Chương 1: Cơ sở lý luận của việc quản lý đào tạo trình độ Trung cấp nghề Xây dựng Chương 2: Thực trạng công tác quản lý đào tạo trình độ Trung cấp nghề Xây dựng ở Trường Cao đẳng Xây dựng số 1 Chương 3: Phương hướng và một số biện pháp quản lý đào tạo trình độ Trung cấp nghề Xây dựng ở Trường Cao đẳng Xây dựng số 1 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC QUẢN LÝ ĐÀO TẠO TRÌNH ĐỘ TRUNG CẤP NGHỀ XÂY DỰNG 1. Tổng quan về lịch sử nghiên cứu vấn đề Ở Việt Nam, những vấn đề về đào tạo nghề, quản lý quá trình đào tạo nghề từ trước đến nay, là một đề tài có tính thời sự, luôn thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu và được quan tâm ngay từ cuối những năm 70 của thế kỷ XX. Lúc đó, một số các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp, tâm lý học lao động đã chủ động nghiên cứu những khía cạnh khác nhau về sự hình thành nghề và công tác dạy nghề với các giáo trình, đề tài như: Tác giả Nguyễn Minh Đường với “Giáo dục nghề nghiệp Việt Nam trên bước đường phát triển và hội nhập quốc tế”; Tác giả Đặng Danh Ánh với“Vấn đề và hướng đi cho giáo dục hướng nghiệp tại Việt Nam” (Kỷ yếu hội thảo Đối thoại Pháp – Á); Tác giả Nguyễn Văn Hộ với “Hoạt động hướng nghiệp và giảng dạy kỹ thuật trong trường Trung học phổ thông”, “ Thích ứng sư phạm”; Tác giả Trần Kiểm với giáo trình “Quản lý giáo dục và quản lý trường học”; Tác giả Nguyễn Bá Dương với giáo trình “ Tâm lý học cho người lãnh đạo” [9]…Ðặc biệt, hiện nay một số nhà nghiên cứu đã đi sâu nghiên cứu về quản lý giáo dục, quản lý nhà trường với các giáo trình như: Tác giả Đặng Quốc Bảo, Đặng Bá Lãm, Nguyễn Lộc với giáo trình “Đổi mới quản lý và nâng cao chất lượng giáo dục:Dành cho hiệu trưởng và cán bộ quản lý giáo dục”[3]; Tác giả Đặng Bá Lãm với giáo trình “Giáo dục Việt Nam những thập niên đầu thế kỷ XXI - Chiến lược phát triển”[27], “Quản lý nhà nước về giáo dục - Lý luận và thực tiễn”[28]; Tác giả Trần Khánh Đức với “Giáo dục kỹ thuật nghề nghiệp và phát triển nguồn nhân lực”[11], “Quản lý và kiểm định chất lượng đào tạo nhân lực”[12]; Tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc với “Văn hóa tổ chức và tổ chức biết học hỏi”[30]… 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Các đề tài về quản lý đào tạo nghề như: Năm 1999, Trường Đào tạo cán bộ công đoàn Hà Nội với đề tài: “Đánh giá thực trạng tay nghề của công nhân Hà Nội”, đề xuất các giải pháp nâng cao tay nghề cho công nhân trong các ngành trọng điểm của Hà Nội. Năm 2002 có bài viết “Đánh giá một cách khách quan nhất công tác đào tạo nghề đã đạt được những thành công nhất định” của Bộ trưởng Bộ LĐTB và XH; “Phát triển giáo dục nghề nghiệp đáp ứng quá trình đào tạo nguồn nhân lực” (2001); Đỗ Trọng Hùng(2002) “Thực hiện tốt chiến lược đào tạo nghề góp phần phát triển thị trường lao động” ; Tác giả Nguyễn Minh Đường, với “Tổ chức và quản lý quá trình đào tạo” (1996); “ Đổi mới công tác quản lý trong các trường đào tạo nghề đáp ứng sự nghiệp công ngiệp hóa, hiện đại hóa” (Kỷ yếu hội thảo của Sở LĐTB và XH Hà Nội); “ Giáo dục nghề nghiệp- những vấn đề và giải pháp” (2005) của tác giả Nguyễn Viết Sự; “Định hướng nghề nghiệp và việc làm” (2004) của Tổng cục Dạy nghề.Các đề tài đã đề cập đến chất lượng tay nghề, chất lượng công tác đào tạo nghề trong những năm qua và đề xuất những giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nghề trong thời gian tới nhằm phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Tuy nhiên, vấn đề quản lý đào tạo trình độ Trung cấp nghề nói chung và Trung cấp nghề Xây dựng nói riêng trong nhiều năm qua chưa được nghiên cứu một cách có hệ thống. Chính vì vậy công tác quản lý đào tạo trình độ trung cấp nghề Xây dựng là vấn đề cần được nghiên cứu kỹ. Vì vậy, đứng trước nhu cầu thực tế, việc nghiên cứu các biện pháp quản lý đào tạo trình độ Trung cấp nghề Xây dựng ở Trường Cao đẳng Xây dựng số 1 có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực góp phần thực hiện thành công các mục tiêu phát triển kinh tế. Cơ sở lý luận về quản lý, quản lý giáo dục - đào tạo 1.
