Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về phát triển kinh tế, phát triển bền vững, phát triển kinh tế cấp xã - Chương 2: Thực trạng phát triển kinh tế xã Việt Hải giai đoạn 2011- 2015 - Chương 3: Một số biện pháp phát triển kinh tế bền vững xã Việt Hải giai đoạn 2016- 2020, định hướng 2030 4 CHƢƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ, PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG, PHÁT TRIỂN KINH TẾ CẤP XÃ 1. Phát triển kinh tế Phát triển kinh tế là sự tăng lên về quy mô, sản lượng sản phẩm hàng hóa và dịch vụ đầu ra trong một thời gian tương đối dài. Là một quá trình thay đổi theo hướng hoàn thiện về mọi mặt của nền kinh tế bao gồm kinh tế, xã hội, môi trường và thể chế trong một thời gian nhất định.
Thay đổi theo hướng hoàn thiện là cần nhắm tới các mục tiêu cơ bản sau: Duy trì tăng trưởng kinh tế ổn định trong thời gian dài, thay đồi cơ bản cơ cấu kinh tế, cải thiện cuộc sống của đại bộ phận dân cư, đảm bảo gìn giữ và bảo vệ môi trường sinh thái tự nhiên. Phát triển kinh tế là khái niệm có nội dung phản ánh rộng hơn so với khái niệm tăng trưởng kinh tế. Nếu như tăng trưởng kinh tế về cơ bản chỉ là sự gia tăng thuần tuý về mặt lượng của các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp: GNP, GNP/đầu người hay GDP, GDP/đầu người… thì phát triển kinh tế ngoài việc bao hàm quá trình gia tăng đó, còn có một nội hàm phản ánh rộng lớn hơn, sâu sắc hơn, đó là những biến đổi về mặt chất của nền kinh tế – xã hội, mà trước hết là sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH và kèm theo đó là việc không ngừng nâng cao mức sống toàn dân, trình độ phát triển văn minh xã hội thể hiện ở hàng loạt tiêu chí như: thu nhập thực tế, tuổi thọ trung bình, tỷ lệ chết của trẻ sơ sinh, trình độ dân trí, bảo vệ môi trường, và khả năng áp dụng các thành tựu khoa học – kỹ thuật vào phát triển kinh tế – xã hội… 1. Khái niệm phát triển bền vững Phát triển bền vững là một khái niệm mới nhằm định nghĩa một sự phát triển về mọi mặt trong xã hội hiện tại mà vẫn phải bảo đảm sự tiếp tục phát triển trong tương lai xa.
(Báo cáo Bruntland (1987)) Khái niệm “phát triển bền vững” xuất hiện trong phong trào bảo vệ môi trường từ những năm đầu của thập niên 70 của thế kỷ 20. Năm 1987, “phát 5 triển bền vững” được định nghĩa “là sự phát triển đáp ứng được những yêu cầu của hiện tại, nhưng không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau” (Báo cáo “Tương lai chung của chúng ta” của Hội đồng Thế giới về Môi trường và Phát triển (WCED) của Liên hợp quốc). Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất về Môi trường và phát triển tổ chức ở Rio de Janeiro (Braxin) năm 1992 và Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về Phát triển bền vững tổ chức ở Johannesburg (Cộng hoà Nam Phi) năm 2002 đã xác định “phát triển bền vững” là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hoà giữa 3 mặt của sự phát triển, gồm: phát triển kinh tế (nền tảng là tăng trưởng kinh tế), phát triển xã hội (mục tiêu là thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội; xoá đói giảm nghèo và giải quyết việc làm) và bảo vệ môi trường (mục tiêu là xử lý, khắc phục ô nhiễm, phục hồi và cải thiện chất lượng môi trường; phòng chống cháy và chặt phá rừng; khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên). Tiêu chí để đánh giá sự phát triển bền vững là sự tăng trưởng kinh tế ổn định; thực hiện tốt tiến bộ và công bằng xã hội; khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ và nâng cao được chất lượng môi trường sống.
Phát triển bền vững là nhu cầu cấp bách và xu thế tất yếu trong tiến trình phát triển của xã hội loài người, vì vậy đã được các quốc gia trên thế giới đồng thuận xây dựng thành Chương trình nghị sự cho từng thời kỳ phát triển của lịch sử. Tại Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất về Môi trường và phát triển được tổ chức năm 1992 ở Rio de Janeiro (Braxin), 179 nước tham gia Hội nghị đã thông qua Tuyên bố Rio de Janeiro về môi trường và phát triển bao gồm 27 nguyên tắc cơ bản và Chương trình nghị sự 21 (Agenda 21) về các giải pháp phát triển bền vững chung cho toàn thế giới trong thế kỷ 21. Hội nghị khuyến nghị từng nước căn cứ vào điều kiện và đặc điểm cụ thể để xây dựng Chương trình nghị sự 21 ở cấp quốc gia, cấp ngành và địa phương. Mười năm sau, tại Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về Phát triển bền vững tổ chức năm 2002 ở Johannesburg (Cộng hoà Nam Phi), 166 nước tham gia Hội nghị 6 đã thông qua Bản Tuyên bố Johannesburg và Bản Kế hoạch thực hiện về phát triển bền vững.
