Chương 1: Tổng quan về các quan về các biện pháp phòng vệ thương mại Chương 2: Thực trạng áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam Chương 3: Khuyến nghị chính sách về các biện pháp phòng vệ thương mại cho Việt Nam 5 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG VỆ THƢƠNG MẠI 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ BIỆN PHÁP PHÒNG VỆ THƢƠNG MẠI 1. Khái niệm về các biện pháp phòng vệ thƣơng mại Trong báo cáo World Trade Report 2009 của WTO, các biện pháp phòng vệ thƣơng mại đƣợc đề cập dƣới nhiều tên gọi: “escape clause”, “contingency measures”, “trade remedies”, “safe valves”,… Còn hiểu dựa trên quy định của Cục quản lý cạnh tranh (Bộ Công Thƣơng Việt Nam), các biện pháp phòng vệ trong thƣơng mại quốc tế đƣợc đề cập có thể hiểu theo hai nghĩa: nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Cụ thể: Theo nghĩa rộng, các biện pháp phòng vệ bao gồm các biện pháp mà một nƣớc sử dụng nhằm bảo hộ cho các nhà sản xuất hay hàng hóa của nƣớc đó trƣớc sự cạnh tranh của hàng hóa nƣớc ngoài.
Các biện pháp phòng vệ hiểu theo nghĩa trên là rất rộng, đƣợc áp dụng trong nhiều trƣờng hợp khác nhau và chịu sự giám sát của các Hiệp định đa biên của WTO, chẳng hạn các biện pháp kiểm dịch thực vật, các biện pháp trợ cấp, chống bán phá giá,.Cần lƣu ý là các Hiệp định đa biên tƣơng ứng chịu trách nhiệm giám sát việc thực thi các biện pháp trong những điều kiện chặt chẽ chứ không nhằm mục đích tạo điều kiện cho các nƣớc thành viên sử dụng thƣờng xuyên các biện pháp bảo hộ trên nhằm cản trở tự do hóa thƣơng mại. Theo nghĩa hẹp, các biện pháp phòng vệ là các biện pháp thƣơng mại khẩn cấp do một nƣớc áp dụng tạm thời để giúp làm giảm nhẹ gánh nặng cho ngành công nghiệp nội địa của mình khi ngành này bị tổn hại do hàng nhập khẩu gia tăng. Trong những điều kiện nhất định, một nƣớc có thể áp dụng những biện pháp thƣơng mại nhằm hạn chế số lƣợng nhập khẩu của một sản phẩm nào đó để bảo vệ ngành sản xuất nội địa đó của mình. Đôi khi ngƣời ta còn gọi đó là "Điều khoản giải thoát" bởi nó giúp một nƣớc "thoát khỏi" nghĩa vụ của mình trong những trƣờng hợp đặc biệt.
Theo cách hiểu này, khi tiến hành mở cửa thị trƣờng và thực thi chính sách tự do hóa thƣơng mại, ngành sản xuất trong nƣớc có thể gặp khó khăn nghiêm trọng do gặp phải sự cạnh tranh của hàng hóa nƣớc ngoài. Do vậy, ngành sản xuất đó có thể yêu cầu cơ quan có thẩm quyền của nƣớc mình về khả năng áp dụng các biện pháp phòng vệ để ngành này có thể thích nghi đƣợc với sự cạnh tranh. Đặc điểm các biện pháp phòng vệ thƣơng mại Một là, mặc dù việc sử dụng các biện pháp phòng vệ thƣơng mại đƣợc WTO cho phép các nƣớc nhập khẩu sử dụng để chống lại hành vi cạnh tranh không lành mạnh từ các nƣớc xuất khẩu. Tuy nhiên, cần phải phân biệt rõ, không phải WTO áp dụng hình thức này mà là bản thân các nƣớc nhập khẩu.
Hai là, các biện pháp phòng vệ thƣơng mại không hề mẫu thuẫn với xu hƣớng tự do hóa thƣơng mại. Vì mục tiêu chính của phòng vệ thƣơng mại quy định trong WTO là để kiểm soát các tình huống không lƣờng trƣớc đƣợc, tạo điều kiện cho các ngành công nghiệp nội địa có thời gian thích nghi và cạnh tranh lành mạnh với các mặt hàng nhập khẩu. Ba là, phòng vệ thƣơng mại nằm trong các biện pháp phi thuế quan. Tuy nhiên, nó lại có những điểm khác biệt cơ bản với công cụ phi thuế quan.