Khái niệm về quản lý Quản lý là một hiện tượng xã hội xuất hiện rất sớm, hình thành cùng với sự xuất hiện của xã hội loài người. Nó là một phạm trù tồn tại khách quan 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com được ra đời từ bản thân nhu cầu của mọi chế độ xã hội, mọi quốc gia và ở mọi thời đại. Lịch sử đã chỉ rõ, ngay từ buổi sơ khai của loài người, để tồn tại và phát triển, con người đã biết liên kết nhau thành các nhóm để chống lại thú dữ và thiên nhiên. Do đó đã xuất hiện các mối quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với thiên nhiên, giữa con người với xã hội và giữa con người với bản thân mình.
Khi xã hội loài người phát triển qua các phương thức sản xuất khác nhau thì trình độ tổ chức và điều hành xã hội ngày càng được nâng cao. Trong quá trình ấy đã xuất hiện một số người có năng lực chi phối được người khác, họ điều khiển hoạt động của nhóm sao cho phù hợp với mục tiêu chung. Những người đó đóng vai trò thủ lĩnh để quản lý nhóm, điều này đã làm nẩy sinh nhu cầu về quản lý. Sự phát triển của xã hội dựa vào nhiều yếu tố, trong đó có 3 yếu tố cơ bản: Tri thức, sức lao động và trình độ quản lý.
Mọi hoạt động xã hội đều cần đến hoạt động quản lý và hoạt động quản lý cũng chính do con người tiến hành. Người quản lý và đối tượng được quản lý, sự cần thiết của quản lý được C.Mác viết: “Tất cả mọi lao động trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung, phát sinh từ vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những cơ quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm riêng lẻ tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng”. “Quản lý” là từ Hán Việt được ghép giữa từ “Quản” và từ “Lý”.
“Quản” là sự trông coi, chăm sóc, giữ gìn, duy trì ở trạng thái ổn định. “Lý” là sự sửa sang, sắp xếp, làm cho nó đổi mới phát triển. Như vậy, “Quản lý” là trông coi, chăm sóc, sửa sang làm cho nó ổn định và phát triển. Hệ thống ổn định mà không phát triển thì tất yếu sẽ dẫn đến suy thoái.
Hệ phát triển mà không ổn định thì tất yếu sẽ rối loạn. Điều đó có nghĩa là hoạt động quản lý nhằm làm cho hệ thống vận động theo mục tiêu đặt ra và 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tiến tới trạng thái có tính chất lượng mới. Quản lý tạo ra sự ổn định cho sự phát triển. Xã hội muốn phát triển phải chú trọng quản lý để đảm bảo cho sự phát triển vững chắc và đúng quy luật.
Khái niệm quản lý được nhiều tác giả trong và ngoài nước quan niệm theo các cách tiếp cận khác nhau. Ở ngoài nước, có một số tác giả định nghĩa khái niệm như sau: Fredrick Winslow Taylor (1856-1915) thì khẳng định: “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất” [35, tr 89 ]. Theo Harold Koontz, Cyri O’donnell và Heinz Weihrich thì “Quản lý là một hoạt động thiết yếu bảo đảm sự hoạt động nỗ lực của các cá nhân nhằm đạt được các mục tiêu của tổ chức” [25, tr 33]. Robins và Wayned Morrison lại cho rằng:“Quản lý là một nghề nhưng cũng là một nghệ thuật, một khoa học” [40, tr 19 ].
Ở Việt Nam, có một số khái niệm quản lý như sau: Trong giáo trình quản lý hành chính Nhà nước của Học viện Hành chính Quốc gia chỉ rõ: “ Quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để chúng phát triển phù hợp với quy luật, đạt tới mục đích đã đề ra và đúng ý chí của người quản lý” [19]. Các tác giả Đặng Vũ Hoạt và Hà Thế Ngữ thì quan niệm rằng: “Quản lý là một quá trình có định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý là một hệ thống là quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định. Những mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà người quản lý mong muốn” [32, tr. Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: Bản chất của hoạt động quản lý nhằm làm cho hệ thống vận hành theo mục tiêu đặt ra và tiến đến các trạng thái có tính chất lượng mới.
10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo tác giả Trần Kiểm: “Quản lý một hệ thống xã hội là tác động có mục đích đến tập thể người-thành viên của hệ-nhằm làm cho hệ vận hành thuận lợi và đạt tới mục đích dự kiến” [23]. Tóm lại: Các quan niệm trên đây, tuy mỗi quan niệm nhấn mạnh mặt này hay mặt khác nhưng đều có điểm chung thống nhất xác định: Quản lý là hoạt động có tổ chức, có mục đích nhằm đạt tới mục tiêu xác định. Hay nói một cách khái quát nhất: Quản lý là một quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm đạt được các mục tiêu của tổ chức đã đề ra. Khái niệm quản lý bao hàm một ý nghĩa chung là: - Quản lý là một thuộc tính bất biến nội tại của mọi quá trình lao động xã hội.
Lao động quản lý là điều kiện quan trọng để làm cho xã hội loài người tồn tại, vận hành và phát triển. - Yếu tố con người giữ vai trò trung tâm của hoạt động quản lý. - Quản lý là những tác động có tính hướng đích. - Hoạt động quản lý được tiến hành trong một tổ chức hay một nhóm xã hội.