Hội nghị đã khẳng định lại các nguyên tắc đã đề ra trước đây và tiếp tục cam kết thực hiện đầy đủ Chương trình nghị sự 21 về phát triển bền vững. Từ sau Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất về Môi trường và phát triển được tổ chức tại Rio de Janeiro (Braxin) năm 1992 đến nay đã có 113 nước trên thế giới xây dựng và thực hiện Chương trình nghị sự 21 về phát triển bền vững cấp quốc gia và 6.416 Chương trình nghị sự 21 cấp địa phương, đồng thời tại các nước này đều đã thành lập các cơ quan độc lập để triển khai thực hiện chương trình này. Các nước trong khu vực như Trung Quốc, Việt Nam Thái Lan, Singapore, Malaysia…đều đã xây dựng và thực hiện Chương trình nghị sự 21 về phát triển bền vững. Việc phát triển kinh tế có nhiều ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển đối với môi trường và cấu trúc xã hội.
Nhiều xã hội truyền thống bị tàn phá bởi việc khai thác quá mức nguồn lâm sản, thủy sản và nước. Các khu vực đô thị phải chịu sự ô nhiễm nặng nề, thậm chí không có đủ nguồn nước sạch, hệ thống thoát nước thải, giao thông… Sự hủy hoại môi trường, nếu không được kiểm soát, có thể phá hoại các thành tựu của phát triển và thậm chí gây đổ vỡ hệ sinh thái (Haris,2000) Phần lớn các định nghĩa về phát triển bền vững hiện nay được phát biểu dưới dạng tổng quát và định tính, và bao gồm các vấn đề như tăng trưởng kinh tế, phân phối tài sản công bằng trong một thế hệ và giữa các thế hệ (Repetto, 1985; WCED, 1987; Catton, 1987); cung ứng các nguồn lực ( pearce, 1988); Chất lượng môi trường ( Braat & Steetskamp, 1991); quỹ đạo đồng tiến triển kinh tế, môi sinh, công nhận rằng phát triển bền vững có nguồn gốc tự nhiên cũng như cấu trúc kinh tế-xã hội ( O’Riodan, 1988; Goodlan et al, 1992), tập trung vào câu hỏi về sự bình đẳng và Thế giới thứ ba ( Redclift, 1987). Các mục tiêu bao hàm trong các định nghĩa thường là sự tồn tại ( Daly, 1974), thỏa mãn các nhu cầu (WCED, 1987; Constanza, 1989), chính sách về bình đẵng 7 (Repetto, 1985; O’Tiordan, 1988) và thay đổi các giá trị (O’Riordan, 1988; Gooddlan et al., 1992) Theo Repetto (1985), phát triển bền vững như một mục tiêu bác bỏ các chính sách và hành động cổ vũ cho mức sống hiện tại bằng cách làm cạn kiệt các điều kiện sản xuất, bao gồm các nguồn lực tự nhiên. Nói cách khác các quyết sách hiện tại không được làm tổn hại đến triển vọng duy trì và cảu thiện mức sống trong tương lai.
Còn rất nhiều cách tiếp cận khác nhau về khái niệm phát triển bền vững, song định nghĩa được thừa nhận rộng rãi nhất và cũng được trích dẫn nhiều nhất là của ủy ban thế giới về môi trường và phát triển ( WCED) (1987): Phát triển bền vững là sự phát triển nhằm thỏa mãn được các nhu cầu của hiện tại nhưng không làm tổn hại đến khả năng của các thế hệ tương lai trong việc thỏa mãn các nhu cầu của họ. ĐỊnh nghĩa này bao hàm 03 nội dung quan trọng: - Vấn đề “ nhu cầu”, đặc biệt các nhu cầu cơ bản của người nghèo cần phải được ưu tiên hàng đầu. - Ý tưởng về sự giới hạn do tình trạng công nghệ và tổ chức xã hội áp đặt lên khả năng của môi trường trong việc thỏa mãn nhu cầu hiện tại và tương lai. - Sự “ Công bằng” trong một thế hệ và giữa các thế hệ.
Về phía Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta từ nhiều năm qua đã luôn nhận thức sâu sắc về tầm quan trọng của sự phát triển bền vững không chỉ riêng với Việt Nam mà còn có liên đới trách nhiệm với sự phát triển bền vững chung của toàn cầu. Chính phủ ta đã cử nhiều đoàn cấp cao tham gia các Hội nghị nói trên và cam kết thực hiện phát triển bền vững; đã ban hành và tích cực thực hiện “Kế hoạch quốc gia về Môi trường và Phát triển bền vững giai đoạn 1991-2000” (Quyết định số 187-CT ngày 12 tháng 6 năm 1991), tạo tiền đề cho quá trình phát triển bền vững ở Việt Nam. Quan điểm phát triển bền vững đã được khẳng định trong Chỉ thị số 36-CT/TW ngày 25 tháng 6 năm 1998 8 của Bộ Chính trị về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước, trong đó nhấn mạnh: “Bảo vệ môi trường là một nội dung cơ bản không thể tách rời trong đường lối, chủ trương và kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của tất cả các cấp, các ngành, là cơ sở quan trọng bảo đảm phát triển bền vững, thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH”. Quan điểm phát triển bền vững đã được tái khẳng định trong các văn kiện của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (2001) của Đảng Cộng sản Việt Nam và trong Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2001-2010 là: “Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường” và “Phát triển kinh tế – xã hội gắn chặt với bảo vệ và cải thiện môi trường, bảo đảm sự hài hoà giữa môi trường nhân tạo với môi trường thiên nhiên, giữ gìn đa dạng sinh học”.