Các biện pháp phòng vệ thƣơng mại đƣợc áp dụng một cách có điều kiện, khi và chỉ khi, tồn tại và chứng minh đƣợc sự tồn tại của hành vi cạnh tranh không lành mạnh (bán phá giá và trợ cấp) hoặc tình huống đặc biệt nghiêm trọng (Tự vệ). Nếu những điều kiện trên không xảy ra thì pháp luật về phòng vệ thƣơng mại vẫn tồn tại nhƣng không còn ý nghĩa thực tế. Điều này đƣợc phản ánh trong chính tên gọi của biện pháp phòng vệ thƣơng mại “contingency measures”. Bốn là, các biện pháp phòng vệ thƣơng mại mới chỉ đƣợc áp dụng trong lĩnh vực thƣơng mại hàng hóa, chƣa đƣợc áp dụng trong lĩnh vực cho thƣơng mại dịch vụ, đầu tƣ và sở hữu trí tuệ.
Nguyên nhân là do chỉ có Hiệp định GATT đƣa ra các quy định về phòng vệ thƣơng mại. Hiệp định GATS và các Hiệp định khác của WTO chƣa đề cập đến vấn đề này. Năm là, các biện pháp phòng vệ chỉ mang tính chất nhất thời và từng bƣớc. Đây cũng là một quy định mang tính chất nhân nhƣợng và ƣu đãi dành cho các nƣớc đang phát triển, các nƣớc đang trong thời kỳ chuyển tiếp mà nền công nghiệp của họ chƣa sẵn sàng và cũng chƣa đủ sức đƣơng đầu với cạnh tranh quốc tế.
Theo đó, một khoảng thời gian hợp lý sẽ dành cho họ để họ tháo gỡ những khó khăn trƣớc mắt, tìm ra đối sách lâu dài để nâng cao sức hấp dẫn của sản phẩm họ làm ra, thúc đẩy cạnh tranh với hàng nhập khẩu thông qua những biện pháp thích hợp thu hút sự lựa chọn của ngƣời 7 tiêu dùng đối với hàng nội địa, thông qua chiến lƣợc tự điều chỉnh lại cơ cấu sản xuất, nâng cao trình độ sản xuất, cải tiến quy trình công nghệ để có thể thích ứng đƣợc với sự thay đổi trên. Trong thời hạn áp dụng sẽ đƣợc giảm nhẹ và dần tiến tới xóa bỏ. Mặt khác, những quy tắc của GATT cũng thừa nhận rằng Chính phủ của các nƣớc đang phát triển, trong khi theo đuổi những chƣơng trình và chính sách phát triển kinh tế có thẻ thấy cần hỗ trợ cho những ngành sản xuất mới hoặc cho sự phát triển hơn nữa những ngành sản xuất hiện có đƣợc quyền áp dụng các biện pháp phòng vệ. Các quy tắc về phòng vệ cho mục đích này thƣờng chƣa đựng những điều kiện nghiêm ngặt hơn so với mục đích trên.
Vai trò các biện pháp phòng vệ thƣơng mại Trong thƣơng mại quốc tế, các biện pháp phòng vệ thƣơng mại vẫn mang lại những vai trò to lớn trong hoạt động xuất nhập khẩu của mỗi quốc gia nhƣ: Thứ nhất, các biện pháp phòng vệ thương mại đều được áp dụng nhằm bảo vệ ngành sản xuất hàng hóa tương tự hoặc cạnh tranh trực tiếp trên thị trường nội địa nước nhập khẩu khỏi các đối thủ cạnh tranh nước ngoài. Nó là một phần trong chính sách thƣơng mại của các quốc gia. Tùy vào từng trƣờng hợp, các nƣớc có thể áp dụng các biện pháp dƣới dạng chống trợ cấp, chống bán phá giá hay tự vệ. Trong khi các biện pháp chống bán phá giá và chống trợ cấp đƣợc sử dụng nhằm hạn chế hành vi cạnh tranh không lành mạnh thì các biện pháp tự vệ lại đƣợc sử dụng nhằm giúp các ngành sản xuất nội địa thêm thời gian để điều chỉnh tăng cƣờng tự do hóa thƣơng mại.
