề tự học đã được quan tâm nghiên cứu từ lâu. Tuy nền giáo dục chưa phát triển, nhưng thời nào cũng có những nhân tài kiệt xuất. Những người đó, bên cạnh yếu tố được ông đồ tài giỏi dạy dỗ, thì yếu tố quyết định là do tự học là chính.
Chính vì vậy mà người ta coi trọng việc tự học và nêu cao những tấm gương tự học thành tài [11]. Theo từ điển tiếng Việt, “tự” là “từ dùng để chỉ bản thân chủ thể, nhằm biểu thị việc nói đến là do chính chủ thể làm hoặc gây ra, chỉ bằng sức lực, khả năng của riêng mình”; “học” là thu nhận kiến thức, luyện tập kĩ năng [12]. Như vậy, có thể hiểu tự học là quá trình chủ thể tự thu nhận kiến thức, luyện tập kĩ năng bằng chính sức lực và khả năng của bản thân mình. Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tấm gương sáng về tự học.
Người cho rằng: "Tự học là học một cách tự động” và "Phải biết tự động học tập”. Theo Người: "Tự động học tập"tức là tự học một cách hoàn toàn tự giác, tự chủ, không đợi ai nhắc nhở, không cần ai giao nhiệm vụ, mà tự mình chủ động vạch kế hoạch học tập, rồi tự triển khai, thực hiện kế hoạch đó một cách tự giác, tự mình làm chủ thời gian học và việc kiểm tra đánh giá quá trình học của mình [10]. Theo Nguyễn Kỳ: "Tự học là tự đặt mình vào tình huống học, vào vị trí của người tự nghiên cứu, xử lý các tình huống, giải quyết các vấn đề đặt ra như nhận biết vấn đề, xử lý thông tin, tái hiện kiến thức, xây dựng các giải pháp giải quyết vấn đề xử lý tình huống" [8]. Theo Nguyễn Cảnh Toàn, tự học là quá trình bản thân cá nhân tự động não, suy nghĩ, sử dụng các kĩ năng như: quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp,… thậm chí có khi cả cơ bắp cùng các động cơ, phẩm chất, nhân sinh quan, thế giới quan để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó thành sở hữu của chính mình [14].
Hoạt động học, “cốt lõi là tự học, là quá trình phát triển nội tại, trong đó chủ thể 7 tự thể hiện và biến đổi mình, tự làm phong phú giá trị của mình bằng cách thu nhận, xử lí và biến đổi thông tin bên ngoài thành tri thức bên trong con người mình” [14]. Phan Trọng Luận [9], cho rằng:“Tự học - chìa khoá vàng của giáo dục”, xem nâng cao chất lượng tự học chính là nâng cao chất lượng giáo dục. Như vậy, ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu về tự học, các nghiên cứu chủ yếu tập trung xây dựng cơ sở lý luận, xác định các biện pháp nhằm phát huy tính tích cực, tự lực, sáng tạo của HS trong quá trình học tập. Vẫn còn ít các nghiên cứu về tự học, đặc biệt là phát triển năng lực tự học cho học sinh trong dạy học môn Khoa học ở tiểu học thì chưa có công trình nào nghiên cứu.
Năng lực tự học 1. Khái niệm a) Năng lực Năng lực là thuật ngữ hiện nay đang được nhiều nhà nghiên cứu và giáo viên quan tâm. Khái niệm năng lực cũng tồn tại nhiều quan điểm khác nhau. Roegiers: "Năng lực là sự tích hợp các kỹ năng tác động một cách tự nhiên lên các nội dung trong loại tình huống cho trước để giải quyết những vấn đề do tình huống đặt ra" [18].
Phạm Minh Hạc cho rằng: "Năng lực là một tổ hợp đặc điểm tâm lý của một người, tổ hợp này vận hành theo một mục đích nhất định tạo ra kết quả của một hoạt động nào đấy" [6]. Năng lực luôn được xem xét trong mối quan hệ với hoạt động hoặc quan hệ nhất định nào đó. Theo Đặng Thành Hưng cấu trúc của năng lực gồm ba bộ phận cơ bản [7]: Tri thức về lĩnh vực hoạt động hay quan hệ đó; Kỹ năng tiến hành hoạt động hay xúc tiến, ứng xử với quan hệ nào đó; Những điều kiện tâm lý để tổ chức và thực hiện tri thức, kỹ năng trên trong một cơ cấu thống nhất và theo một định hướng rõ ràng. 8 Theo Từ điển tiếng Việt, năng lực là “phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao” [12].
Theo Từ điển Triết học, thì năng lực được hiểu theo nghĩa rộng là những đặc tính tâm lý của cá thể điều tiết hành vi của cá thể và là điều kiện cho hoạt động sống của cá thể. Năng lực chung nhất của cá thể là tính nhạy cảm, được hoàn thiện trong quá trình phát triển về mặt phát sinh loài và về mặt phát triển cá thể. Năng lực hiểu theo nghĩa đặc biệt là toàn bộ những đặc tính tâm lý của người thích hợp với một hình thức hoạt động nghề nghiệp nhất định. Sự hình thành năng lực đòi hỏi cá thể phải nắm được các hình thức hoạt động mà loài người đã tạo ra trong quá trình phát triển lịch sử xã hội.
Năng lực của con người không những do hoạt động bộ não quyết định, mà trước hết là do trình độ phát triển mà loài người đã đạt được. Theo ý nghĩa đó thì năng lực của con người gắn liền không thể tách rời với tổ chức lao động xã hội và với hệ thống giáo dục tương ứng với tổ chức đó [16]. Trong các giáo trình tâm lý học các tác giả cũng đã đưa ra khá nhiều quan niệm về năng lực. Trong đó đa số đều quan niệm năng lực là tổ hợp các thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu của một hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động có kết quả tốt.
Năng lực vừa là tiền đề vừa là kết quả của hoạt động, năng lực vừa là điều kiện cho hoạt động đạt kết quả nhưng đồng thời năng lực cũng phát triển ngay trong chính hoạt động ấy. Theo quan điểm của Tâm lý học Mác xít, năng lực của con người luôn gắn liền với hoạt động của chính họ. Như vậy, khi nói đến năng lực thì không phải là một thuộc tính tâm lý duy nhất nào đó (ví dụ như khả năng tri giác, trí nhớ.) mà là sự tổng hợp các thuộc tính tâm lý cá nhân (sự tổng hợp này không phải phép cộng của các thuộc tính mà là sự thống nhất hữu cơ, giữa các thuộc tính tâm lý này diễn ra mối quan hệ tương tác qua lại theo một hệ thống nhất định và trong đó một thuộc tính nổi lên với tư cách chủ đạo và những thuộc tính khác giữ vai trò phụ thuộc) đáp ứng được những yêu cầu hoạt động và đảm bảo hoạt động đó đạt được kết quả mong 9 muốn.