Thứ hai, Các biện pháp tự vệ nhằm giảm nhẹ hay trợ giúp khắc phục thiệt hại gây ra do việc nhập khẩu hàng hóa vào thị trường nội địa tăng một cách bất thường, không thể lường trước. Khi thực hiện các cam kết về tự do hóa thƣơng mại, các nƣớc phải chấp nhận từ bỏ sự bảo hộ của mình đối với các mặt hàng sản xuất trong nƣớc và chấp nhận rằng hàng hóa nhập khẩu từ nƣớc ngoài vào sẽ đƣợc hƣởng các lợi ích tƣơng tự và bình đẳng nhƣ hàng hóa trong nƣớc theo nguyên tắc đối xử quốc gia. Tuy nhiên, trong các quy định của WTO, còn có những ngoại lệ nhất định nhằm đảm bảo quyền lợi của các thành viên trong những trƣờng hợp khẩn cấp nhƣ cho phép các bên tham gia ký kết sử 8 dụng các biện pháp tự vệ trong một khoảng thời gian hạn chế nhất định, không nhằm mục dích bảo hộ lâu dài cho sản xuất nội địa mà chỉ để khắc phục hay giảm nhẹ những thiệt hại cho các doanh nghiệp trong nƣớc trƣớc tình huống bất thƣờng từ việc hàng hóa nƣớc ngoài nhập khẩu không hạn chế về số lƣợng vào thị trƣờng nội địa của họ. Các biện pháp phòng vệ sẽ chấm dứt khi mối nguy hiểm trong tình huống đặc biệt không còn nữa.
Thứ ba, các biện pháp phòng vệ góp phần tăng cường, khuyến khích tính cạnh tranh thông qua việc điều chỉnh cơ cấu sản xuất chứ không phải vì mục đích ưu đãi, bảo hộ ngành sản xuất trong nước hay hạn chế sự cạnh tranh của hàng hóa nước ngoài vào thị trường nội địa. Đây là một quy định mang tính chất nhân nhƣợng và ƣu đãi dành cho các nƣớc đang phát triển, các nƣớc đang trong thời kỳ chuyển tiếp mà nền công nghiệp của họ chƣa sẵn sàng và cũng chƣa đủ sức đƣơng đầu với cạnh tranh quốc tế. Theo đó, một khoảng thời gian hợp lý sẽ dành cho họ để họ tháo gỡ những khó khăn trƣớc mắt, tìm ra đối sách lâu dài để nâng cao sức hấp dẫn của sản phẩm họ làm ra, thúc đẩy cạnh tranh với hàng nhập khẩu thông qua những biện pháp thích hợp thu hút sự lựa chọn của ngƣời tiêu dùng đối với hàng nội địa, thông qua chiến lƣợc tự điều chỉnh lại cơ cấu sản xuất, nâng cao trình độ sản xuất, cải tiến quy trình công nghệ để có thể thích ứng đƣợc với sự thay đổi trên. Do vậy, các biện pháp phòng vệ chỉ mang tính chất nhất thời và từng bƣớc.
Trong thời hạn áp dụng sẽ đƣợc giảm nhẹ và dần tiến tới xóa bỏ. Mặt khác, những quy tắc của GATT cũng thừa nhận rằng Chính phủ của các nƣớc đang phát triển, trong khi theo đuổi những chƣơng trình và chính sách phát triển kinh tế có thẻ thấy cần hỗ trợ cho những ngành sản xuất mới hoặc cho sự phát triển hơn nữa những ngành sản xuất hiện có đƣợc quyền áp dụng các biện pháp phòng vệ. Các quy tắc về phòng vệ cho mục đích này thƣờng chƣa đựng những điều kiện nghiêm ngặt hơn so với mục đích trên. Với việc đƣợc công nhận và hợp thức hóa trong các Hiệp định của WTO, các biện pháp phòng vệ đang ngày càng đƣợc áp dụng một cách có hiệu quả và là một “van an toàn” của các quốc gia thành viên sử dụng để tạo ra một sân chơi thƣơng mại bình đẳng, cạnh tranh lành mạnh, có tác dụng tích cực trong việc khuyến khích tự do 9 hóa thƣơng mại phát triển và góp phần thúc đẩ xây dựng bề kinh tế quốc tế phát triển ổn định, lành mạnh hơn.